Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ DỰ ÁN LUẬT NUÔI CON NUÔI

Kính gửi:  Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước và các bộ, ngành hữu quan xây dựng dự án Luật nuôi con nuôi (sau đây gọi là dự án Luật).

Bộ Tư pháp xin báo cáo Chính phủ về dự án Luật này như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT NUÔI CON NUÔI

Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội, chủ yếu liên quan đến trẻ em và xảy ra ở hầu hết các quốc gia, nên đều được pháp luật các nước điều chỉnh. Tùy thuộc vào truyền thống lập pháp và nhu cầu của mỗi quốc gia mà nuôi con nuôi được điều chỉnh riêng trong một đạo luật hoặc điều chỉnh chung trong đạo luật về hôn nhân và gia đình, luật dân sự hoặc luật bảo vệ trẻ em.

Vấn đề nuôi con nuôi ở nước ta cũng đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa được quy định thống nhất trong một văn bản pháp luật, mà quy định lồng ghép trong Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác. Điển hình như: trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, vấn đề nuôi con nuôi được quy định rải rác trong Điều 9, Điều 18 và Điều 24; trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, nuôi con nuôi được điều chỉnh trong một chương (chương VI) gồm 6 điều (từ điều 34 đến điều 39); trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nuôi con nuôi được điều chỉnh tại chương VIII gồm 13 điều (từ điều 67 đến Điều 78) và 1 điều về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (Điều 105); trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, Điều 40 quy định về quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; Điều 679 quy định về người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; trong Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 44 kế thừa quy định tại Điều 40 của BLDS năm 1995 và Điều 676 kế thừa quy định tại Điều 679 BLDS năm 1995.

Ngoài ra, trình tự, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi được quy định trong các Nghị định của Chính phủ (như Nghị định 83/1998/NĐ-CP trước đây và Nghị định 158/2005/NĐ-CP hiện nay về đăng ký hộ tịch; Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài…).

Dưới các khía cạnh khác nhau, những vấn đề liên quan đến con nuôi còn được quy định trong các văn bản pháp luật về quốc tịch; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em v.v…

Có thể nói, pháp luật về nuôi con nuôi trong những năm qua đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ quyền trẻ em; việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi đã từng bước động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong nhân dân, giúp cho nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có được mái ấm gia đình ở trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, theo thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước vẫn còn khoảng 3 triệu trẻ em sống trong các gia đình nghèo; trên 200.000 trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, khuyết tật, tàn tật; hàng ngàn trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo cần được chăm sóc, chữa trị. Trong khi kinh tế – xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, Nhà nước chưa có đủ điều kiện để bảo đảm cho các em được chăm sóc, nuôi dưỡng, chữa trị, chưa thu xếp được hết cho các em có mái ấm gia đình, thì việc cho trẻ em làm con nuôi được coi là một trong những biện pháp thay thế có ý nghĩa quan trọng. Nhưng theo báo cáo của các địa phương, thì số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi còn rất hạn chế so với số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần mái ấm gia đình. Trong 05 năm qua (2003 – 2008) chỉ có trên 23.000 trẻ em được nhận làm con nuôi (17.000 trong nước và gần 6.000 ở nước ngoài).

Từ thực tiễn trên đây đòi hỏi Nhà nước cần có sự quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện thuận lợi và có chính sách, biện pháp khuyến khích nhiều hơn nữa, để giúp đỡ cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trên tinh thần đó, thì việc ban hành Luật Nuôi con nuôi là hết sức cần thiết, qua đó thể hiện trách nhiệm, sự quan tâm của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đối với đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhất, cần sự giúp đỡ nhiều nhất trong xã hội. Việc ban hành Luật Nuôi con nuôi sẽ tạo ra khung pháp luật thông thoáng hơn, ổn định và an toàn hơn để thu hút sự quan tâm, ủng hộ và giúp đỡ của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em, nâng cao trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, cơ quan, tổ chức và xã hội trong việc bảo đảm quyền của trẻ em.

II. MỤC TIÊU VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

1. Mục tiêu

Việc ban hành Luật nuôi con nuôi nhằm thực hiện những mục tiêu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, làm chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức, tình thương và trách nhiệm của mọi người dân trong xã hội về lĩnh vực nuôi con nuôi đối với trẻ em, qua đó nhằm động viên, khuyến khích, thúc đẩy nhiều hơn nữa việc nhận trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt làm con nuôi, giúp cho các em có được mái ấm gia đình ở trong nước, có điều kiện hòa nhập vào đời sống cộng đồng, trở thành công dân tốt trong xã hội. Cùng với các biện pháp khác về bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, việc nhận nuôi con nuôi còn góp phần quan trọng nhằm bảo đảm quyền của trẻ em trên thực tế.

Thứ hai, việc ban hành Luật nuôi con nuôi còn nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại về mặt thể chế hiện hành liên quan đến lĩnh vực này, qua đó bảo đảm tốt hơn hiệu lực thi hành pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Do được quy định lồng ghép trong nhiều văn bản pháp luật với giá trị hiệu lực khác nhau, nên dẫn đến cơ chế điều chỉnh và thực hiện vấn đề nuôi con nuôi không thống nhất, thiếu đồng bộ; nhiều vấn đề thuộc quan hệ nuôi con nuôi chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc chỉ mới điều chỉnh ở mức độ khái quát, chưa đầy đủ và cụ thể. Luật nuôi con nuôi là đạo luật chuyên ngành, điều chỉnh thống nhất cả nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bao gồm cả các quy phạm luật nội dung và luật thủ tục, sẽ góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên, tạo ra sự gắn kết, liên thông giữa vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài – vốn là vấn đề lâu nay tồn tại trong hai khung pháp luật gần như riêng biệt.

Thứ ba, việc ban hành Luật nuôi con nuôi còn thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của Nhà nước ta đã đưa ra khi tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em, tôn trọng và bảo đảm các quyền trẻ em; bảo đảm việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em theo đúng tinh thần Công ước Lahay ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế mà Việt Nam chuẩn bị ký và phê chuẩn.

2. Quan điểm chỉ đạo

Dự án Luật nuôi con nuôi được xây dựng trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo cơ bản sau:

2.1. Luật nuôi con nuôi phải phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, bảo đảm việc cho trẻ em làm con nuôi được thực hiện trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, kiên quyết đấu tranh phòng chống hiện tượng mua bán trẻ em làm con nuôi hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi.

2.2. Điều chỉnh thống nhất nuôi vấn đề con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trong đó có biện pháp bảo đảm tăng cường giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu xếp được cho trẻ em làm con nuôi trong nước.

2.3. Bảo đảm kế thừa, tiếp tục phát triển các chế định về nuôi con nuôi còn phù hợp của Bộ luật Dân sự, Luật hôn nhân và gia đình đã qua thực tế kiểm nghiệm, đồng thời bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, khả thi của các chế định pháp luật về nuôi con nuôi trong mối tương quan hài hòa với pháp luật và thông lệ quốc tế trong bối cảnh nước ta chuẩn bị tham gia Công ước Lahay về nuôi con nuôi.

III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Để triển khai xây dựng dự án Luật, ngày 31/12/2008 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2596/QĐ-BTP thành lập Ban soạn thảo gồm đại diện lãnh đạo của Bộ Tư pháp (cơ quan chủ trì), Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, TƯ Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và một số nhà khoa học, chuyên gia từ Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) và Sở Tư pháp Hà Nội. Quá trình xây dựng dự án Luật còn có sự tham gia đóng góp ý kiến tích cực của một số chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia UNICEF tại Hà Nội. Dự án Luật đã được gửi lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định, đồng thời được đưa lên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để lấy ý kiến chung.

Để phục vụ việc xây dựng dự án Luật, tháng 9/2008 Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thi hành các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; yêu cầu các Sở Tư pháp sơ kết và báo cáo kết quả thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi trong nước. Song song với quá trình xây dựng dự án Luật, với sự hỗ trợ của UNICEF, trong tháng 4/2009 Bộ Tư pháp đã tham gia đoàn của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tiến hành điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật về nuôi con nuôi tại các tỉnh/thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đà Nẵng và Bắc Ninh; trong tháng 6/2009, Bộ Tư pháp đã chủ động tổ chức 03 đoàn kiểm tra, khảo sát, đánh giá tình hình thi hành pháp luật về nuôi con nuôi tại các tỉnh/thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Lai Châu. Kết quả của các đợt điều tra, khảo sát đã phục vụ tích cực cho việc xây dựng và hoàn thiện dự án Luật.

Đến nay, dự án Luật đã được hoàn thiện, cơ bản đã tiếp thu và chỉnh lý theo ý kiến của các bộ, ngành, được Hội đồng thẩm định đánh giá theo đúng quy định và nhất trí trình Chính phủ xem xét.

IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT

Dự án Luật nuôi con nuôi gồm 6 chương, 58 điều, với cơ cấu và những nội dung cơ bản như sau:

1. Chương I “Những quy định chung” gồm 13 điều (từ Điều 1 đến Điều 13), quy định về những vấn đề chung nhất liên quan đến nuôi con nuôi. Điểm mới quan trọng xin nhấn mạnh là nguyên tắc nuôi con nuôi đối với trẻ em (Điều 5 dự thảo). Nguyên tắc nuôi con nuôi được xây dựng trên cơ sở phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, cũng như phù hợp pháp luật và thông lệ quốc tế. Trong khi giải quyết việc nuôi con nuôi phải tôn trọng quyền trẻ em là được sống trong môi trường gia đình gốc; việc nuôi con nuôi chỉ là biện pháp thay thế gia đình; ưu tiên giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng.

2. Chương II “Nuôi con nuôi trong nước” gồm 18 điều (từ Điều 14 đến Điều 31), chia thành 5 mục với các nội dung cơ bản như sau:

Mục 1 “Quy định chung” (từ Điều 14 đến Điều 18). Trong mục này có hai vấn đề mới. Một là, hình thức nuôi con nuôi (Điều 14 dự thảo). Đây là quy định mới so với pháp luật hiện hành, theo đó, việc nuôi con nuôi ở Việt Nam được thực hiện dưới hai hình thức nuôi con nuôi đơn giản và nuôi con nuôi trọn vẹn. Hai là, biện pháp tìm gia đình thay thế cho trẻ em (Điều 15). Quy định này bảo đảm cho trẻ em có cơ hội tìm được mái ấm gia đình thay thế ở trong nước, phù hợp với Công ước Lahay mà Việt Nam chuẩn bị tham gia. Trách nhiệm thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em chủ yếu được giao Cơ quan con nuôi Trung ương thực hiện thông qua hình thức đăng tải lên Cổng thông tin điện tử. Trường hợp đã thực hiện biện pháp tìm gia đình thay thế trong nước mà không có hiệu quả, mới giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài.

Mục 2 “Nuôi con nuôi đơn giản” (từ Điều 19 đến Điều 21). Đây là hình thức nuôi con nuôi hiện hành, được đưa vào dự án Luật, có phát triển và quy định chặt chẽ hơn, rõ hơn đặc thù của quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Nuôi con nuôi đơn giản không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha, mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Mục 3 “Nuôi con nuôi trọn vẹn” (từ Điều 22 đến Điều 24). Đây là hình thức nuôi con nuôi mới được quy định trong dự thảo Luật, tuy rằng thực tế cũng đã tồn tại ở nước ta (đó là nuôi con nuôi đối với trẻ em bị mồ côi, bị bỏ rơi), cũng là hình thức nuôi con nuôi phổ biến ở nhiều nước. Việc nuôi con nuôi trọn vẹn làm phát sinh đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi, đồng thời làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha, mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi. Nuôi con nuôi trọn vẹn được áp dụng đối với trẻ em từ 15 tuổi trở xuống thuộc trường hợp mồ côi, bị bỏ rơi và có trẻ em mà cha, mẹ đẻ tự nguyện đồng ý cho làm con nuôi trọn vẹn. Việc bổ sung chế định này sẽ bảo đảm tốt hơn các quyền, lợi ích của trẻ em, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Mục 4 “Thủ tục đăng ký nuôi con nuôi” (từ Điều 25 đến Điều 27) quy định về hồ sơ, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi, kiểm tra việc nuôi con nuôi. Mục này được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, đúc kết thực tiễn và nâng lên thành luật, nhưng quy định chặt chẽ hơn đối với việc đăng ký nuôi con nuôi trọn vẹn (Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh điều kiện nuôi con nuôi trước khi đăng ký).

Mục 5 “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” (từ Điều 28 đến Điều 31). Đây là sự kế thừa các quy định hiện hành, có mở rộng thêm hai căn cứ để Tòa án tiến hành chấm dứt việc nuôi con nuôi, bảo đảm phù hợp với thực tiễn đòi hỏi.

3. Chương III “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” gồm 18 điều (từ Điều 32 đến Điều 49), chia thành 3 mục với những nội dung cơ bản như sau:

Mục 1 “Quy định chung” (từ Điều 32 đến Điều 38), chủ yếu bao gồm những quy định còn phù hợp của Nghị định 68/2002/NĐ-CP, đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nâng lên thành luật.

Mục 2 “Thủ tục giải quyết việc trẻ em làm con nuôi người nước ngoài” (từ Điều 39 đến Điều 45), chủ yếu kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định 68/2002/NĐ-CP, đã được thực tiễn kiểm nghiệm và được nâng lên thành luật. Trong mục này có một vấn đề mới (Điều 42) về thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi. Thực tiễn hiện nay việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài là do cơ sở nuôi dưỡng trẻ em thực hiện. Nhiều nước cho rằng, cơ sở nuôi dưỡng vừa tiếp nhận trẻ em, vừa tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo lại đồng thời giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi, như vậy là trái với thông lệ quốc tế.

Để khắc phục tình trạng này, nhằm bảo đảm việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi được thực hiện một cách khách quan, phù hợp với thông lệ quốc tế, dự thảo Luật quy định Cơ quan con nuôi Trung ương tiến hành giới thiệu trẻ em làm con nuôi, sau khi đã tìm gia đình thay thế cho trẻ em ở trong nước không có hiệu quả.

Mục 3 “Các quy định khác về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” (từ Điều 46 đến Điều 49) gồm các quy định có tính chất chung về việc công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau và việc đăng ký nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Đây không phải là những vấn đề phổ biến và không có tính ổn định, nên dự án Luật chỉ quy định một cách chung nhất, còn giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể.

4. Chương IV “Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về nuôi con nuôi” gồm 4 điều (từ Điều 50 đến Điều 53), quy định trách nhiệm của Chính phủ, của Bộ Tư pháp trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý về nuôi con nuôi; trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, các bộ, ngành khác phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý về nuôi con nuôi; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện quản lý về nuôi con nuôi ở địa phương.

5. Chương V “Xử lý vi phạm” gồm hai điều (Điều 54 và Điều 55), quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong quan hệ nuôi con nuôi và xử lý vi phạm pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn khi giải quyết việc nuôi con nuôi.

6. Chương VI “Điều khoản cuối cùng” gồm 03 điều (56, 57 và 58) quy định về hiệu lực thi hành, quy định chuyển tiếp và trách nhiệm của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật. Về quy định chuyển tiếp, dự án Luật (Điều 57) quy định việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực, nhưng quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đã phát sinh và được thừa nhận trong thực tế cộng đồng dân cư, thì được Nhà nước công nhận và được đăng ký quá hạn theo thủ tục do Chính phủ quy định. Đây là quy định cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi mà chủ yếu do nhận thức hạn chế, không am hiểu pháp luật nên người dân không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

V. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN Ý KIẾN KHÁC NHAU

Dự án Luật được hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu ý kiến đóng góp của các bộ, ngành, các chuyên gia trong và ngoài nước. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề có ý kiến khác nhau như sau:

1. Về phạm vi điều chỉnh. Có ý kiến đề nghị phạm vi điều chỉnh của dự án Luật, ngoài phạm vi như dự thảo, nên quy định thêm những vấn đề khác liên quan đến nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, như nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, thành lập Quỹ hỗ trợ nuôi con nuôi.

Về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

– Vấn đề nuôi con nuôi ở khu vực biên giới là vấn đề nhạy cảm, liên quan đến công dân của các nước láng giềng, Bộ Tư pháp đề nghị không nên quy định cụ thể trong Luật, mà đề nghị giao Chính phủ chỉ đạo cụ thể (Điều 50).

– Về việc thành lập Quỹ hỗ trợ nuôi con nuôi, là vấn đề mà trong quá trình soạn thảo, cơ quan soạn thảo muốn đưa vào dự án Luật. Nhưng đại diện Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (thành viên ban soạn thảo) đề nghị cân nhắc khi cho phép thành lập quỹ này, vì thực tế hiện nay đang có nhiều loại quỹ hoạt động vì mục đích bảo vệ trẻ em. Bên cạnh đó, một số chuyên gia quốc tế cũng đề nghị ta cân nhắc khi cho phép quỹ hỗ trợ nuôi con nuôi được tiếp nhận các khoản hỗ trợ nhân đạo trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như một điều kiện của việc cho trẻ em làm con nuôi. Tiếp thu các ý kiến này, Bộ Tư pháp nhất trí không quy định quỹ hỗ trợ nuôi con nuôi trong dự án Luật.

2. Về điều kiện đối với người nhận con nuôi trọn vẹn

Dự án Luật (Điều 22) quy định hai phương án: một là, người nhận con nuôi trọn vẹn phải có đủ điều kiện nuôi con nuôi như người nhận con nuôi đơn giản; hai là, người nhận con nuôi trọn vẹn phải có đủ điều kiện như người nhận con nuôi đơn giản, ngoài ra còn phải có thêm điều kiện về kinh tế, sức khỏe và không bị tiền án nói chung. Bộ Tư pháp nhất trí với phương án hai, nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi trọn vẹn được thực hiện chặt chẽ hơn.

Trên đây là những nội dung cơ bản của dự án Luật nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp xin kính trình Chính phủ xem xét, quyết định.

(Xin gửi kèm theo dự thảo Luật nuôi con nuôi và Tờ trình: báo cáo kết quả của Hội đồng thẩm định; bản chụp công văn góp ý của các bộ, ngành; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến các bộ, ngành; báo cáo tổng kết 5 năm thi hành pháp luật về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; báo cáo sơ lược về đánh giá tác động của dự án Luật nuôi con nuôi; bản thuyết minh về dự án Luật nuôi con nuôi; tài liệu tham khảo pháp luật các nước về nuôi con nuôi)./.

BỘ TRƯỞNG

Hà Hùng Cường

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: