BÌNH ĐẲNG VỀ GIỚI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

GS. LÊ THI – Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1946 đã công bố nguyên tắc "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 lại khẳng định rõ nguyên tắc này.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào Công ước Cedaw, nhằm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

Văn bản của Liên hợp quốc cũng đã nói rõ "Bình đẳng về giới là nam nữ được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế – xã hội và văn hoá của đất nước"(1). Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế.

Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nguyên tắc này của Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: nam và nữ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, bình đẳng trong học tập, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá và nghề nghiệp; bình đẳng trong lao động, tìm kiếm việc làm, sắp xếp lương bậc, đề bạt, cất nhắc; bình đẳng trong việc tham chính vào các cơ quan chính quyền và dân sự các cấp; bình đẳng trong việc hưởng thụ các phúc lợi vật chất và tinh thần; bình đẳng trong gia đình, trong sử dụng tài sản, quyết định công việc quan trọng và chăm sóc con cái.

Thực hiện sự bình đẳng giới nhằm mục tiêu xây dựng sự công bằng xã hộinói chung và sự công bằng về giới nói riêng. Nhưng để đi tới một sự công bằng thực sự một cách cơ bản, lâu dài lại không phải là với bất cứ việc gì, trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào, với đối tượng cụ thể nào cũng phải tạo ra một tỷ lệ cân bằng giới 50% nam, 50% nữ được tham gia một công việc cụ thể hay hưởng thụ một phúc lợi nào đó. Trái lại, cần thận trọng xem xét những hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi thực hiện sự bình đẳng giới trong thực tiễn đời sống xã hội, vốn luôn luôn vận động và đa dạng. Có như vậy chúng ta mới đạt được sự công bằng tốt nhất, hợp lý nhất trong những hoàn cảnh cụ thể, với những đối tượng cụ thể. Sự công bằng, hợp lý trước mắt lại phục vụ cho mục tiêu lâu dài được đặt ra.

Vậy hoàn cảnh lịch sử cụ thể đặt ra những vấn đề gì cần chú ý?

Trước hết là môi trường sinh sống cụ thể của nam hay nữ. Môi trường chi phối những nhu cầu cụ thể của mỗi giới, đồng thời bản thân nó cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh nước ta, hiện tại và tương lai. Vì vậy, ở mỗi giới có những nhu cầu trước mắt lâu dài, có điểm giống nhau, có điểm khác nhau, đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

Thứ hai là để thực hiện được sự bình đẳng giới, phải tạo ra cho họ "một sân chơi bình đẳng", nam và nữ có những cơ hội như nhau, điều kiệnngang nhau để hành động trên sân chơi đó. Đồng thời cần chú ý rằng, điểm xuất phát đi lên của mỗi giới lại không giống nhau. Tạo điều kiện, cơ hội như nhau cho hai giới, nhưng điểm xuất phát đi lên của giới nam khác giới nữ, do đó đòi hỏi có sự điều chỉnh thích đáng.

Thứ ba là đối với các đối tượng cụ thể, mỗi cá nhân lại có hoàn cảnh riêng, chi phối họ trong quá trình sinh sống, làm việc (tài năng, tri thức, sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, v.v…) và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng những cơ hội, điều kiện thuận lợi đã tạo ra cho họ.

1. Thực hiện sự bình đẳng giới và công bằng xã hội, trước hết đề cập đếnnội dung cụ thể cần tiến hành. Nội dung đó phụ thuộc vào môi trường sinh sống, làm việc cụ thể của từng giới, ở thành phố khác ở nông thôn, ở đồng bằng khác ở miền núi, vùng dân tộc ít người. Môi trường sinh sống chi phối những nhu cầu bức bách của mỗi giới, có cái chung, có cái riêng, có nhu cầu trước mắt và nhu cầu lâu dài, toàn bộ.

Để thực hiện sự công bằng về giới trong phát triển kinh tế, tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cho giới nam hay giới nữ thì rõ ràng ở nông thôn có nội dung khác ở thành phố, miền xuôi khác miền núi. Ở nông thôn, điều quan trọng nhất đối với cả nam, nữ, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của họ, kể cả vị thế của họ trong gia đình, đó là quyền sở hữu rộng đất, họ có hay không có, trong gia đình chồng hay vợ là chủ sở hữu, ai là người quyết định nội dung sản xuất của gia đình, nắm giữ tài sản tiền nong làm ra, quyết định những chi tiêu lớn của gia đình? Ai làm những công việc gia đình không được trả công nhiều nhất, kể cả việc chăn nuôi tại nhà? Ai quyết định những việc lớn của gia đình như việc học tập của con cái, việc cưới xin, ma chay,v.v… Như vậy, cần chú ý đến những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến vị thế kinh tế, xã hội của giới nam và giới nữ trong gia đình và ngoài xã hội ở nông thôn. Từ đó sẽ có hướng tác động nhằm thiết lập sự bình đẳng giới giữa giới nam và giới nữ một cách có hiệu quả.

Ở thành phố thực hiện sự bình đẳng giới trong phát triển kinh tế lại là tạo điều kiện, cơ hội cho nhiều phụ nữ có việc làm phù hợp với khả năng, vốn kiến thức, sức khoẻ của họ. Do đó, không phải ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần đảm bảo tỷ lệ cân bằng 50% nam, 50% nữ tham gia, mà cónhững ưu tiên cần thiết cho giới nam hay giới nữ đối với từng ngành nghề. Các nghề làm dịch vụ, du lịch, thương mại, may mặc, công nghiệp nhẹ, y tế, văn hoá v.v…. thường hợp với nữ, nên tạo điều kiện, cơ hội cho chị em tham gia. Cơ hội, điều kiện ở đây là việc đào tạo bồi dưỡng tay nghề cho họ, đặt chỉ tiêu tuyển nữ nhiều hơn nam v.v. Lại có những nghề ưu tiên đào tạo nam, tuyển nam như: lái xe tải, làm hầm mỏ, xây dựng trên dàn cao v.v.

Chúng ta không chỉ chú ý đến những nhu cầu trước mắt mà cần có cái nhìn hướng về tương lai lâu dài. Cần tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các ngành nghề công nghệ cao (điện tử, viễn thông v.v.) đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển lâu dài, mạnh mẽ của khoa học công nghệ ở nước ta. Đó cũng là những nghề phụ nữ sẽ làm tốt do tính cẩn thận, siêng năng của họ, cùng với trình độ văn hoá được nâng lên nhờ được học tập, đào tạo có hệ thống.

Ở nông thôn cũng cần thấy hướng phát triển của nhiều ngành nghề phi nông nghiệp, sự tiếp cận với khoa học kỹ thuật, trong quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp. Vì vậy, lớp trẻ ở nông thôn, đặc biệt là phụ nữ chiếm số đông, cần được học tập, có trình độ văn hoá cần thiết để tham gia vào các ngành nghề mới. Đồng thời, nhà nước có chế độ trợ cấp, ưu đãi cho vay vốn, có chính sách đãi ngộ thoả đáng v.v… để giữ lớp trẻ, cả nam nữ, sau khi học tập có bằng cấp ở lại nông thôn xây dựng quê hương mình.

Như vậy, việc thực hiện sự công bằng và bình đẳng giới đặt trong hoàn cảnh kinh tế- xã hội- văn hoá của Việt Nam, không chỉ nhìn hiện tại trước mắt mà phải hướng về tương lai lâu dài của sự phát triển đất nước.

2. Nam và nữ cần có những cơ hội và điều kiện như nhau để thực hiện các quyền của con người, đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển của xã hội. Nhưng cơ hội và điều kiện của mỗi giới lại bị ảnh hưởng của điểm xuất phát đi lên của họ tác động tới.

Điểm xuất phát của nữ nhìn chung thấp hơn nam về trình độ văn hoá, sự cập nhật các thông tin, sự tiếp cận với nguồn vốn, về thị trường và khả năng giao dịch, tổ chức sản xuất v.v. Ngay giới nữ ở thành phố cũng có trình độ văn hoá, có điều kiện tiếp xúc với thông tin, kiến thức hàng ngày nhiều hơn phụ nữ nông thôn.Ở mỗi cá nhân, nam hay nữ lại có hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau, trình độ văn hoá, tình trạng kinh tế khác nhau. Do đó, dù hai giới có cơ hội như nhau để tham gia vào "sân chơi bình đẳng" nhưng không phải cơ hội đem lại thuận lợi cho hai giới như nhauđể họ khai thác một cách có lợi nhất cho mình. Họ có điều kiện bình đẳng như nhau để tham gia công việc xã hội, nhưng điểm xuất phát đi lên của giới nữ thấp hơn giới nam nên việc sử dụng những điều kiện thuận lợi lại có thể dẫn tới những kết quả cho giới nữ khác giới nam, không bằng nam. Vì vậy, tạo cơ hội, điều kiện cho hai giới như nhau rất cần nhưng chưa đủ.

Để đảm bảo sự công bằng thực sự giữa nam và nữ, không chỉ cần tạo điều kiện, cơ hội như nhau để nữ giới tham gia vào sân chơi bình đẳng mà khi cần thiết, phải có những ưu tiên cho giới nữ, tạo cho họ những điều kiện, cơ hội thuận lợi hơn so với nam giới. Nếu thực hiện sự bình đẳng một cách máy móc sẽ là bất công với giới nữ, vì giới nam vốn có những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi hơn giới nữ.

Việc tuyển người đi đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ của một cơ quan xí nghiệp, nếu cứ nêu lên những tiêu chuẩn lựa chọn nam cũng như nữ thì chắc chắn rất ít phụ nữ đạt yêu cầu để được đi học, một phần do trình độ, chức vụ công tác thấp hơn nam, một phần do họ bận con cái không đi học tập trung thời gian dài được, nếu không có sự giúp đỡ cần thiết. Do đó, cần chú ý ưu tiên nữ, linh hoạt trong tiêu chuẩn lựa chọn họ đi học, chú ý nữ còn trẻ chưa lập gia đình, hoặc chị em có con đã lớn, điều kiện gia đình có thể đi học được, hay chấp nhận phụ nữ mang con nhỏ đi học (có lớp mẫu giáo, nhà trẻ tại cơ sở đào tạo v.v.). Nhìn chung, phụ nữ phải gánh nặng công việc gia đình bên cạnh sự tham gia công tác như chồng. Những lúc họ chưa có con hay không có con nhỏ, họ tập trung tư tưởng tập trung hơn. Nếu đặt một tỷ lệ ngang bằng nam nữ, với những tiêu chuẩn lựa chọn giống nhau với nam và nữ thì nhiều khi không đủ số phụ nữ được đào tạo và là một sự không công bằng với giới nữ.

Sự ưu tiên cần thiết cho giới nữ hay giới nam trong việc tham gia một ngành nghề hay hưởng thụ một phúc lợi công cộng nào đó (ví dụ việc học tập, đào tạo, việc chăm sóc sức khỏe, việc nghỉ lúc con ốm v.v.) trong những điều kiện lịch sử cụ thể chính là nhằm tạo nên sự công bằng về giới, sự bình đẳng giới nhìn từ góc độ lợi ích của toàn xã hội, trước mắt và lâu dài (đó không phải vì lợi ích của một giới cụ thể nào đó làm ảnh hưởng đến lợi ích của giới kia). Đối với phụ nữ, những trường hợp cần thiết phải ưu tiên cho họ lại không chỉ đem lợi ích riêng cho giới nữ mà chính vì lợi ích chung lâu dài của cả hai giới, cả cộng đồng và dân tộc ta trong công cuộc phát triển đất nước.

Khi phụ nữ chưa có "sân chơi thật sự bình đẳng" với nam giới để tham gia công việc xã hội và hưởng thụ của các phúc lợi công cộng thì cần tạo ra một sân chơi thuận lợi hơn cho nữ so với nam, đó mới là công bằng và cần thiết.

Đồng thời, chúng ta không quên rằng việc khai thác các cơ hội, điều kiện thuận lợi của mỗi cá nhân lại khác nhau do phụ thuộc vào tài năng, sự nỗ lực, sở thích của cá nhân và cả những sự may mắn (có sự ủng hộ, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, cộng đồng thôn xóm v.v.) cũng như phụ thuộc vàotình trạng sức khoẻ của họ.

3. Sự bình đẳng về giới và công bằng xã hội hỗ trợ cho nhau, nhưng không thay thế nhau.

Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rõ thực hiện sự bình đẳng giới là tạo rasự công bằng giữa hai giới về mọi phương diện. Nhưng để có sự công bằng thực sự, trong trường hợp cụ thể lại phải có cách nhìn linh hoạt, có khi trước mắt cần đối xử "không công bằng" với một giới, ví dụ với giới nam và ưu tiên giới nữ, trong điều kiện nhất định nào đó, mới tạo ra sự công bằng cần thiết, sự bình đẳng thật sự giữa hai giới trong tương lai lâu dài.

Các em gái vốn hay bị thiệt thòi trong học tập, ít được đến trường học đến nơi đến chốn như học sinh nam, đặc biệt ở nông thôn miền núi, các em thường phải nghỉ học ở nhà trông em, giúp việc gia đình. Vì vậy, nhà trường không chỉ đối xử bình đẳng giữa học sinh nam và nữ trong học tập mà trong tiêu chuẩn tuyển sinh hằng năm cần ưu tiên việc tuyển nhiều nữ hơn nam khi cần thiết, hoặc tuyển nữ sinh với những tiêu chuẩn không khắt khe bằng học sinh nam . Nhà trường có sự chú ý bồi dưỡng tài năng, sức học của nữ sinh để các em đuổi kịp nam sinh, vận động giúp đỡ can thiệp để cha mẹ các nữ sinh không bắt các em nghỉ học giữa chừng.

Bởi vậy, sự ngang bằng về quyền lợi và trách nhiệm của hai giới, hay sựcân bằng giữa nam nữ trong tham gia công việc xã hội và hưởng thụ các phúc lợi lại không phải và không thể là chủ nghĩa bình quân hình thức.

Tạo sự công bằng về giới, tức là đảm bảo một tỷ lệ cân đối giữa giới nam và giới nữ trong đóng góp và hưởng thụ, đảm bảo nguyên tắc công bằng về quyền lợi và trách nhiệm giữa hai giới để thực hiện sự bình đẳng giới thật sự. Nhưng tiêu chuẩn nào để dựng lên tỷ lệ cân đối đó giữa nam và nữ? Đó là ngang nhau hay không ngang nhau, 50% nam, 50% nữ hay tỷ lệ nam hoặc tỷ lệ nữ có thể nhiều hơn hay ít hơn tuỳ hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể. Như vậy mới đem lại lợi ích thực sự cho sự bình đẳng giới trước mắt và lâu dài.

Về nguyên tắc, nhìn chung và lâu dài cần bảo đảm cho giới nam và giới nữ có điều kiện như nhau để thực hiện các quyền cơ bản của con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển xã hội. Nhưng rõ ràng, quá trình nhằm tạo ra sự ngang quyền thật sự đó lại cần có sự linh hoạt nhất định với các trường hợp cần thiết, có sự ưu tiên cho giới nữ hoặc giới nam trong thực tiễn cụ thể của đời sống xã hội.

Việc nêu cần bảo đảm quyền bình đẳng cho nam nữ có vẻ dễ dàng, đơn giản, nhưng giải quyết những vấn đề cụ thể diễn ra trong gia đình, ngoài cộng đồng lại hết sức khó khăn, phức tạp. Phải có tình và có lý, hợp tình và đúng lý (của pháp luật nhà nước), không thể đơn giản hoá vấn đề. Nếu giải quyết các sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày theo chủ nghĩa bình quân hình thức thì sẽ dẫn đến những thiệt thòi cho giới nữ hoặc giới nam, xét về toàn cục và lâu dài là có hại chung cho cả hai giới.

Chúng ta đặt sự công bằng về giới trong sự công bằng chung của xã hội. Công bằng gắn với công minh, đó là những thành tố trung tâm của chiến lược phát triển xã hội có hiệu quả nhất.

Có công bằng thực sự mới giúp cho xã hội tăng trưởng một cách toàn diện và vững bền. Công bằng xã hội lớn hơn thì hoạt động kinh tế có hiệu quả nhiều hơn, giảm xung đột xã hội, tăng niềm tin trong lòng người dân, cả nam và nữ.

Tăng cường sự công bằng về giới cũng giúp cho việc giảm nhanh nạn nghèo đói, đặc biệt ở nông thôn, miền núi. Đó là những mục tiêu trọng tâm của sự phát triển đất nước trong hiện tại và tương lai lâu dài nhiều năm. Sự công bằng về giới cũng là một động lực kích thích sự phát triển sáng kiến cá nhân của nam và nữ, sự nỗ lực của trí tuệ cá nhân (chứ không phải hoàn cảnh gia đình, đẳng cấp xã hội, giới tính), đó là những yếu tố quyết định thành quả của mỗi công dân, nam và nữ.

Là một vấn đề xã hội lớn, thực hiện sự bình đẳng giới ở nước ta đòi hỏimột chiến lược hành động lâu dài, toàn bộ với những sách lược, bước đi, việc làm cụ thể trong từng thời gian và không gian nhất định, không thể đơn giản, máy móc, nóng vội hay cắt đoạn giữa cái trước mắt và cái lâu dài.

Năm 2006, dự kiến Luật về bình đẳng giới sẽ được Quốc hội nước ta thông qua. Việc ban hành Luật nhằm đưa những yêu cầu chính về bình đẳng giới thành các văn bản với những điều khoản cụ thể, những chính sách cụ thể và đòi hỏi việc thực hiện như một nghĩa vụ đối với bất cứ công dân nào, tổ chức cơ quan nào, kèm theo những quy tắc thưởng, phạt nghiêm túc.

Nước ta đang xây dựng một xã hội dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng. Thực hiện quyền bình đẳng nam nữ chính là một nội dung quan trọng nhằm đảm bảo sự công bằng, dân chủ, tự do cho cả hai giới, nam và nữ ngang quyền nhau về mọi phương diện như yêu cầu của Hiến pháp nước ta. Đó là tạo lập sự công bằng giữa hai giới một cách cơ bản toàn diện nhất, thiết lập cơ sở quan trọng nhất bền vững cho sự phát triển tốt đẹp, hài hoà gữa hai giới, trong gia đình và ngoài xã hội. Từ đó, củng cố sự đoàn kết nhất trí và gắn kết chặt chẽ giữa hai giới, tạo cho họ sức mạnh tinh thần, vật chất mới, cùng nhau làm chủ đất nước, làm chủ bản thân, và đưa đất nước tiến lên, đạt được những thành tựu to lớn trong thế kỷ XXI.


(1) Trích báo cáo đánh giá thực trạng bình đẳng giới tại Việt Nam của Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương năm 2004

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 101 NĂM 2006

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: