CÔNG TÁC KIỂM TRA XỬ LÝ VĂN BẢN QUI PHẠM CÓ DẤU HIỆU TRÁI PHÁP LUẬT

BÙI NGUYỄN

1. Thấy gì từ thực tế?

Sau 5 năm thực hiện, cùng với sự khởi sắc trong hoạt động của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp, có thể nói Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã hoàn thành sứ mệnh của mình với nhiều “tiếng còi” chính xác điểm mặt, chỉ tên các VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật, gây thiệt hại cho đời sống, người dân. Tuy nhiên, cùng từ những hoạt động hiệu quả của Nghị định 135, có thể thấy còn khá nhiều vấn đề xuất phát từ thực tiễn của công tác kiểm tra văn bản.

Bạt ngàn “sản phẩm lỗi”

Theo thống kê của Bộ Tư pháp tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2008, trong năm 2008 toàn ngành Tư pháp đã kiểm tra được 38.083 văn bản, trong đó phát hiện 8.752 văn bản có sai sót; đã kiến nghị xử lý 4.565 văn bản. Riêng Cục Kiểm tra văn bản QPPL – Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra 1.968 văn bản theo thẩm quyền (gồm 865 văn bản của cấp Bộ và 1.283 văn bản của địa phương), bước đầu phát hiện 490 văn bản có sai sót về nội dung và hình thức. Trở lại năm 2007, qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành của cấp Bộ và địa phương trong năm này, đã phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Như vậy, khoảng từ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm. Các văn bản chủ yếu sai về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày, một số văn bản có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung hoặc thẩm quyền…

Dư luận xã hội hẳn chưa quên, ngay thời gian gần đây thôi, một số Bộ, ngành, cơ quan đã làm cho cộng đồng, người dân nửa lo đến mất mật, nửa cười nôn ruột bởi những văn bản chẳng giống ai. Mở đầu loạt “bi, hài văn bản ký” này là Quyết định số 33, 34 về tiêu chuẩn sức khỏe của người tham gia giao thông của Bộ Y tế. Đây là một văn bản pháp luật có nhiều vi phạm cả về hình thức lẫn nội dung. Trong đó, điểm bất hợp lý dễ thấy nhất và bị dư luận phản bác nhiều nhất đó là quy định những người thấp bé nhẹ cân (cao chưa  đủ 1,45m, nặng chưa tới 40kg) hoặc ngực lép (vòng ngực trung bình dưới 72cm)… không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50 đến 175cm3. Tiếp theo đó là Quyết định số 51 của UBND thành phố Hà Nội cũng có nhiều điểm vi phạm qua các quy định mang tính “ngăn sông, cấm chợ”. Cụ thể, Khoản 1 của Quyết định này có quy định “cấm vận chuyển, gia súc, gia cầm vào khu vực nội thành, nội thị” và Khoản 4 cấm vận chuyển những sản phẩm trên bằng “xe máy, xích lô hoặc các phương tiện thô sơ khác”… Rất may, những văn bản này đã “được” Cục Kiểm tra văn bản QPPL, Bộ Tư pháp kịp thời phát hiện những sai sót và “tuýt còi” yêu cầu đình chỉ ngay.

Tuy nhiên, trong thực tế, với tỷ lệ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm mà phần đầu bài viết đề cập thì số lượng VBQPPL sai phạm là… bạt ngàn và Cục Kiểm tra văn bản QPPL – Bộ Tư pháp dù có trăm tay, nghìn mắt cũng đành chịu, không thể kiểm soát hết nổi. Hay nói như ông Ngô Trung Thành – Vụ trưởng Vụ Pháp luật của Quốc hội khi trả lời báo giới: “…Trước một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ, bao gồm các văn bản của cả trung ương và địa phương thì Cục Kiểm tra văn bản QPPL khó có thể đảm đương rà soát được toàn bộ…”.

Những hậu quả nhãn tiền

Không nên nghĩ rằng khi một cơ quan quản lý Nhà nước ban hành một VBQPPL có dấu hiệu vi phạm pháp luật và bị cơ quan kiểm tra văn bản lên tiếng yêu cầu thu hồi, hủy bỏ… thì sự việc chỉ đến đấy là chấm dứt. Trái lại, trong thực tế, nó đã để lại những hậu quả vật chất khá nặng nề (đối với những văn bản đã kịp có hiệu lực điều chỉnh và đã được áp dụng, thi hành), hay hậu quả tinh thần cũng nghiêm trọng không kém (đối với cả hai trường hợp văn bản đã thi hành hoặc chưa kịp thi hành). Đó là chuỗi tâm lý từ đặt câu hỏi cho đến thái độ nhờn luật, xem thường cơ quan Nhà nước của người dân.

Quay lại với những loạt “bi, hài văn bản ký” đã đề cập ở đầu bài. Quyết định số 33, 34 về tiêu chuẩn sức khỏe của người tham gia giao thông của Bộ Y tế được coi là một sự kiện phản cảm khá nổi bật của năm 2007. Đến nỗi nó đã bị  đưa cả vào Chương trình “Gặp nhau cuối năm” để giúp người dân… cười giải trí! Cũng bởi vậy mà dư luận mỗi khi nhắc lại vẫn hài hước gọi đây là “Quyết định ngực lép”!!! Còn xét dưới góc độ pháp luật thì việc đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn lái xe đối với những người có thể hình nhỏ bé khiêm tốn đã làm hạn chế quyền hiến định (được Hiến pháp công nhận) của công dân trong việc sử dụng tài sản, phương tiện giao thông. Chưa kể, việc đặt ra quá nhiều tiêu chuẩn có thể gây phiền hà cho người dân cũng như dễ dẫn đến tiêu cực trong việc khám, chứng nhận sức khỏe để cấp bằng lái xe. Điều này đi ngược lại với chủ trương cải cách hành chính mà Nhà nước ta đang tiến hành.

Một ví dụ khác là dự thảo về quản lý xe thô sơ, môtô 2 bánh, 3 bánh kinh doanh vận tải hành khách và hàng hóa hay gọi nôm na là quản lý những người hành nghề xe ôm. Vừa mới mạnh nha ở giai đoạn dự thảo đã gặp nhiều ý kiến phản bác của dư luận xã hội. Buồn hơn, thay vì vui mừng trước việc được pháp luật quan tâm, điều chỉnh, rất nhiều bác tài xe ôm đã quả quyết sẽ… lách luật vì luật quá xa rời với thực tế. Theo họ, thà không có luật thì hơn, chứ “rằng thương như thế bằng mười hại nhau”!

Xây dựng được Nhà nước pháp quyền không thể để tồn tại những quy định gây khó dễ cho dân

Trả lời báo giới, ông Ngô Trung Thành – Vụ trưởng Vụ Pháp luật của Quốc hội đã từng nói: Là người làm công tác xây dựng pháp luật, tôi rất lấy làm tiếc khi chúng ta có những sản phẩm “bị lỗi” như vậy. Để có thể xây dựng được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì không thể để tồn tại những quy định gây khó dễ cho người dân và nhất lại là không phù hợp với pháp luật.

2. Nguyên nhân – không chỉ có một

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc các cơ quan quản lý Nhà nước cho ra đời những văn bản quy phạm pháp luật sai trái. Nhưng, tiếc rằng, cho đến nay, vì nhiều lý do những nguyên nhân này vẫn công nhiên tồn tại thay vì được khắc phục,  xứ lý tận gốc…

Không quản được thì cấm và nhiệt tình quá hóa… hại

Có thể thấy “không quản được thì cấm” là nguyên nhân phổ biến nhất và cũng có “sức sống” lâu dài nhất trong số những nguyên nhân dẫn tới việc các cơ quan quản lý Nhà nước cho ra đời những VBQPPL sai trái. Gốc rễ của nguyên nhân này xuất phát từ một thứ tư duy cũ là dùng biện pháp hành chính thay vì tìm tòi những giải pháp mang tính kinh tế – xã hội để xử lý. Bên cạnh đó, sự thiên lệch trong khi cân nhắc giữa lợi ích của cơ quan, của cá nhân thi hành công vụ và của xã hội. Chính vì vậy mà dẫn đến có các văn bản được xây dựng theo lối thấy khó quản lý thì cấm tiệt luôn để khỏi phải quản lý hoặc chí ít ra là để dễ quản lý. Mà Quyết định số 51 với các quy định mang tính “ngăn sông, cấm chợ” của UBND TP Hà Nội là một ví dụ. Hay dự thảo quản lý hoạt động quán karaoke, vũ trường của ngành văn hóa đang được lấy ý kiến hiện nay, vì không có cách gì quản lý được karaoke biến tướng nên đưa ra luôn quy định đã hát karaoke thì phải ngồi yên cấm nhún nhảy!

Nguyên nhân tiếp đến này nói đến nghe có vẻ buồn cười, nhưng trong thực tế nói lại là vấn đề rất thật và cũng không hiếm gặp. Như bình thường, khi một VBQPPL được hình thành từ khâu ý tưởng cho tới chấp bút hầu hết sẽ có sự tham mưu của bộ phận chuyên môn. Về cơ bản, họ là những chuyên gia trong lĩnh vực của họ nhưng trái khoáy ở chỗ họ lại không am hiểu nhiều về hệ thống pháp luật, nhất là việc xây dựng pháp luật. Cho nên, khó tránh khỏi việc để xảy ra một số quy định không bảo đảm tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, thậm chí là cả tính hợp hiến. Còn nhớ, cách đây ít lâu, giới báo chí nội chính đã từng có bài châm chích câu nói của một người đứng đầu một cơ quan chỉ vì người này đã biện minh cho việc đưa ra dự thảo quy định giá trần cho hoạt động xe ôm (!) là vì “bị chặt chém khi đi xe ôm, bức xúc nên khi xây dựng dự thảo anh em nó “máu” quá đã đưa vào”.

Thiếu một cơ chế tài phán

Theo cơ chế hành chính của nước ta, hiện nay không chỉ có một cơ quan mà có rất nhiều cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát đối với việc ban hành VBQPPL. Nhưng, cũng chính vì có nhiều chủ thể có thẩm quyền này cộng với việc pháp luật chưa phân định rạch ròi trách nhiệm, nên đã dẫn đến tình trạng “nhiều vãi không ai đóng cửa chùa”. Hơn nữa, hoạt động kiểm tra VBQPPL trước này không phải là một thiết chế mang tính tài phán, nên trường hợp Cục kiểm tra văn bản cho rằng một văn bản nào đó trái pháp luật mà cơ quan, cá nhân ban hành văn bản đó bảo là đúng pháp luật thì cũng rất khó xử lý.

Nghị định 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ, các văn bản trái pháp luật phải bị đình chỉ thi hành ngay và phải bị bãi bỏ hoặc hủy bỏ kịp thời. Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận và quyết định xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì phải khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra. Nhưng, hiện nay việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức ban hành văn bản sai vẫn đang theo quy định về xử lý công chức và phổ biến vẫn chỉ dừng ở mức độ “kiểm điểm, rút kinh nghiệm”, thay vì bồi thường.

            Cũng vì thiếu một cơ chế tài phán trong xử lý VBQPPL trái luật nên việc thẩm định dự thảo văn bản trước khi ban hành hiện nay còn hời hợt. Trong thực tế, có khi thẩm định bị ỉm đi hoặc trốn thẩm định. Cá biệt, có cơ quan soạn thảo “qua mặt” cơ quan thẩm định bằng cách khi gửi thẩm định, có một vài nội dung họ biết là sai trái nên đã rút đi, chờ sau khi thẩm định xong mới đưa vào để trình thông qua! Ngay cả khi đã thẩm định rồi, nhiều cơ quan bị “tuýt còi” vẫn cố “vượt đèn đỏ”… Đây cũng chính là nhận định của TS Lê Hồng Sơn – Cục trưởng Cục Kiểm tra VBQPPL – Bộ Tư pháp. Và, nhận định này đã được rất nhiều bản tham luận tại các cuộc hội thảo về công tác thẩm định văn bản trích dẫn và phân tích.

Quy trình xây dựng, ban hành văn bản pháp quy trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 – một hướng đi đúng

Hiện nay, quy trình xây dựng, ban hành các VBQPPL đã được quy định khá chặt chẽ tại 2 đạo luật, đó là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Trong đó quy định rõ các bước cần phải làm, từ việc khảo sát, soạn thảo, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, thẩm định v.v… đến việc xem xét, thông qua, ký ban hành. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia pháp lý một quy trình xây dựng, ban hành văn bản pháp quy mà theo đó, cần có sự tham khảo nhiều hơn ý kiến của người dân và phải cân nhắc đầy đủ đến những đối tượng được hưởng lợi và chịu tác hại của văn bản đó trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 là một hướng đi đúng. Trong thời gian tới, các quy định này cũng sẽ được bổ sung vào trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ:

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n65.uP?uP_root=me&cmd=item&ID=12881

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: