TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN CÁC QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

DOÃN ĐÌNH HUỀ

I- Thực trạng về mối quan hệ Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội.

Lâu nay, ở nước ta Đảng giữ vai trò lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước nhân dân về vận mệnh đất nước. Đảng đã lãnh đạo bằng cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Cơ chế này đã tạo niềm tin trong nhân dân và sự nghiệp cách mạng của Đảng đã được thăng hoa và bền vững. Sở dĩ có cơ chế này là do Đảng ta đã vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách sáng tạo vào thực tiễn ở Việt Nam. Nhận thức được vai trò tích cực của chính trị, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tổ chức chính tri – xã hội trong việc giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Do vậy, nói đến chính trị là nói đến chính quyền Nhà nước, đến chế độ xã hội, đến sự sống còn của chế độ xã hội đó. V.I. Lê-nin chỉ rõ: Nếu không có một chính đảng, thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ nền thống trị của mình và do đó không thể hoàn thành nhiệm vụ kinh tế của mình. Thực tế cho thấy nếu một đảng cầm quyền không biết sử dụng hệ thống chính trị thì chỉ có thất bại trên đấu trường chính trị. Bởi vì, chính trị là tham gia Nhà nước, là chỉ đạo Nhà nước, là xác định những hình thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước. Tất cả các vấn đề cơ cấu của Nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo giai cấp, … đều thuộc phạm vi chính trị. Điều cần lưu ý là chính trị là biểu hiện lợi ích căn bản của các giai cấp và quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp đó. Nó cũng biểu hiện lợi ích giữa các dân tộc và giữa các nước, quan hệ giữa các giai cấp và do đó chính trị của giai cấp ấy sinh ra từ địa vị kinh tế của họ. Vì vậy, Lê-nin đã khẳng định bằng luận điểm nổi tiếng là: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”(1). Tất cả các tổ chức chính trị, các hình thức Nhà nước thay đổi và phát triển trên cơ sở sự thay đổi và phát triển nền kinh tế – xã hội. Điều cần lưu ý là những tư tưởng lý luận xã hội, những tổ chức chính trị sinh ra trên cơ sở phát triển kinh tế. Nếu những tư tưởng, lý luận của tổ chức đó tiến bộ thì nó tạo điều kiện cần thiết cho việc phát triển xã hội đi lên, còn nếu không sẽ ngược lại làm kìm hãm sự phát triển xã hội, dẫn đến suy vong.

Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị – xã hội và các quan hệ giữa chúng với nhau hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội. Cơ chế đó bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, trong việc quan hệ với các giai cấp, tầng lớp với các nhóm xã hội khác. Hệ thống chính trị mà trong đó Nhà nước là trung tâm bao giờ cũng mang tính giai cấp, nó đại diện cho giai cấp cầm quyền và phục vụ mục đích duy trì sự thống trị của giai cấp đó. Đương nhiên, chúng ta cần phân biệt hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội với các loại hình khác. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là cơ chế chính trị (bao gồm các cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành) bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, trên cơ sở liên minh giữa các giai cấp công – nông và các tầng lớp tri thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Bản chất của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay được thể hiện trên những khía cạnh: Một là, nó mang bản chất của giai cấp công nhân, bảo đảm quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hai là, quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ba là,dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu về sự thống nhất giữa lợi ích căn bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Hệ thống chính trị ở nước ta có những đặc điểm cơ bản là: 1- Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. 2- Hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị, nhưng có vai trò lãnh đạo, tập hợp quần chúng nhân dân để thực hiện lý tưởng của Đảng. 3- Hệ thống chính trị ở nước ta tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản bảo đảm cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống. 4- Hệ thống chính trị bảo đảm thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Hệ thống chính trị ở nước ta khác biệt căn bản với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây chính là sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Điều đáng lưu ý là Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị song lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện: Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm chủ trương phát triển kinh tế – xã hội. Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối, chiến lược của Đảng. Thực tiễn cho thấy, Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng; còn đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước thể chế hoá bằng các chính sách, nghị định, quyết định, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể. Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các nghị quyết của Đảng. Ngoài ra, Đảng còn lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị – xã hội.

Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đây chính là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng; Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước. Các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các đoàn viên, hội viên góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị…

Nhìn chung, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta đã hoạt động có hiệu quả trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Sự nghiệp đổi mới với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, có nhiều mô hình kinh tế trang trại phát triển làm cho bộ mặt nông thôn nước ta khởi sắc. Hệ thống chính trị ở cơ sở đã và đang góp phần thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở.

Bên cạnh những mặt ưu điểm, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập. Công tác cán bộ ở các ngành, các cấp, ở trung ương và địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống chính trị cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo và quản lý, tổ chức thực hiện, vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm quyền làm chủ nhân dân, vừa không giữ được kỷ cương phép nước, vừa là lực cản cho sự phát triển. Đội ngũ cán bộ ít được bồi dưỡng đào tạo, chính sách cán bộ còn bị động, chắp vá. Điều đáng lo ngại là chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện tập trung quan liêu, bao cấp. Cho nên phải tiếp tục đổi mới hoàn thiện các quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở.

II- Những giải pháp về đổi mới và hoàn thiện các mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta.

1- Nâng cao vai trò Đảng lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội.

Muốn thực hiện tốt được nhiệm vụ này, cần rà soát lại từng hệ thống của cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị – xã hội để xác định đơn vị nào cần giữ lại, chọn quy mô cho thích hợp. Cơ quan tham mưu giúp việc không nhất thiết là bên chính quyền có, bên Đảng cũng phải có. Vấn đề đặt ra là tổ chức bộ máy cần được tách bạch, không trùng lắp, chồng chéo, hoạt động có hiệu quả? Mỗi một tổ chức ra đời và tồn tại để phát triển phải gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nó. Đảng lãnh đạo không phải là làm thay Nhà nước, Nhà nước phải có quyền cả về ba mặt: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hiện nay, khoa học – công nghệ đã đáp ứng cho cuộc sống được nhiều tiện ích, bộ máy cần phải tinh và gọn nhẹ, tiết kiệm. Cái cần nhất là có đội ngũ cán bộ, nhân viên có kiến thức chuyên sâu, tinh thông nghiệp vụ, nắm bắt công nghệ mới đáp ứng được công cuộc đổi mới.

Một vấn đề quan trọng là lựa chọn cán bộ đứng đầu các cơ quan, đơn vị từ trung ương đến cơ sở, từ bộ trưởng đến chủ tịch xã. Các chức danh trên cần được đào tạo có hệ thống, có chất lượng. Nghĩa là ai qua các chức danh này đều phải được qua các lớp đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn. Đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ, sử dụng cán bộ dựa trên cơ sở tiêu chuẩn lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo. Các đơn vị, cơ quan, ngành trên cơ sở quy hoạch cán bộ cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng việc luân chuyển cán bộ. Đương nhiên, các cán bộ được lựa chọn vào quy hoạch phải có đức, có tài, đức phải là gốc. Cán bộ quản lý ở lĩnh vực nào phải giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, dám nghĩ, dám làm, chịu trách nhiệm trước công việc được giao. Quan niệm cán bộ phải có lên, có xuống, việc thay những cán bộ chủ chốt đứng đầu các bộ, ban, ngành, địa phương ( tỉnh, huyện ) khi không hoàn thành nhiệm vụ là công việc bình thường trong công tác quản lý cán bộ. Trong hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của các đoàn thể chính trị – xã hội cần sử dụng và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu ở các lĩnh vực để tận dụng chất xám, tay nghề theo hướng nâng cao tính chuyên nghiệp, chuyên môn hoá. Theo kinh nghiệm ở các nước tiên tiến, cán bộ lãnh đạo đứng đầu một bộ có thể thay đổi, song về công việc của bộ đó không hề bị đảo lộn và ảnh hưởng. Bởi vì, các ngành, các lĩnh vực chuyên sâu ở bộ đó vẫn vận hành một cách bình thường. Có lẽ chúng ta cũng nên học tập những kinh nghiệm đó.

2- Coi trọng mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội trong thực tiễn cuộc sống.

Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội cần khắc phục tình trạng “xa dân”. Khai thác triệt để và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận Đảng Cộng sản cầm quyền, xây dựng Đảng cách mạng chân chính, về Nhà nước pháp quyền, về dân chủ và thực hành dân chủ. Thực chất mối quan hệ cơ bản, mấu chốt và bao trùm trong các quan hệ chính trị là quan hệ với nhân dân. Thực tiễn cho thấy sự nghiệp cách mạng thành bại là dựa vào lòng dân, sức dân, lực lượng của dân và sáng tạo của dân. Chính quyền nhà nước phải thể hiện quyền lực của nhân dân, lấy dân làm đối tượng phục vụ. Những lợi ích đều vì dân, chính dân là chủ sở hữu mọi lợi ích và thụ hưởng lợi ích đó. Dựa vào dân mà xây dựng Đảng, lãnh đạo dân bằng cách đoàn kết quần chúng, đấu tranh cho lợi ích của quần chúng. Đây chính là điểm mấu chốt để xây dựng Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta vững mạnh. Vì vậy, muốn được nhân dân đồng lòng ủng hộ cần có chính sách đúng và đội ngũ cán bộ ưu tú đại diện cho nhân dân và được nhân dân lựa chọn.

Từ thực tiễn nhiệm vụ của mỗi công việc mà chúng ta cần có chính sách đối với cán bộ cho thích hợp, nhất là chế độ đối với cán bộ làm công tác đảng chuyên trách. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển. Thực hiện việc luân chuyển cán bộ để nâng cao hiệu lực lãnh đạo và quản lý. Không nên để cán bộ lãnh đạo đứng đầu một đơn vị quá lâu dễ dẫn đến tình trạng bảo thủ, trì trệ. Những tiêu cực, những yếu kém của đơn vị, ngành cần được làm rõ để có kết luận, cán bộ lãnh đạo đứng đầu đơn vị đó phải chịu trách nhiệm với đơn vị mình, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Mặt khác, cần có mối liên kết giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội tạo thành khối đoàn kết thống nhất hỗ trợ nhau thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình.

3- Đổi mới hệ thống chính trị cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, hệ thống chính trị từ trung ương tới cơ sở phải đổi mới nội dung và phương thức hoạt động và chỉnh đốn tổ chức, nâng cao hiệu lực lãnh đạo và quản lý. Đặc biệt là hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn, bởi vì cơ sở này là nơi trực tiếp quan hệ với nhân dân, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy cần phải chọn cán bộ có trình độ, nghiệp vụ, kinh nghiệm và uy tín để đảm nhiệm các công việc của hệ thống chính trị. Chấm dứt tình trạng đã tồn tại ở cấp xã, phường, thị trấn là sử dụng cán bộ “đầu ra” ở cơ quan nhà nước, quân đội làm ” đầu vào” ở cơ sở. Thực tế cho thấy, tình trạng trên đã dẫn đến công việc chung chưa có hiệu quả cao, thậm chí có mặt còn trì trệ. Hơn nữa, chúng ta chưa chú ý đến đãi ngộ về vật chất ( lương, phụ cấp ) thoả đáng nên cơ sở còn gặp khó khăn. Trong tình hình đó, ở nhiều địa phương đã năng động vận dụng những chính sách cần thiết để khắc phục những khó khăn này. Hiện nay, ở một số nơi trong hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn đã mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ, có trình độ đại học. Những đổi mới của hệ thống cơ sở về nhân sự cần được sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm từ đó có bộ máy phù hợp với sự nghiệp đổi mới một cách thiết thực và hiệu quả. Điều quan trọng là ở các bộ phận đều cần có cán bộ ở ba độ tuổi để có tính kế thừa không bị hẫng hụt. Coi trọng đào tạo nguồn cán bộ từ cơ sở để thay thế. Trong công tác cán bộ không để tình trạng tạo ê kíp, cánh hẩu sẽ dẫn đến tiêu cực, bè phái, cục bộ. Điều cần chú ý là khắc phục tình trạng quan liêu hóa, hành chính hóa, nhà nước hóa trong hệ thống tổ chức của Đảng. Cần phân biệt rõ tập trung dân chủ trong Đảng, Nhà nước với không tập trung dân chủ mà thực hiện hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận. Thực hiện chế độ trách nhiệm của cán bộ, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Coi trọng những ý kiến đề xuất, kiến nghị của dân về lựa chọn người vào các cơ quan lãnh đạo, vào các chức trách quản lý. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở là một trong những vấn đề rất quan trọng, nó góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Để đổi mới hoàn thiện các quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta đạt hiệu quả, vấn đề cốt lõi là con người thực hiện. Cán bộ thực chất là gốc của mọi công việc. Cho nên chúng ta phải coi trọng xây dựng một đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống có trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Văn kiện Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ: “Có cơ chế và có chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức có tài. Thực hiện đúng đắn nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”(2). Chúng ta tin tưởng rằng với sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ tiếp tục đi lên theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh .


(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tập 42, tr 349 (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 54

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 89 NĂM 2005

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: