Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

GIỮ VỮNG THƯƠNG HIỆU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM KINH TẾ

PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, sau đó lan nhanh sang các nước Châu Âu, rồi đến Châu Á. Những nước có nền kinh tế phát triển nhất cũng đều bị ảnh hưởng nặng nề như Đức, Pháp, Anh, Ý rồi đến Nhật Bản, Trung Quốc. Những nước nhỏ và đang phát triển cũng bị ảnh hưởng dây chuyền do hệ lụy từ những nước lớn như Indonesia, Thái Lan, Việt Nam… Một đặc điểm nữa là khủng hoảng kinh tế lần này bắt nguồn tự sự đổ vỡ của ngân hàng và các định chế tài chính lan sang các lĩnh vực khác…

Những ngân hàng có thương hiệu nổi tiếng hàng trăm năm như Lehman Brothers – Ngân hàng đầu tư lớn thứ năm của Mỹ; các tập đoàn tài chính hàng đầu tại Wall Street như Morgan Stanley, Merrill Lynch, Goldman Sachs trước đó ít lâu còn hoạt động hăng hái nhất cũng bị tác động mạnh, thua lỗ lớn và Chính phủ phải can thiệp; CitiGroup là ngân hàng hàng đầu của Mỹ cũng gặp khó khăn, phải cắt giảm nhân viên; Tập đoàn tài chính – bảo hiểm hàng đầu của Mỹ như AIG cũng trong tình trạng tương tự, Chính phủ Mỹ phải hỗ trợ hàng trăm triệu USD. Một số ngân hàng ở Anh, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha (UBS, Northern Rock, Credit Suisse) cũng chao đảo. Tương tự, những doanh nghiệp lớn cũng bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng có nguy cơ đổ vỡ, Chính phủ phải hỗ trợ như một số công ty ô- tô của Mỹ và Nhật.

Như trên đã đề cập, khủng hoảng ở Mỹ vừa qua bắt đầu từ lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng này theo quan điểm của Krugman có thể chỉ ra 4 điểm cơ bản: (1) Bắt đầu từ việc vỡ bong bóng nhà đất dẫn tới tình trạng vỡ nợ và trốn nợ tăng vọt. Điều này làm các chứng khoán có bảo chứng của các khoản vay bất động sản MBS mất giá trị. (2) Việc MBS bị mất giá trị làm cho tỉ lệ nợ/vốn của khu vực tài chính trước đây đang tốt bây giờ lại trở nên quá cao; (3) Khu vực tài chính buộc phải giảm mức leverage vì thế đẩy con nợ vào tình trạng căng thẳng; (4) Vòng luẩn quẩn trên được lặp lại và làm tăng tình trạng nợ xấu. Ngoài ra, các nhà kinh tế còn cho rằng việc nới lỏng quản lý đối với khu vực tài chính đã dẫn đến tình trạng trên và đây là một trong những nguyên nhân về quản lý. Chủ tịch Uỷ ban tài chính quốc hội Mỹ nhận định: “Chúng ta phải trải qua một cuộc khủng hoảng thế giới vì quá thiếu điều tiết.” Đây được coi là bài học thứ hai của cuộc khủng hoảng.

Cuộc chiến chống khủng hoảng tài chính toàn cầu – gánh nặng đè lên vai hệ thống tài chính, ngân hàng

Không chỉ riêng Mỹ, các quốc gia khác cũng đang phải gồng mình chống lại những ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng. Từ cuối năm 2008 và đầu năm 2009, các nước G8 và G20 đã nhóm họp để bàn các biện pháp phù hợp chống lại khủng hoảng toàn cầu. Hội nghị Bộ trưởng Tài chính các nước G20 họp vào đầu tháng 3/2008 đã đồng ý hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển số tiền có thể lên đến 250 tỉ USD. IMF cho biết, tổ chức này cần cung cấp ít nhất 25 tỉ USD cho 22 nước nghèo bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng tài chính. Mức hỗ trợ này tương đương 80% mức hỗ trợ dành cho toàn bộ các nước có mức thu nhập thấp trong những năm 1990. Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc ngày 3/4/2009 đã nhất trí thông qua việc bơm 1.100 tỷ USD cho WB và một số tổ chức tài chính khác để cứu trợ các nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng. Ngân hàng trung ương các nước đã có những động thái để ngân hàng thương mại (NHTM) đảm bảo khả năng thanh khoản và có nguồn vốn để cho vay:

– Tại Nhật Bản, ngày 17/3/2009, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản bơm 1.000 tỉ Yên cho 14 ngân hàng nhằm giúp các ngân hàng có nguồn vốn bảo đảm cho vay, đồng thời mua 10,7 tỉ USD trái phiếu để cứu doanh nghiệp.

– Tại Mỹ: Ngoài gói cứu trợ hơn 700 tỉ USD mà Quốc hội Mỹ thông qua năm 2008 và 787 tỷ USD thông qua tháng 12/2009 để cứu trợ nền kinh tế, chủ yếu bơm cho một số NHTM lớn bằng những cách khác nhau.

Ngày 18/3/2009, Bộ trưởng Tài chính Mỹ đã hành động để nới lỏng phong toả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ bằng cách bơm 15 tỉ USD cho khối này thông qua trực tiếp mua chứng khoán (AFP). Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed) còn tìm kiếm các công cụ mới để vực dậy nền kinh tế. Ngày 19/3/2009, Chính quyền Mỹ đã chính thức triển khai chương trình bơm 200 tỷ USD vào tín dụng tiêu dùng thông qua việc mua chứng khoán liên quan đến các khoản cho vay khác nhau. Trong 2 ngày 17 và 18 tháng 3/2009, Fed đã nhóm họp và dự kiến duy trì lãi suất thấp từ 0% đến 0,25% và ngày 18/3/2009 đã công bố bơm thêm 1.500 tỷ USD nhằm nỗ lực đẩy mạnh hồi sinh nền kinh tế.

– Trung Quốc đang tìm cách cắt giảm thuế xuất khẩu, đồng thời tăng cường gói giải ngân 586 tỷ USD nhằm duy trì đà tăng trưởng kinh tế.

Cuộc chiến chống khủng hoảng kinh tế ở các nước vẫn còn đang tiếp tục và kinh nghiệm lớn nhất có thể rút ra ở đây trước hết là việc chính phủ các nước đều tập trung (trực tiếp hoặc gián tiếp) cứu hệ thống tài chính – ngân hàng không bị đổ vỡ, đặc biệt là những NHTM và định chế tài chính lớn và thông qua các định chế tài chính này để cứu vãn nền kinh tế không bị khủng hoảng nặng nề hơn. Thứ nữa là tập trung tạo ra công ăn việc làm và bảo đảm an sinh xã hội

Các NHTM Việt Nam vừa ứng phó với lạm phát và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vừa tiếp tục giữ vững thương hiệu

Các NHTM Việt Nam đang trong quá trình khẳng định vai trò, vị trí đối với nền kinh tế và cũng đang trong quá trình xây dựng để có những thương hiệu mạnh. Một số ngân hàng có quá trình hoạt động lâu năm ở Việt Nam, đã xây dựng được thương hiệu của mình như: “Vietcombank – Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng”, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thương hiệu mạnh nhất hệ thống NHTM Việt Nam nhờ có nghiệp vụ thanh toán quốc tế lâu năm và hệ thống thanh toán hiện đại; “Agribank – mang phồn thịnh đến với khách hàng”, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là NHTM lớn nhất Việt Nam với địa bàn hoạt động phủ khắp vùng nông thôn rộng lớn, trợ giúp nông nghiệp và nông dân; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) hiện là ngân hàng có thương hiệu mạnh từ hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản và hiện vẫn đang có thế mạnh ở lĩnh vực này. Ngân hàng Công thương Việt (Vietinbank) cũng là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, trưởng thành chủ yếu nhờ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và thành thị – ngân hàng này đã thay đổi logo, đăng ký bản quyền với trên 40 nước trên thế giới. Trong thời gian qua, nhiều NHTM đã được trao “Cúp thương hiệu mạnh”, hay danh hiệu như “Ngân hàng hoạt động tốt nhất” hoặc “Ngân hàng thanh toán tốt nhất”… được trao bởi những Tạp chí có tên tuổi… Vietinbank, Agribank, BIDV … đều đã được nhận danh hiệu này. Ngoài ra, một số ngân hàng nhỏ nhưng nhờ thực hiện chiến lược Marketing tốt mà đã thu hút được sự chú ý của khách hàng, rất nhiều người dân đã quen với những thương hiệu như: “Habubank – giá trị tích luỹ niềm tin”; “Seabank cùng bạn đi tới thành công” hay “GPbank – Ngân hàng Dầu khí toàn cầu cam kết thành công”….

Suốt hơn một năm qua, các ngân hàng thương mại nước ta cũng đã phải gồng mình để chống chọi với lạm phát do lãi suất tăng cao, thường xuyên phải lo bảo đảm khả năng thanh khoản, tiếp tục duy trì kinh doanh để tồn tại. Cũng trong thời gian này, NHNN thông qua việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ (chủ yếu là lãi suất) để thực hiện nhiệm vụ chính là chống lạm phát, nhưng vẫn phải giữ ổn định hệ thống ngân hàng.

Những ngân hàng lớn, có thương hiệu mạnh, nhất là các NHTM nhà nước đã chấp hành nghiêm túc các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và biện pháp chống lạm phát của Chính phủ. Trong lúc lãi suất tăng cao, nhiều NHTM cổ phần nhỏ tìm mọi cách kể cả việc chay đua lãi suất, đẩy lãi suất tiền gửi lên rất cao để đảm bảo khả năng thanh khoản thì các NHTM Nhà nước đã đi tiên phong trong việc giảm lãi suất, vừa giảm nóng cho thị trường, vừa góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Các NHTM giữ uy tín thương hiệu trong thời buổi lạm phát vừa qua có thể đánh giá ở một số tiêu chí sau đây:

– Thường xuyên bảo đảm khả năng thanh khoản;

– Lãi suất huy động theo đúng chỉ đạo của NHNN, không có hiện tượng chạy đua tăng lãi suất;

– Có đủ nguồn vốn cho vay với lãi suất hợp lý (thường là thấp hơn các NHTM khác);

– Cuối năm 2008 kinh doanh có lãi, hoàn thành kế hoạch lợi nhuận hoặc lợi nhuận năm giảm nhưng không lớn.

Những ngân hàng có uy tín và thương hiệu mạnh đều đã đạt được những tiêu chí đó: VCB, BIDV, AGRIBANK, VIETINBANK, ACB, SACOMBANK, TECHCOMBANK…

Từ đầu năm 2009, nước ta bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên các NHTM trong nước vẫn đang hoạt động ổn định, do đó Nhà nước không phải tập trung lo cho lĩnh vực này mà tập trung vào việc giảm tác động của cuộc khủng hoảng, giữ vững tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ. Trên tinh thần đó, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp như: hỗ trợ tiền cho người nghèo ăn tết Kỷ Sửu; giảm hoặc giãn một số loại thuế; hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp và cả ngắn, trung, dài hạn, cả cho nông dân vay mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp thông qua việc vay vốn tại các ngân hàng thương mại; bố trí vốn tín dụng đối với hộ nghèo và học sinh, sinh viên và các đối tượng chính sách khác; hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn và công nhân mất việc làm…

Quá trình xây dựng thương hiệu của các NHTM Việt Nam lúc này không chỉ đơn thuần là khắc phục hậu quả của năm 2008 còn lại (đặc biệt là ảnh hưởng của lãi suất cao) mà còn phải tập trung cho nhiệm vụ kích cầu kinh tế của Chính phủ thông qua việc cho vay hỗ trợ lãi suất. Đến 7/5/2009, dư nợ cho vay theo nhiệm vụ này đạt 276.673 tỷ đồng. Vẫn là các ngân hàng trong nước có uy tín và thương hiệu mạnh hưởng ứng chủ trương này một cách tích cực, đó là các NHTM Nhà nước có dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất chiếm trên 70% tổng dư nợ cho vay theo mục đích này. Một số NHTM cổ phần có uy tín và thương hiệu mạnh cũng tích cực hưởng ứng cho vay hỗ trợ lãi suất như Ngân hàng Kỹ thương, Ngân hàng Đông Nam Á…. Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tuy có thương hiệu nổi tiếng đều không nhiệt tình với nhiệm vụ này (do đây là nhiệm vụ chính trị).

Song song với thực hiện nhiệm vụ cho vay kích cầu kinh tế (được coi là nhiệm vụ trọng tâm của các NHTM từ đầu năm 2009 đến nay), các ngân hàng vẫn chú trọng phát triển dịch vụ, xây dựng và củng cố thương hiệu của mình. Một số ngân hàng lấy tối đa hoá lợi ích cho khách hàng để phát triển hoạt động. VIB vừa mới tung ra dịch vụ cầm cố kiểu mới bằng cách cho phép được mang tài sản đến ngân hàng cầm cố để vay tiền với số lượng lớn (nếu chưa kịp làm thủ tục vay), VIB sẽ cho vay vốn không vượt quá 80% giá trị tài sản cầm cố; Ngân hàng An Bình lại cho ra đời chuỗi dịch vụ tiện ích dành cho khách hàng cá nhân để thanh toán tiền điện nước hay dịch vụ nhận tiền gửi tận nơi … một số ngân hàng khác đã quan tâm đến hợp tác với ngân hàng nước ngoài hoặc tổng công ty lớn để khai thác thế mạnh của nhau, từ đó có điều kiện phát triển và củng cố thương hiệu, điển hình như Habubank hợp tác đầu tư với HSBC…

Giải pháp giữ vững thương hiệu trước khủng hoảng và suy thoái kinh tế hiện nay

Tuy cả nước phải tập trung để chống chọi với ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu, nhưng nền kinh tế nước ta nói chung và ngành Ngân hàng Việt Nam nói riêng vẫn phải tiếp tục thực hiện hội nhập quốc tế theo các điều khoản mà nước ta đã ký kết. Như vậy, nếu khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài thì vấn đề hội nhập và xây dựng thương hiệu cũng bị ảnh hưởng. Nhưng phải nhận thức một cách rõ ràng rằng, việc xây dựng thương hiệu không chỉ là xây dựng tiếng tăm và uy tín một cách chung chung mà còn (có thể là chủ yếu) chủ yếu là việc xây dựng một NHTM mạnh hơn, hoạt động tốt hơn, tạo ra Thế – lực; Trí – lực của mỗi ngân hàng.

Trong điều kiện hiện nay, có hai vấn đề lớn đặt ra: Một là, các NHTM phải tiếp tục phấn đấu để giữ vững thương hiệu của mình trong cuộc chiến chống khủng hoảng hiện nay. Hai là, tăng cường xây dựng thương hiệu để tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập.

Về vấn đề thứ nhất, từ kinh nghiệm đổ vỡ của một số ngân hàng và định chế tài chính lớn của Mỹ (khởi nguồn của khủng hoảng vừa qua) và từ kinh nghiệm giải cứu thị trường, kích cầu kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội của Mỹ và các nước bị ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng vừa qua cho chúng ta những bài học và những công việc phải chú trọng sau đây: (1) Hoàn thiện chiến lược quản trị rủi ro, trong đó chú trọng: khả năng thanh khoản, hệ số đủ vốn (hệ số Car), các yếu tố quản lý tài sản Nợ, tài sản Có; (2) Tăng cường quản lý tín dụng, xiết chặt các thủ tục vay vốn, không vì cho vay hỗ trợ lãi suất mà nới lỏng điều kiện tín dụng. (3) Tăng cường tính minh bạch trong hoạt động, đi đôi với tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ để tự bảo vệ mình trước những sóng gió từ bên ngoài. (4) Tiếp tục quảng bá thương hiệu bằng việc: (i) Đẩy mạnh cho vay kích cầu kinh tế đạt hiệu quả cao; (ii) Xây dựng và cho ra đời các sản phẩm tiện ích mới; (iii) Quảng bá hình ảnh ngân hàng và sản phẩm mới rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng; (iv) Vừa thực hiện tốt nhiệm vụ kích cầu, nhưng vừa chú trọng vấn đề an sinh xã hội, đặc biệt là việc dành tiền đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, những nơi có nhiều hộ đói nghèo…

Về vấn đề thứ hai: Xây dựng thương hiệu để đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Ngoài những việc đã đề cập ở trên (đó vừa là vấn đề trước mắt, vừa là việc làm thường xuyên trong xây dựng thương hiệu của NHTM Việt Nam) thì vấn đề tiên quyết trong xây dựng thương hiệu thời hội nhập là các NHTM cần chú trọng tăng vốn tự có để trở thành những NHTM đủ lớn, đủ khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập. Thương hiệu ngân hàng lúc này phải gắn với những NHTM có quy mô lớn ngang tầm với những NHTM lớn trên thế giới và trong khu vực.

Để khẳng định thương hiệu của mình, các NHTM cần tiếp tục đẩy mạnh công tác Marketing ngân hàng gắn với quảng bá sản phẩm, xây dựng logo, đăng ký bản quyền thương hiệu với các nước trên thế giới; Việc quảng bá sản phẩm không chỉ dừng ở những việc quảng cáo, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng mà còn thể hiện tiềm lực hỗ trợ và tài trợ một cách đa dạng và phong phú. Mặt khác, các NHTM cần xây dựng và hoàn thiện chiến lược kinh doanh theo yêu cầu hội nhập quốc tế và hiện đại hoá, đa dạng hoá sản phẩm, phát triển mạnh hơn các tiện ích ngân hàng, thay đổi mạnh cơ cấu kinh doanh đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng để có đội ngũ cán bộ kinh doanh ngân hàng chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển.

Để các NHTM có thể đứng vững trước những khó khăn, vượt qua thách thức hiện tại cũng như chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài, giữ vững thương hiệu trong tương lai, cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng, cụ thể là NHNN cần: (1) Hoàn thiện các quy định pháp luật về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và kiểm soát hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tê, trong đó có việc xây dựng và trình Quốc hội thông qua 2 bộ luật về ngân hàng trong năm 2009; (2) Hoàn thiện các quy định về cấp phép và quản lý ngân hàng để có một hệ thống ngân hàng mạnh hơn, đủ năng lực tài chính để có thể đứng vững trong cạnh tranh ngày càng quyết liệt; cần thiết phải có chính sách về sáp nhập, mua lại những ngân hàng không đủ năng lực tài chính theo quy định của pháp luật; (3) Củng cố thị trường tài chính tiền tệ nhằm tạo môi trường và cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá; (4) Khẩn trương hoàn thiện những quy định liên quan đến thanh tra giám sát ngân hàng (về mô hình tổ chức, quy chế hoạt động, về phương thức thanh tra giám sát) phù hợp dần với các nguyên tắc của Basel.

Trong một bài viết trên tờ Lemonde của Pháp ngày 24/9/2008, Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Dominique Strauss – Kaln đã nhấn mạnh: “Mệnh lệnh đầu tiên đối với Ngân hàng Trung ương là tránh không để xảy ra hiện tượng rút tiền mặt ồ ạt ra khỏi ngân hàng và tổ chức tài chính. Để làm được điều đó, cần trấn an những người gửi tiền về sự an toàn của tài sản ngân hàng… Giai đoạn thứ hai là phải xoá sạch nguyên nhân sâu xa gây nên khủng hoảng…”.

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 10 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: