DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật Nuôi con nuôi.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về điều kiện nuôi con nuôi; trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi; chấm dứt việc nuôi con nuôi; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về nuôi con nuôi; xử lý vi phạm về nuôi con nuôi.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này được áp dụng đối với quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau; giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi sau khi đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Nuôi con nuôi đơn giản là việc nuôi con nuôi làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhưng không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Nuôi con nuôi trọn vẹn là việc nuôi con nuôi làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, đồng thời làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ.

4. Người nhận con nuôi là vợ chồng hoặc cá nhân. Vợ chồng là hai người khác giới tính, có quan hệ hôn nhân hợp pháp.

5. Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú tại Việt Nam.

6. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.

7. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được nhận làm con nuôi là trẻ em mồ côi; trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em bị lạm dụng hay ngược đãi nghiêm trọng và trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo khác.

8. Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha và mẹ đã chết hoặc có cha hay mẹ đã chết, còn người kia không xác định được.

9. Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ sơ sinh bị bỏ lại cơ sở y tế mà không được cha, mẹ, người thân thích thừa nhận hoặc không xác định được cha, mẹ, người thân thích và trẻ em được tìm thấy mà không xác định được cha, mẹ, người thân thích.

10. Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em là cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ sở bảo trợ xã hội và cơ sở khác được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, có chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em.

Điều 4. Bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi

Nhà nước bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi của trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và quyền nuôi con nuôi của cá nhân được thực hiện theo Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Điều 5. Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi

1. Khi xem xét giải quyết việc nuôi con nuôi phải tôn trọng quyền của trẻ em là được sống trong gia đình gốc; việc nuôi con nuôi chỉ là giải pháp thay thế gia đình đối với trẻ em.

2. Chỉ giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài sau khi đã thực hiện biện pháp tìm gia đình thay thế mà không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi.

3. Ưu tiên giải quyết làm con nuôi đối với trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo khác mà không phải tiến hành biện pháp tìm gia đình thay thế.

Điều 6. Mục đích nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình.

Điều 7. Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi

1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.

2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

3. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau định cư ở nước ngoài, việc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam tạm trú ở nước ngoài làm con nuôi.

Điều 8. Quyền của trẻ em được biết về nguồn gốc

Trẻ em được nhận làm con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình.

Điều 9. Giữ bí mật về nuôi con nuôi trọn vẹn

Các thông tin liên quan đến người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi trọn vẹn này được giữ bí mật và chỉ được sử dụng trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, phù hợp với quy định tại Điều 8 của Luật này.

Điều 10. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi nhằm bảo vệ trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, có biện pháp ngăn ngừa và xử lý các hành vi mua bán trẻ em hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi.

Điều 11. Áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi

1. Trong trường hợp Luật này có quy định khác với các văn bản pháp luật khác về nuôi con nuôi, thì áp dụng quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 12. Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí

Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí giải quyết việc nuôi con nuôi, lệ phí đăng ký việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.

Điều 13. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, mua bán trẻ em.

2. Môi giới nuôi con nuôi nhằm mục đích thu lợi.

3. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người già yếu, cô đơn để hưởng chế độ, chính sách của Nhà nước hoặc để vụ lợi mà không vì mục đích nuôi con nuôi.

4. Cho, nhận và làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi lần thứ hai đối với người đang được nhận làm con nuôi.

5. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, chính sách về dân số, kế hoạch hoá gia đình.

6. Việc nuôi con nuôi giữa ông, bà và cháu, giữa anh, chị, em với nhau dẫn đến làm đảo lộn ngôi thứ trong quan hệ gia đình.

7. Việc nuôi con nuôi xuất phát từ định kiến giới, dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ.

8. Việc nuôi con nuôi dẫn đến vi phạm phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Chương II

NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC

Mục 1

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 14. Hình thức nuôi con nuôi

1. Việc nuôi con nuôi tại Việt Nam được thực hiện theo hình thức nuôi con nuôi đơn giản và nuôi con nuôi trọn vẹn.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.

Điều 15. Biện pháp tìm gia đình thay thế cho trẻ em

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều này, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và khả năng của mình, thực hiện các biện pháp cần thiết để tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

2. Việc thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em được thực hiện như sau:

a) Đối với trẻ em sống tại gia đình mà cha, mẹ, ông, bà, anh, chị ruột hoặc những người thân thích khác không có khả năng nuôi dưỡng trẻ em, thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của trẻ em có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã để tìm biện pháp hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em hoặc tìm gia đình thay thế cho trẻ em.

b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tìm biện pháp hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại địa phương hoặc thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương trong thời hạn 30 ngày để tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, thì việc thông báo tìm gia đình thay thế được thực hiện kết hợp với thông báo về trẻ em bị bỏ rơi trước khi làm thủ tục khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Việc cho trẻ em làm con nuôi được giải quyết sau khi hết thời hạn thông báo.

c) Đối với trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng, thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc cơ quan chủ quản có trách nhiệm hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ và danh sách trẻ em, gửi Sở Tư pháp thẩm tra để chuyển cho Cơ quan con nuôi Trung ương.

d) Cơ quan con nuôi Trung ương có trách nhiệm thông báo trên Cổng thông tin điện tử trong thời hạn 60 ngày để tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Điều 16. Đăng ký nhu cầu nhận nuôi con nuôi

Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước có đủ điều kiện và nhu cầu nhận trẻ em làm con nuôi mà chưa xác định được trẻ em cần xin làm con nuôi, thì đăng ký nhu cầu với Sở Tư pháp, nơi thường trú hoặc với Cơ quan con nuôi Trung ương.

Điều 17. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ và người được nhận làm con nuôi

Việc nhận trẻ em làm con nuôi phải được sự đồng ý của cha, mẹ đẻ của trẻ em. Trường hợp cha hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được, thì chỉ cần sự đồng ý của người kia; nếu cả cha, mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được, thì phải được sự đồng ý của người giám hộ của trẻ em.

Việc nhận trẻ em từ 09 tuổi trở lên làm con nuôi còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

Điều 18. Yêu cầu về sự đồng ý để trẻ em làm con nuôi

1. Trước khi đồng ý để trẻ em làm con nuôi, những người quy định tại Điều 17 của Luật này phải được thông báo, tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; hình thức nuôi con nuôi đơn giản hay trọn vẹn; quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi; việc không chấm dứt hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con được nhận làm con nuôi.

2. Việc đồng ý để trẻ em làm con nuôi phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe doạ hay mua chuộc, không được trả tiền hoặc bồi thường để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi.

3. Việc đồng ý để trẻ em làm con nuôi phải được thể hiện bằng văn bản theo mẫu quy định.

4. Chỉ được đồng ý để trẻ em làm con nuôi sau khi trẻ em đã được sinh ra và sự đồng ý đó không thể rút lại sau khi đã đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Mục 2

NUÔI CON NUÔI ĐƠN GIẢN

Điều 19. Điều kiện đối với người nhận con nuôi đơn giản

1. Người nhận con nuôi đơn giản phải có các điều kiện sau:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có tư cách đạo đức tốt;

d) Có điều kiện thực tế bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi chưa thành niên;

đ) Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp vợ, chồng cùng nhận con nuôi thì cả vợ, chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người nhận con nuôi có thể nhận một hoặc nhiều người làm con nuôi đơn giản.

Điều 20. Người được nhận làm con nuôi đơn giản

Người được nhận làm con nuôi đơn giản là trẻ em từ 15 tuổi trở xuống không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này.

Người trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn.

Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi đơn giản

1. Kể từ thời điểm việc nuôi con nuôi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cha, mẹ nuôi và con nuôi đơn giản có quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ đẻ và con theo quy định từ Điều 34 đến Điều 46 của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Con nuôi đơn giản trước đây là con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng, thì vẫn tiếp tục được hưởng quyền lợi của con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật.

3. Theo thỏa thuận giữa cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi, con nuôi đơn giản được thay đổi họ theo họ của cha, mẹ nuôi hoặc vẫn giữ nguyên họ của mình; vẫn duy trì quyền, nghĩa vụ với cha, mẹ đẻ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Mục 3

NUÔI CON NUÔI TRỌN VẸN

Điều 22. Điều kiện đối với người nhận con nuôi trọn vẹn

Phương án 1:

Người nhận con nuôi trọn vẹn phải có các điều kiện quy định tại Điều 19 của Luật này.

Phương án 2:

Ngoài các điều kiện quy định tại Điều 19 của Luật này, người nhận con nuôi trọn vẹn còn phải có các điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở ổn định bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi và không có tiền án.

Điều 23. Trẻ em được nhận làm con nuôi trọn vẹn

Trẻ em được nhận làm con nuôi trọn vẹn là trẻ em từ đủ 15 tuổi trở xuống đang sống tại gia đình hoặc cơ sở nuôi dưỡng, bao gồm:

1. Trẻ em mồ côi;

2. Trẻ em bị bỏ rơi;

3. Trẻ em mà cha, mẹ đẻ đồng ý cho làm con nuôi trọn vẹn.

Điều 24. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi trọn vẹn

1. Kể từ thời điểm việc nuôi con nuôi trọn vẹn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cha, mẹ nuôi và con nuôi trọn vẹn có quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con theo quy định từ Điều 34 đến Điều 46 của Luật hôn nhân và gia đình.

Con nuôi trọn vẹn còn có quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 47, 48 và 49 của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Con nuôi trọn vẹn trước đây là con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng, vẫn được hưởng quyền lợi của con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cha, mẹ nuôi là thương binh, người có công với cách mạng, thì con nuôi trọn vẹn được hưởng mọi quyền lợi của con thương binh, con của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật; cha, mẹ nuôi là người dân tộc ít người, thì con nuôi trọn vẹn cũng được hưởng quyền lợi như trẻ em thuộc dân tộc ít người.

3. Con nuôi trọn vẹn được thay đổi họ theo họ của cha, mẹ nuôi.

Mục 4

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI

Điều 25. Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi

1. Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi đơn giản gồm các giấy tờ sau:

a) Đơn của người nhận con nuôi theo mẫu quy định;

b) Bản sao giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi;

c) Văn bản đồng ý để trẻ em làm con nuôi theo mẫu quy định hoặc/và quyết định tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em được nhận làm con nuôi đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng.

2. Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi trọn vẹn gồm các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này và các giấy tờ sau:

a) Giấy khám sức khoẻ của người nhận con nuôi do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

b) Phiếu lý lịch tư pháp;

c) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có Biên bản xác nhận về tình trạng trẻ em bị bỏ rơi; đối với trẻ em mồ côi, phải có bản sao Giấy chứng tử của cha, mẹ đẻ.

3. Hồ sơ được lập thành 02 bộ và nộp tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi.

Khi nộp hồ sơ, người nhận con nuôi phải xuất trình chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy đăng ký kết hôn nếu vợ, chồng cùng nhận con nuôi.

Điều 26. Hướng dẫn lập hồ sơ xin nhận con nuôi

1. Trong thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định tại Điều 15 của Luật này mà có người trong nước muốn nhận trẻ em làm con nuôi, Sở Tư pháp hướng dẫn đương sự lập hồ sơ theo quy định tại Điều 25 của Luật này để nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi.

2. Trường hợp trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm lập và cấp hồ sơ của trẻ em cho người nhận con nuôi.

Điều 27. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi

1. Đối việc nuôi con nuôi đơn giản, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu xét thấy người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này, thì quyết định đăng ký và ghi vào sổ theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

2. Đối với việc nuôi con nuôi trọn vẹn, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và xác minh các điều kiện của người nhận con nuôi. Nếu xét thấy người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật này, thì quyết định đăng ký và ghi vào sổ việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

3.Trường hợp người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi không đáp ứng đủ điều kiện, việc nuôi con nuôi thuộc trường hợp bị cấm, mục đích nuôi con nuôi không phù hợp với quy định của pháp luật, Uỷ ban nhân dân xã từ chối đăng ký và thông báo bằng văn bản cho đương sự.

Mục 5

CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI

Điều 28. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau:

1. Con nuôi đã thành niên và cha, mẹ nuôi tự nguyện thoả thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có lý do chính đáng.

2. Cha, mẹ nuôi và cha, mẹ đẻ thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi, vì lợi ích tốt nhất của con nuôi; đối với con nuôi chưa thành niên từ 09 tuổi trở lên, thì phải có ý kiến của trẻ em.

3. Cha mẹ nuôi gặp sự cố bất ngờ về sức khỏe, tài chính, gia đình, xã hội, dẫn đến mất điều kiện và khả năng thực tế để bảo đảm việc nuôi con nuôi.

4. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi.

5. Cha, mẹ nuôi bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con nuôi chưa thành niên hoặc bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con nuôi; dụ dỗ, ép buộc con nuôi thực hiện hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 29. Người có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

1. Cha, mẹ nuôi.

2. Con nuôi đã thành niên.

3. Cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, khi có căn cứ quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Luật này:

a) Cơ quan tư pháp;

b) Hội liên hiệp phụ nữ;

c) Cơ quan Lao động – Thương binh và xã hội.

Điều 30. Cơ quan có thẩm quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi cha, mẹ nuôi thường trú, có thẩm quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 31. Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi

1. Quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ thời điểm quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Tòa án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng.

2. Trường hợp con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi, thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước đây.

Chương III

NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Mục 1

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 32. Phạm vi áp dụng

Chương này được áp dụng để giải quyết việc người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi và việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam.

Điều 33. Hình thức nuôi con nuôi và pháp luật áp dụng

1. Việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chỉ được thực hiện theo hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn.

2. Việc nuôi con nuôi diễn ra tại Việt Nam, thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi được xác định theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam; việc nuôi con nuôi diễn ra ở nước ngoài, thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi được xác định theo pháp luật của nước nơi diễn ra việc nuôi con nuôi.

Điều 34. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người thường trú tại nước mà nước đó với Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi, có thể nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, nếu có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 22 của Luật này và pháp luật của nước, nơi người đó thường trú.

2. Người thường trú tại nước mà nước đó không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam, có thể nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, nếu có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này và thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam.

b) Có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được nhận làm con nuôi.

c) Đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi.

d) Có thời gian công tác, học tập, làm việc liên tục tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên.

Điều 35. Trẻ em được nhận làm con nuôi

Trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em quy định tại Điều 23 của Luật này, nếu sau khi đã thực hiện biện pháp tìm gia đình thay thế theo quy định tại Điều 15 của Luật này mà không được công dân trong nước nhận làm con nuôi.

Điều 36. Nhận trẻ em làm con nuôi để chữa bệnh

Trường hợp người nước ngoài nhận trẻ em khuyết tật, tàn tật, nhiễm HIV/AIDS, nạn nhân của chất độc hóa học hoặc mắc bệnh hiểm nghèo làm con nuôi để có điều kiện chữa bệnh ở nước ngoài, thì được xem xét giải quyết mà không cần thực hiện biện pháp tìm gia đình thay thế theo quy định tại Điều 15 của Luật này.

Điều 37. Cơ quan có thẩm quyền giới thiệu trẻ em làm con nuôi

Cơ quan con nuôi Trung ương có thẩm quyền giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài theo thủ tục quy định tại Điều 42 của Luật này.

Điều 38. Dịch, hợp pháp hoá giấy tờ, tài liệu

1. Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc công chứng phải được hợp pháp hoá lãnh sự khi sử dụng tại Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ nhận con nuôi bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Mục 2

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC TRẺ EM LÀM CON NUÔI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Điều 39. Yêu cầu về hồ sơ của người nhận con nuôi

1. Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm các giấy tờ sau:

a) Đơn xin nhận con nuôi theo mẫu quy định;

b) Bản chụp Hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế;

c) Giấy phép do cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, cho phép người đó nhận con nuôi Việt Nam;

d) Bản điều tra về tâm lý, gia đình, xã hội của người nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi người nhận con nuôi thường trú cấp;

đ) Giấy xác nhận về tình trạng sức khoẻ do tổ chức y tế có thẩm quyền của nước, nơi người nhận con nuôi thường trú hoặc tổ chức y tế từ cấp tỉnh trở lên của Việt Nam cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày Cơ quan con nuôi Trung ương nhận hồ sơ, xác nhận người đó có đủ sức khoẻ để bảo đảm việc nuôi con nuôi;

e) Giấy xác nhận về tình trạng tài sản, khả năng kinh tế, tình hình thu nhập, chỗ ở của người nhận con nuôi đủ bảo đảm việc nuôi con nuôi;

g) Phiếu lý lịch tư pháp của người nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi người đó thường trú cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày Cơ quan con nuôi Trung ương nhận hồ sơ, xác nhận người đó có nhân thân tốt, không có tiền án;

h) Bản sao giấy chứng nhận kết hôn của hai người nhận con nuôi là vợ chồng hoặc bản cam kết không có quan hệ đồng tính, nếu người nhận con nuôi là độc thân.

2. Các giấy tờ nói tại khoản 1 Điều này được lập thành 02 bộ và nộp tại Cơ quan con nuôi Trung ương.

Điều 40. Yêu cầu về hồ sơ của trẻ em

1. Hết thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định tại Điều 15 của Luật này mà không có người trong nước nhận làm con nuôi, Sở Tư pháp hướng dẫn cha, mẹ đẻ, người giám hộ hoặc người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em.

2. Hồ sơ của trẻ em gồm các giấy tờ sau:

a) Bản sao Giấy khai sinh của trẻ em;

b) Giấy chứng nhận về sức khoẻ của trẻ em do cơ quan y tế cấp tỉnh trở lên cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày Cơ quan con nuôi Trung ương nhận hồ sơ;

c) Giấy đồng ý để trẻ em làm con nuôi theo mẫu quy định;

d) Hai ảnh màu của trẻ em chụp toàn thân, nhìn thẳng, cỡ 10cm x 15cm;

đ) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có Biên bản xác nhận về việc trẻ em bị bỏ rơi; đối với trẻ em mồ côi, phải có bản sao Giấy chứng tử của cha, mẹ đẻ;

e) Giấy tờ chứng minh việc đã thực hiện biện pháp tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định tại Điều 15 của Luật này, trừ trường hợp nhận trẻ em nói tại Điều 36 của Luật này.

3. Hồ sơ của trẻ em được lập thành 03 bộ và nộp cho Sở Tư pháp.

Điều 41. Kiểm tra, xác minh hồ sơ của trẻ em

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của trẻ em, Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra, xác minh toàn bộ hồ sơ. Trường hợp cần bổ sung giấy tờ hoặc trong hồ sơ có vấn đề chưa rõ, Sở Tư pháp yêu cầu bổ sung hoặc giải trình.

2. Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có nguồn gốc không rõ ràng hoặc có dấu hiệu mua bán trẻ em, Sở Tư pháp đề nghị cơ quan Công an cùng cấp điều tra, xác minh.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an có trách nhiệm điều tra, xác minh và trả lời kết quả cho Sở Tư pháp, trong đó nêu rõ kết quả điều tra, xác minh về vấn đề Sở Tư pháp yêu cầu.

3. Nếu xét thấy hồ sơ của trẻ em đầy đủ, hợp lệ, trẻ em có nguồn gốc rõ ràng và có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi, Sở Tư pháp gửi 01 bộ hồ sơ cho Cơ quan con nuôi Trung ương.

Điều 42. Thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi

1. Sau khi kết thúc thời hạn tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em theo quy định tại Điều 15 của Luật này mà không có người nhận trẻ em làm con nuôi, thì căn cứ vào nhu cầu, đặc điểm, nguyện vọng và lợi ích tốt nhất của trẻ em, Cơ quan con nuôi Trung ương tiến hành giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài và thông báo bằng văn bản cho người nhận con nuôi biết về trẻ em được giới thiệu.

2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Cơ quan con nuôi Trung ương, người nhận con nuôi có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về trẻ em đã được giới thiệu làm con nuôi.

Trường hợp người nhận con nuôi từ chối mà không có lý do chính đáng, thì sau 12 tháng mới được giới thiệu trẻ em khác.

Điều 43. Trình tự xử lý hồ sơ và ra quyết định

1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của người nhận con nuôi, Cơ quan con nuôi Trung ương gửi văn bản cho Sở Tư pháp để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, kèm theo 01 bộ hồ sơ của người nhận con nuôi, đồng thời thông báo cho người nhận con nuôi đến Việt Nam để hoàn tất thủ tục.

2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Cơ quan con nuôi Trung ương gửi, Sở Tư pháp tiến hành báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ văn bản giới thiệu của Cơ quan con nuôi Trung ương, ý kiến đề xuất của Sở Tư pháp, quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi.

Điều 44. Đăng ký vào sổ và giao nhận con nuôi

1. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi vào sổ hộ tịch theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức việc giao nhận con nuôi.

2. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày hoàn tất thủ tục giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi cho Cơ quan con nuôi Trung ương quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh cho trẻ em làm con nuôi, Biên bản giao nhận trẻ em làm con nuôi và các giấy tờ liên quan khác để Cơ quan con nuôi Trung ương thực hiện việc theo dõi chung.

Điều 45. Trách nhiệm báo cáo tình hình phát triển của con nuôi

Định kỳ sáu tháng một lần, cha mẹ nuôi có trách nhiệm gửi cho Cơ quan con nuôi Trung ương và Sở Tư pháp báo cáo về tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi trong ba năm đầu tiên; báo cáo có thể được gửi thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam.

Mục 3

CÁC QUY ĐỊNH KHÁC VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Điều 46. Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi

1. Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải tuân theo pháp luật của nước nơi trẻ em có quốc tịch và theo quy định tại Điều 22 của Luật này.

2. Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra, xác minh điều kiện về tâm lý, hoàn cảnh gia đình và xã hội, khả năng kinh tế, sức khoẻ và các điều kiện khác của người nhận con nuôi; Cơ quan con nuôi Trung ương cấp giấy xác nhận người nhận con nuôi có đủ điều kiện để nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam.

3. Sau khi được giải quyết nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, công dân Việt Nam có trách nhiệm làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại Sở Tư pháp, nơi người đó thường trú, theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Điều 47. Hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam

1. Tổ chức con nuôi nước ngoài của nước là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam, có thể được cấp phép hoạt động nhân đạo phi lợi nhuận tại Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau:

a) Được cơ quan có thẩm quyền nước nơi thành lập cho phép hoạt động tại Việt Nam;

b) Người đại diện có đủ điều kiện về đạo đức, chuyên môn và kinh nghiệm;

c) Có thời gian hoạt động trong lĩnh vực con nuôi quốc tế liên tục từ 03 năm trở lên, không vi phạm pháp luật trong suốt thời gian hoạt động và được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tổ chức thành lập xác nhận.

2. Chính phủ quy định về thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép; quyền và nghĩa vụ của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 48. Việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam

1. Việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam được xem xét giải quyết, nếu các bên có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của Luật này.

2. Thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam được thực hiện theo thủ tục giải quyết việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Điều 49. Đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau định cư ở nước ngoài mà không đồng thời có quốc tịch nước ngoài, việc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam tạm trú ở nước ngoài làm con nuôi và việc người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam đang ở nước ngoài chữa bệnh theo thủ tục do Chính phủ quy định.

Chương IV

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VỀ NUÔI CON NUÔI

Điều 50. Trách nhiệm của Chính phủ

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành chức năng đàm phán với cơ quan có thẩm quyền của các nước láng giềng để giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với công dân của nước láng giềng trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Điều 51. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

1. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi trong phạm vi cả nước; báo cáo Chính phủ về tình hình thi hành pháp luật về nuôi con nuôi; thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan con nuôi Trung ương theo quy định của Luật này.

2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; chỉ đạo, hướng dẫn ngành lao động, thương binh và xã hội trong công tác quản lý, nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ em tại các cơ sở nuôi dưỡng; bảo đảm việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi theo đúng quy định của pháp luật.

3. Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

4. Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; chỉ đạo thực hiện các biện pháp ngăn ngừa và xử lý các hành vi lợi dụng việc nuôi con nuôi nhằm mua bán, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục trẻ em; hướng dẫn Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác minh nguồn gốc của trẻ em được cho làm con nuôi khi có yêu cầu.

5. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi.

Điều 52. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi tại địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về nuôi con nuôi theo quy định của Luật này.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã định kỳ kiểm tra việc thực hiện nuôi con nuôi tại địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về nuôi con nuôi theo quy định của Luật này.

Điều 53. Trách nhiệm của tổ chức chính trị – xã hội

1. Mặt trận Tổ quốc các cấp tham gia giám sát việc thực hiện nuôi con nuôi, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

2. Hội Liên hiệp phụ nữ và các thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm vận động các thành viên của mình thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật về nuôi con nuôi; kịp thời hòa giải mâu thuẫn về nuôi con nuôi trong nhân dân; tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nuôi.

Chương V

XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 54. Xử lý vi phạm pháp luật trong quan hệ nuôi con nuôi

Người nào vi phạm điều kiện nuôi con nuôi; cản trở việc nuôi con nuôi đúng pháp luật; giả mạo giấy tờ để đăng ký nuôi con nuôi; hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con nuôi, cha mẹ nuôi; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con nuôi; phân biệt đối xử giữa con nuôi và con đẻ hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật khác về nuôi con nuôi, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 55. Xử lý vi phạm pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đăng ký nuôi con nuôi trái pháp luật; vi phạm thẩm quyền, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi; không thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nuôi hoặc cha, mẹ nuôi; có hành vi khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về nuôi con nuôi, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 56. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.

Điều 57. Quy định chuyển tiếp

Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực, nhưng quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đã được thừa nhận trong cộng đồng dân cư, thì được đăng ký quá hạn và công nhận có giá trị pháp lý.

Chính phủ quy định thủ tục đăng ký quá hạn đối với việc nuôi con nuôi quy định tại Điều này, bảo đảm thuận lợi và phù hợp với điều kiện thực tế của nhân dân ở các vùng, miền.

Điều 58. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật này; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

________________________________________________________________

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày … tháng … năm 2010.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Phú Trọng

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: