Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NÂNG CAO VỊ THẾ, NĂNG LỰC CHO PHỤ NỮ NƯỚC TA

NGỌC HỒ

1-Mục tiêu của sự phát triển

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Nói phụ nữ là nói nửa phần xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa. Giải phóng phụ nữ, nâng cao năng lực và thừa nhận vị thế, vai trò của người phụ nữ, trong xã hội là một mục tiêu quan trọng, một cuộc đấu tranh vô cùng cam go, quyết liệt và dai dẳng diễn ra trong mỗi con người, trong từng gia đình và toàn xã hội. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc vai trò và vị thế của phụ nữ trong sự phát triển chung của quốc gia, dân tộc. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ; tạo điều kiện cho phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Bình đẳng giới trở thành mục tiêu của sự phát triển đồng thời cũng trở thành vấn đề trung tâm của phát triển, và là một trong những mục tiêu tăng trưởng của Quốc gia, xoá đói giảm nghèo và quản lý Nhà nước có hiệu quả.

Nghị quyết 04 ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng về Đổi mới tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, đã nhấn mạnh : "Giải phóng phụ nữ là mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới", đồng thời Nghị quyết còn đề xuất nhiệm vụ mang tính chiến lược là xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và tạo điều kiện để để phụ nữ phấn đấu, trưởng thành; tăng cường tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các lĩnh vực quản lý kinh tế-văn hoá-xã hội…, chống phân biệt đối xử khắt khe trong đánh giá, sử dụng đề bạt cán bộ nữ. Tạo điều kiện cho phụ nữ tiến bộ chính là thực hiện quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Đây là một vấn đề thuộc về quyền con người và chính là điều kiện để có được công bằng trong xã hội.

Thực hiện tinh thần đó, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.Tại Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc Kinh Trung Quốc năm 1995, Chính phủ Việt Nam đã có chương trình hành động cụ thể thực hiện mục tiêu "hành động vì bình đẳng, phát triển hoà bình" của Hội nghị. Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, đã được cụ thể hoá ở mục tiêu tổng quát: "cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện được chức năng của mình và được tham gia đầy đủ, bình đẳng vào tất cả các lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh". Tháng 9-2000, có 189 vị Nguyên thủ Quốc gia tham dự Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc tại NewYork đã ký bản Tuyên bố Thiên niên kỷ, trong đó khẳng định cam kết của các quốc gia và cộng đồng Quốc tế về việc đạt các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015. Về cơ bản, các Mục tiêu thiên niên kỷ phản ánh những cam kết mà Việt Nam và các nước khác đã nhất trí đưa ra tại nhiều Hội nghị thượng đỉnh thế giới và Hội nghị toàn cầu của Liên Hợp Quốc trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Chủ tịch Trần Đức Lương đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ. Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đặc biệt chú trọng vào 8 mục tiêu cơ bản, trong đó, Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ được đặc biệt coi trọng và cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu:" Đảm bảo cho trẻ em, trai cũng như gái, ở khắp mọi nơi hoàn thành đầy đủ chương trình giáo dục tiểu học vào năm 2015"; "Phấn đấu xoá bỏ chênh lệch giữa nam và nữ ở bậc tiểu học và trung học vào năm 2005 và ở tất cả các cấp học chậm nhất vào năm 2015 trong việc phát triển giới quan tâm đặc biệt đến vấn đề tăng cường bình đẳng. Lấy trọng tâm phổ cập giáo dục làm nền tảng quan trọng để tiến tới hoàn thiện mục tiêu về giới.

Trên cơ sở các mục tiêu chung của thế giới, Việt Nam đã cụ thể hoá mục tiêu về bình đẳng giới và nâng cao năng lực của phụ nữ trên những chỉ tiêu sau: Xoá bỏ chênh lệch giới ở bậc tiểu học và trung học tốt nhất vào năm 2005 và ở tất cả các cấp học không muộn hơn năm 2015. Đảm bảo bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ : "Tăng số đại biểu phụ nữ trong các cơ quan dân cử các cấp. Tăng thêm 3-5% số phụ nữ tham gia trong các cơ quan và các ngành ( kể cả các bộ, cơ quan trung ương và các doanh nghiệp) ở tất cả các cấp trong 10 năm tới. Thực hiện quy định ghi tên của cả chồng và vợ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005. Giảm mức độ dễ bị tổn thương của phụ nữ trước các hành vi bạo lực trong gia đình. Tăng cường sức khoẻ bà mẹ: Giảm tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ xuống còn 80/100 000 vào năm 2005 và còn 70/10 000 vào năm 2010 trong đó đặc biệt chú ý tới các vùng khó khăn. Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ 2001-2010 và kế hoạch Hành động 2001-2005 đi kèm đã đặt mục tiêu bình đẳng giới và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ trong các lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Đồng thời nó còn đưa ra các hướng dẫn cho việc thực hiện khuôn khổ thể chế tạo điều kiện đạt được cho sự bình đẳng giới. Phấn đấu tăng số đại biểu nữ lên tới 30% trong Quốc hội, 28% cho nhiệm kỳ tiếp theo của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và 50% trong cơ quan Nhà nước vào năm 2010. Ngoài ra, mục tiêu lâu dài nhằm đảm bảo giấy chứng nhận sử dụng đất có ghi cả tên người chồng và người vợ (theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2000), và giảm tình trạng dễ bị tổn thương của phụ nữ trước tình trạng bạo hành trong gia đình cũng đã được đưa vào thành các mục tiêu phát triển trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng xoá đói, giảm nghèo mới.

2-Một số kết quả cụ thể trong tiến trình thực hiện.

Giới và giáo dục: Trên thực tế bình đẳng giới trong giáo dục ở nước đã đạt được nhiều kết quả khả quan song vẫn có khoảng cách về giới ở bậc trung học, nhất là trong số trẻ em dân tộc thiểu số và trong nhóm dân nghèo nhất. Tỷ lệ nữ giới từ 10 tuổi trở lên trong cả nước biết đọc, biết viết đạt 88%. Sau khi cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ nữ ở cấp trung và ở bậc đại học đã tăng dần. Tỷ lệ phụ nữ biết chữ so với nam giới ở cùng độ tuổi (15-24 tuổi) vẫn giữ mức ổn định, trong khi các tỷ lệ biết chữ chung đã tăng lên, đây là những chỉ số quan trọng góp phần duy trì sự cân bằng về giới ở nước ta.

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nhiều phụ nữ nước ta đã đạt được nhiều thành tích to lớn trở thành đại diện xứng đáng cho phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Đã có 19 chị đạt danh hiệu nữ Anh hùng lao động, 250 chị đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 5/10 gương mặt nữ được bình chọn là vận động viên xuất sắc … Sau 15 năm giải thưởng Kô-va-lép-xcai-a đã có 17 cá nhân và 23 tập thể nữ được nhận giải thưởng này. Năm 2003 Giải thưởng phụ nữ Việt Nam lần thứ nhất (20-10-2003) đã được trao cho 2 tập thể và 3 cá nhân phụ nữ xuất sắc.

Trên trường quốc tế, phụ nữ Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động mang tính hợp tác cao, tham gia nhiều tổ chức Quốc tế và đạt được nhiều thành quả trong các phong trào chung vì một thế giới hoà bình và phát triển được bạn bè quốc tế đánh giá cao và khẳng định phụ nữ Việt Nam đã và đang được nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi, môi trường pháp lý cao và có những bước tiến bộ đáng ghi nhận.

Phụ nữ tham gia trong các cơ quan có thẩm quyền quyết định và cơ quan đại diện chính trị: Việt Nam có tỷ lệ đại biểu nữ tương đối cao trong các cơ quan lập pháp quốc gia. Hiện nay có 27,31% số đại biểu Quốc hội (2002-2006) là phụ nữ ( đây là tỷ lệ cao thứ 2 trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, (sau Niu-Di-lân) và đứng thứ 9/135 nước trên thế giới về tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội… Chị em đã được trực tiếp tham gia xây dựng những văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước, liên quan đến phụ nữ và trẻ em, góp phần đảm bảo cho quyền và lợi ích của phụ nữ. Tỷ lệ nữ là Đảng viên cũng tăng dần, năm 1997: 17,33%, năm 2000 có 19,29%. Địa vị kinh tế-xã hội của phụ nữ ngày càng bình đẳng với nam giới trong quyền quyết định các công việc quan trọng của gia đình. Điều đó khẳng định sự tiến bộ của phụ nữ về nhiều mặt học vấn, năng lực…

Trong khi tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan lập pháp cao thì tỷ lệ này ở cơ quan hành pháp lại thấp. Chỉ có 30 thành viên nội các Chính phủ là phụ nữ, ở cấp tỉnh phụ nữ chỉ chiếm 6, 4% trong Uỷ ban nhân dân tỉnh, các cấp chính quyền dưới tỷ lệ này còn ít hơn.

Trong các Ủy ban của Quốc hội và trong Chính phủ, phụ nữ thường đảm nhận các công việc mang tính xã hội và thường "nhẹ hơn"; trong khi đó nam giới lãnh đạo các Bộ có thẩm quyền đưa ra những quyết định quan trọng và chiến lược. Nhìn chung tỷ lệ phụ nữ nắm cương vị lãnh đạo trong Chính phủ Trung ương còn thấp, chỉ có 11% trong số các Bộ trưởng, 7% trong số các Thứ trưởng, 12% trong số các Giám đốc, 13% trong số các phó giám đốc. Trên thực tế, ở cấp tỉnh số phụ nữ được bầu vào Hội đồng nhân dân tỉnh trong nhiệm kỳ 1999-2004 chênh lệch nhau đáng kể giữa các tỉnh. Trong đó cao nhất là tỉnh Tuyên Quang có 33,3 % đại biểu hội đồng nhân dân là nữ; các tỉnh Đồng Nai 32,4%, Sơn La: 31,3% Lào Cai: 30,4%… Thấp nhất là tỉnh Khánh Hoà: 6,5%, Trà Vinh: 6,7%, Thừa Thiên – Huế:10,9%, Hải Phòng:12,7%, Vĩnh Phúc: 12,8% Phú Yên: 13,3%…

Tiếp cận của phụ nữ với đất đai và tín dụng: Nhà nước đã có những thiết chế và chính sách cụ thể để tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận với đất đai và tín dụng một cách bình đẳng với nam giới. Song hiện tại mới có 2,3% số hộ gia đình trong cả nước có tên của 2 vợ chồng trong giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đai (theo Tổng cục Thống kê năm 2003). Nguyên nhân chính của tình trạng này là do tập tục và thông lệ xã hội cũ, tài sản trong gia đình thường do người chủ hộ đứng tên (thường là người đàn ông cao tuổi nhất). Vì thế khi người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le như ly dị hoặc thừa kế… không có tên trong giấy đăng ký quyền sử dụng đất đai nên thường không có cơ sở pháp lý để đòi phần đất mà họ có quyền được hưởng. Do vậy, phụ nữ bị tước đoạt về đất đai làm gia tăng khả năng tổn thương và sự lệ thuộc về kinh tế vào nam giới đối với các yếu tố đầu vào sản xuất như đất đai và tín dụng. Thực tế cho thấy 2/3 số người đứng ra vay vốn là nam giới. Đây là một vấn đề lớn đối với nước ta khi số vụ kiện ngày càng tăng trong đó phụ nữ đòi quyền sử dụng đất trong trường hợp giải quyết ly dị và trường hợp người chồng qua đời.

Các quy định về phân bổ đất đai dựa trên cơ sở độ tuổi lao động cũng đưa phụ nữ vào tình thế bất lợi. Do phụ nữ ở Việt Nam nghỉ hưu ở độ tuổi 55 so với nam là 60 tuổi (sớm hơn 5 năm) theo quy định, đất cấp cho phụ nữ ở độ tuổi 55-60 tuổi chỉ bằng một nửa nam giới cùng độ tuổi. Ngoài ra, diện tích đất phân bổ cho các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ cũng ít hơn do thiếu vắng ngươì chồng, thiếu nhân lực lao động và quy định lỏng lẻo về độ tuổi lao động. Do vậy tổng số đất nông nghiệp cấp cho hộ gia đình nông nghiệp do phụ nữ làm chủ tính trung bình chỉ bằng 54% so với các gia đình do nam giới làm chủ. Tỷ lệ cán bộ tham gia ngành địa chính còn thấp do đó cũng hạn chế tiếng nói của chị em về vấn đề đất đai.

3- Thách thức đối với vấn đề giới.

Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: " Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc." Đó chính là nguồn động lực góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong bối cảnh toàn cầu diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, vấn đề bình đẳng giới và nâng cao năng lực cho phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. "Báo cáo khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam" do Uỷ ban vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Tổ chức nông lương thế giới (FAO) phối hợp công bố cho thấy, mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng về bình đẳng giới, song phụ nữ và trẻ em gái nước ta vẫn bị thiệt thòi hơn nam giới và trẻ em trai trong một số lĩnh vực.

Về giáo dục đào tạo. Phụ nữ, trẻ em gái còn chịu nhiều thiệt thòi về cơ hội học tập để nâng cao học vấn và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tỷ lệ học sinh nữ ở tất cả các bậc học đều thấp hơn học sinh nam. Số người chưa biết đọc biết viết của nữ luôn cao hơn nam từ khoảng 2-3 lần. Trong tổng số lao động nữ vẫn còn 10% chưa tốt nghiệp tiểu học, số tốt nghiệp trung học phổ thông mới đạt gần 70%. Càng ở cấp học cao sự chênh lệch giữa nam và nữ càng lớn: Tỷ lệ học sinh nữ ở cao đẳng, đại học là 39,9%, thạc sĩ 18%, tiến sĩ 14%.

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ : có tới 89% lao động nữ từ 15 tuổi trở lên đang hoạt động kinh tế thường xuyên không có chuyên môn nghiệp vụ và chưa được đào tạo về kỹ thuật. Số nữ công nhân kỹ thuật có bằng chỉ chiếm 3%, tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp: 4,13%, cao đẳng, đại học: 3,31%, trên đại học : 0,05%. Quan niệm con gái không cần học nhiều vì càng học cao càng khó lấy chồng, càng khó giữ gìn hạnh phúc gia đình…vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một bộ phận không nhỏ nhân dân, đặc biệt đối với miền núi và vùng sâu vùng xa, trong đó có nhiều đức lang quân cũng không muốn cho vợ được học cao và tiến bộ hơn mình… Những quan niệm lạc hậu, cổ hủ đó đã trở thành bức rào cản vô hình khiến nhiều bé gái, nhiều chị em phải bỏ dở việc học tập của mình.

Tỷ lệ phụ nữ dưới 40 tuổi biết chữ đã tăng dần trong những năm 90 và hiện là 94,3%, gần với mục tiêu Quốc gia là 95% vào năm 2005. Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về chỉ tiêu này đang giảm dần nhưng vẫn còn tồn tại một khoảng cách khá lớn đối với một số nhóm dân tộc. Trong khi tỷ lệ biết chữ của phụ nữ người Kinh, và người Hoa dưới 40 tuổi là trên 97% thì tỷ lên này đối với phụ nữ các dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng trên 75% hiện nay có tăng thêm chút ít không đáng kể. Mặc dù đời sống kinh tế xã hội chung của phụ nữ đã được cải thiện nhiều đặc biệt là trong những năm đổi mới vừa qua, song nếu xét về khía cạnh phát triển con người ta vẫn thấy còn quá nhiều chệnh lệch đáng kể về giới. Do những hạn chế về trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp nên phụ nữ thường gặp khó khăn trong lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội thăng tiến. Mức thu nhập bình quân thấp hơn nhiều so với nam giới cùng làm một công việc với trình độ như nhau. Lao động nữ chủ yếu tập trung trong những ngành đòi hỏi kỹ năng lao động ở mức thấp, nặng nhọc, thu nhập thấp. Có khoảng 70% lao động nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong những lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghiệp những ngành có lợi thế trong nền kinh tế thị trường phụ nữ được đào tạo chuyên môn chỉ có 27,3%. Phụ nữ còn gánh nặng công việc gia đình, sinh đẻ và chăm sóc con cái nên ít có cơ hội cạnh tranh trên thị trường lao động. Không có thời gian trau dồi kiến thức kỹ năng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn. Để có thể thăng tiến chị em phải cố gắng gấp 3-4 lần nam giới. Nhiều nhà tuyển dụng có tâm lý coi thường phụ nữ, ngại tuyển dụng phụ nữ, bởi quan niệm chung cho rằng phụ nữ năng lực có hạn, hơn nữa còn phải mang thai, sinh đẻ, nuôi con…

Sự tồn tại dai dẳng các quan niệm thái độ; sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ ở nước ta cũng như thiếu một cơ chế quốc gia để thu thập các dữ liệu phân theo giới tính và các thông tin cụ thể khác về giới một cách tổng hợp và có hệ thống chính là những thách thức cơ bản thuộc nhiều lĩnh vực đối với việc thực hiện bình đẳng giới.

Những định kiến xã hội và những hệ lụy trong đời sống xã hội và gia đình đã đẩy người phụ nữ trở thành đối tượng yếu thế trong xã hội. Không ít người, vì thế, luôn có mặc cảm tự ti, không phát huy được vai trò và vị thế của mình trong xã hội, chịu thua kém nam giới rất nhiều (ngay trong lĩnh vực khoa học và công nghệ – nơi được coi là thước đo chân lý khách quan nhất cũng chỉ có 7,63% các nhà nữ khoa học được chủ trì đề tài trọng điểm cấp quốc gia). Những định kiến của xã hội, tâm lý nhút nhát tự ti của phụ nữ đó chính là những rào cản vô hình mà chị em cần phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua. Muốn giải phóng phụ nữ, trước tiên người phụ nữ phải giải phóng chính mình./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 77 NĂM 2005

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: