QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ

TRỌNG BẢO

Xét về bản chất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính, thiết lập giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân khác trong xã hội và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy.

Xét về bản chất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính, thiết lập giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân khác trong xã hội và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy. Dưới góc độ vật chất, quan hệ pháp luật thuế được thiết lập để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Tiền đề thiết lập quan hệ pháp luật thuế là do sự hình thành chính thể nhà nước để quản lý điều hành các hoạt động trong xã hội. Bộ phận chức năng ấy cần có nguồn vật chất hoạt động, nên thuế hình thành. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là người nộp thuế (NNT) buộc phải chuyển giao một phần lợi ích của mình cho NSNN. Điều 80 Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận "Đóng thuế là nghĩa vụ của công dân". Vì thế, khi thiết lập quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là NNT trước khi Luật Quản lý thuế ra đời, thường chỉ được nhìn nhận dưới góc độ phải thực hiện nghĩa vụ mà có rất ít quyền. Vì có ít, hoặc không xác định rõ quyền của NNT khiến cho chủ thể này cảm thấy mình bị cưỡng bức, bị tước bỏ một phần lợi ích vật chất nên hệ quả là họ sẽ tìm cách để trốn tránh nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, NNT có thể còn bị các cơ quan, cán bộ công quyền nhũng nhiễu khi thực thi quyền hành thu thuế mà nhà nước trao. Việc nhận thức không đầy đủ này có thể gây thiệt hại cho Nhà nước lẫn NNT và xã hội nói chung vì những hao phí cho các mục tiêu không mang lại giá trị.

Theo quan điểm của Mác, quyền của con người là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, NNT cũng phải có một số quyền nhất định. Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho việc xác lập quyền của NNT có ý nghĩa trong việc bảo đảm hành thu thuế cho NSNN, bảo vệ lợi ích chính đáng của NNT.

1. Quyền của người nộp thuế

NNT là chủ thể một bên đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ pháp luật thuế. Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo, quản lý các lợi ích vật chất được hình thành trong xã hội. Cũng như các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành NNT trong quan hệ pháp luật thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải hội đủ năng lực chủ thể – năng lực hành vi. Nghĩa là tổ chức, cá nhân có thể là NNT khi họ thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định để thiết lập mối quan hệ với các giá trị vật chất, đánh dấu quyền sở hữu với giá trị mà mình tạo lập để từ đó, nhà nước có cơ sở để điều tiết thuế. Vì quyền sở hữu được xem là quyền tối cao và thiêng liêng để thực hiện quyền con người, cho nên, khi nhà nước điều tiết cũng phải tôn trọng quyền sở hữu của NNT. Quyền của NNT có thể phân thành hai nhóm sau:

Quyền gián tiếp – được hưởng các tiện ích do Nhà nước cung cấp

Bộ máy nhà nước hoạt động để duy trì một xã hội có tổ chức, theo đó mọi chủ thể trong xã hội được bảo đảm duy trì đời sống vật chất và tinh thần theo những đòi hỏi khách quan, nhưng không phá vỡ sự tồn tại của các chủ thể khác. Trong chừng mực nhất định, người ta có thể xem quan hệ pháp luật thuế là một quan hệ hợp đồng mà thanh toán tiền thuế là kết quả của việc thực hiện một bản hợp đồng giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội. Theo đó, Nhà nước là người tổ chức điều hành xã hội, cung ứng các tiện ích công cộng, ban hành các thể chế pháp lý, tạo hành lang pháp lý duy trì sự tồn tại bình đẳng của các chủ thể cùng sống trong Nhà nước mình. Các chủ thể trong xã hội hưởng những lợi ích này do Nhà nước cung ứng, nên phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Nhà nước một khoản giá trị nhất định.

NNT thường là chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiến hành các hoạt động khác để kiếm tìm giá trị mới như xuất nhập khẩu, hoặc thụ hưởng lợi ích vật chất từ quá trình sáng tạo, lao động hay do nắm giữ những quyền về tài sản nhất định. Họ tác động vào đối tượng chịu thuế của một sắc thuế, chịu sự điều chỉnh của sắc thuế đó và phải thực hiện nghĩa vụ cụ thể trong tổng thể nghĩa vụ thuế là đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế. Như vậy, NNT có quyền được hưởng các tiện ích và phúc lợi công cộng do Nhà nước cung cấp. Những lợi ích vật chất hay tinh thần mà Nhà nước cung cấp là những giá trị đặc biệt mà không chủ thể nào trong xã hội có khả năng thực hiện như: xây dựng các công trình công cộng, cung ứng phúc lợi xã hội, ban hành pháp luật, thành lập các cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp, bộ máy trấn áp… Ta có thể gọi đây là quyền gián tiếp vì nó không trực tiếp phát sinh từ nội hàm của quan hệ pháp luật thuế thuần tuý.

Quyền gián tiếp thể hiện sự quay trở lại của thuế đối với đời sống xã hội. Các giá trị được phân bổ trở lại cho các chủ thể, không chỉ dành riêng cho NNT, mà được phân bổ chung trong cộng đồng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Nhà nước và thực tiễn kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Vì vậy mà thuế được xem là khoản thu không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp. Bởi lẽ, không phải chủ thể nào trong xã hội cũng phải nộp thuế dù cho họ có thể là NNT. Họ chỉ phải nộp khi quan hệ xã hội mà họ tham gia chịu sự điều chỉnh của sắc thuế và quan hệ ấy mang giá trị. Mặt khác, việc NNT thụ hưởng các tiện ích Nhà nước cung cấp mang tính trừu tượng vì không xác định cụ thể được hưởng bao nhiêu và hưởng như thế nào, trong khi một chủ thể khác dù không nộp thuế cho Nhà nước nhưng họ vẫn có thể thụ hưởng tương tự. Cho dù thế nào đi nữa thì Nhà nước vẫn phải thực hiện việc cung ứng các giá trị công cộng như là một nhiệm vụ. Không chỉ có vậy, việc tạo lập và duy trì những giá trị này còn khẳng định sự tất yếu cần thiết phải có Nhà nước trong một xã hội có giai cấp. Nhóm quyền này được xem là mặc nhiên dù không có một văn bản pháp quy cụ thể nào đề cập – kể cả Hiến pháp – hoặc chỉ được đề cập một cách gián tiếp mà thôi. Mặc dù là gián tiếp, nhưng nhóm quyền này lại là quyền tuyệt đối, mặc nhiên hình thành và được thừa nhận trong xã hội có Nhà nước.

Nhận thức về nhóm quyền này của NNT có ý nghĩa trong việc phát huy hiệu quả công cụ thuế. Dù không được xác định cụ thể, nhưng việc ghi nhận các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước cũng như việc điều hành NSNN hàng năm là cách thể hiện việc đảm bảo quyền gián tiếp của NNT.

Quyền trực tiếp – phát sinh khi tham gia vào quan hệ pháp luật thuế

Quyền trực tiếp là quyền mà NNT có được trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế. Chúng được thừa nhận và bảo đảm thực hiện theo những quy định của pháp luật. Tuy vậy, không thể xem việc hưởng quyền của NNT trong trường hợp này là đương nhiên, là ngang bằng về mặt lợi ích. Đây là những quyền mà Nhà nước cho NNT hưởng trên cơ sở điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế cũng như đảm bảo hiệu quả của quá trình hành thu thuế, bảo đảm vai trò của thuế như là một công cụ điều tiết nền kinh tế, tạo sự công bằng trong xã hội. Nhà nước cho phép NNT được bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình, trong những trường hợp như: nộp thuế thừa so với yêu cầu của Nhà nước, lâm vào hoàn cảnh không thể tạo ra những lợi ích vật chất tương ứng để nộp thuế, bị cơ quan quản lý Nhà nước áp dụng pháp luật thuế không đúng gây thiệt hại…

Mặc dù là quyền trực tiếp, nhưng những quyền này chỉ có thể là quyền phái sinh. Nói cách khác đây là quyền tương đối. Điều đó có nghĩa là, NNT muốn thụ hưởng những quyền này thì phải đã thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ thuế và có thể phải tiến hành các thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định. Trong một số trường hợp (cơ quan chức năng phát hiện có dấu hiệu vi phạm phát luật thuế từ phía NNT), mặc dù NNT thoả mãn đầy đủ các điều kiện luật định để hưởng quyền, nhưng điều đó không có nghĩa là họ mặc nhiên được hưởng. Điều này phụ thuộc vào sự đánh giá, chấp thuận từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Thực thi những quyền này đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải xem xét chúng trong mối tương quan với việc đảm bảo của những chủ thể khác. Vấn đề là mức độ thực hiện nó ra sao để đảm bảo thực thi các quyền này, đồng thời không gây nên những tác động ngược chiều với những quyền khác. Thực thi các quyền tự nhiên chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên khác trong xã hội được hưởng các quyền đó, và các giới hạn này chỉ do pháp luật quy định. Pháp luật thuế vì thế cần ghi nhận và đặt ra giới hạn với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo thực thi quyền của NNT.

2. Một số quyền cơ bản của người nộp thuế theo pháp luật thuế

2.1. Quyền được hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế; cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế

Cơ chế một cửa đã đi vào vận hành thống nhất trên cả nước từ 1/7/2007, song thực tế cho thấy rằng, việc giải thích chính sách vẫn còn thực hiện ở một số bộ phận khác (kiểm tra thuế, kê khai thuế), việc này không đơn thuần là do thói quen, và hầu hết các vướng mắc của NNT chủ yếu vẫn được đáp ứng ở các kênh này. Sự phân tán này ít nhiều đã tạo ra sự thiếu thống nhất trong quá trình hướng dẫn, giải thích chính sách cho NNT, làm thiếu tin tưởng từ phía NNT đối với bộ phận một cửa, bởi không ít trường hợp xin tư vấn chỉ để thăm dò hay đối chứng mà thôi!

Thực tế này đòi hỏi, một mặt cần tăng cường lực lượng cán bộ có chuyên môn và phẩm chất tốt cho bộ phận một cửa; mặt khác, phải có biện pháp để cán bộ tại bộ phận một cửa phải là người phát ngôn duy nhất của cơ quan thuế, xét về mặt tuyên truyền – hướng dẫn -giải thích chính sách thuế cho NNT.

Mặt khác, khi đến cơ quan thuế để giải quyết các yêu cầu, thủ tục về thuế, NNT phải tuân thủ đúng các quy định của cơ quan thuế, tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế tại bộ phận một cửa để được hướng dẫn và thực hiện việc nộp các hồ sơ yêu cầu và nhận kết quả giải quyết, mọi giao dịch phải đi đúng cửa này. NNT không tự ý tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế thuộc các bộ phận chuyên môn để giải quyết yêu cầu, thủ tục hành chính thuế, tuyệt đối không được đưa bất kỳ một khoản thù lao nào cho cán bộ, công chức thuế mà không có trong quy định đã được công khai tại các văn bản pháp luật và tại bảng niêm yết ở trụ sở của cơ quan thuế. NNT phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu vi phạm các quy định này.

2.2. Quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Trường hợp NNT không thực hiện được đầy đủ sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ theo quy định thì áp dụng phương pháp ấn định thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Việc ấn định phải theo đúng nguyên tắc, trình tự và thủ tục của Luật Quản lý thuế, không phải ấn định tùy tiện. Theo Điều 37 Luật Quản lý thuế, NNT theo phương pháp kê khai bị ấn định thuế trong các trường hợp sau đây: không đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 10 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế

2.3. Quyền được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật

Thực tế trước đây, đã có những phản ứng trái ngược trong xã hội, khi cơ quan thuế công bố danh tính và mức thuế của những cá nhân có thu nhập cao nhất tại một địa phương. Có ý kiến cho rằng, việc làm đó vi phạm các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ bí mật đời tư, thiết lập trong luật dân sự; ngược lại, ý kiến khác, công chúng có quyền “tò mò” về sự sung túc của người này, người nọ, bởi suy cho cùng, sự “tò mò” ấy mang ý nghĩa lành mạnh của sự ngưỡng mộ, tôn vinh của xã hội đối với những người đã và đang thành công bằng tài năng, trí tuệ của riêng mình trong xã hội, nghề nghiệp. Tuy nhiên, mọi tranh cãi lúc đó về chuyện này trên bình diện pháp lý đều vô ích, bởi luật pháp ở Việt Nam vẫn còn loay hoay trong việc xây dựng các khái niệm đời công và đời tư của con người. Vì lý do đó, chưa thể đặt vấn đề công khai các thông tin về tài sản cá nhân là hợp pháp hay không (đây là nói công dân bình thường, không nói công chức từ cấp bậc nào đó trở lên phải công khai tài sản theo quy định của Luật Phòng chống tham nhũng).

Luật Quản lý thuế đã có quy định, cơ quan thuế có trách nhiệm giữ bí mật thông tin của NNT. Chẳng hạn, Điều 73 quy định: Cơ quan thuế, công chức thuế, người đã là công chức quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải giữ bí mật thông tin của NNT theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin của NNT cho các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước; các cơ quan quản lý khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật; cơ quan quản lý thuế nước ngoài phù hợp với điều ước quốc tế về thuế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên).

Song, theo kinh nghiệm của các nước phát triển, khi xã hội đã phổ biến ý thức tôn trọng quyền làm giàu chính đáng và quyền tư hữu, thì việc công bố tài sản và mức thuế lại có tác dụng tốt hơn là giữ bí mật về chúng, tất nhiên việc công bố này phải có sự đồng ý của đương sự. Bởi vậy, điều cần làm, trước cả việc xây dựng các quy tắc pháp lý cần thiết, là phổ biến quan niệm lành mạnh về quyền sở hữu tư nhân, quyền làm giàu chính đáng, để con người tập trung sự quan tâm và nỗ lực của bản thân vào việc làm thế nào để tự mình trở nên giàu có, hơn là vào việc quan tâm đến sự giàu có của người khác. Với sự phổ biến của ý thức làm giàu chính đáng, sự tò mò của xã hội sẽ tự điều chỉnh và trở nên có chừng mực. Người có tài sản không còn cảm thấy sức ép từ sự chú ý của công chúng và hoàn toàn thoải mái khi các thông tin về tài sản, về mức thuế đóng cho Nhà nước của mình được công bố. Việc công bố các thông tin về tình hình tài sản của cá nhân, cũng cần được thực hiện theo cung cách bình thường nhất trong cuộc sống, không bị coi là chuyện giật gân.

2.4. Quyền ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế

Hiện tại, hầu hết các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp mới thành lập đều có nhu cầu được tư vấn kê khai các loại thuế; lập báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân; hướng dẫn các nội dung của các luật thuế; tư vấn về các luật thuế quốc tế; hoạch định kế hoạch tiết kiệm thuế; hỗ trợ các doanh nghiệp giải đáp các thắc mắc trong lĩnh vực thuế… Tuy nhiên, hiện mới có một vài doanh nghiệp kiểm toán có dịch vụ tư vấn thuế, nhưng cũng đang hoạt động như một dịch vụ phụ trợ và chưa thu hút đông khách hàng như Công ty Kiểm toán quốc tế Việt Nam (VIA), Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO); Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC).

Thực tế, nếu doanh nghiệp hiểu biết và thành thạo trong các nghiệp vụ về thuế, có thể tiết kiệm thuế hơn và tạo ưu thế cạnh tranh trong kinh doanh. Khả năng giảm thuế đến mức tối thiểu của một doanh nghiệp tuỳ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định một chiến lược chủ động tiết kiệm thuế dựa trên sự tuân thủ các quy định của pháp luật. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng nên khẩn trương nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định hoạt động dịch vụ tư vấn thuế. Đồng thời, Chính phủ cần có các biện pháp xúc tiến và khuyến khích phát triển thị trường này, nhằm tăng thêm các hoạt động tư vấn thuế rộng rãi hơn, độc lập và khách quan hơn, nhằm đáp ứng đầy đủ quyền này của NNT.

2.5. Quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật

Khi cơ quan thuế ra quyết định phạt không đúng, hoặc quyết định thu sai thì NNT có quyền khiếu nại quyết định xử lý của cơ quan này lên cơ quan quản lý cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Khi cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận quyết định thu, phạt là sai, thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan thuế cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền thì NNT có quyền được thoái trả tiền thuế, tiền phạt đã nộp. Mặt khác, nếu quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều tiết thuế sai gây thiệt hại cho NNT thì người ra quyết định còn phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm vật chất.

Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại trong các trường hợp sau: quyết định hoàn thuế, ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật; xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế; xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định; áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không đảm bảo căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật về thuế, hải quan. Mặt khác, trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại về tiền, tài sản cho người bị thiệt hại nhưng được xác định là hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế không phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của cán bộ công chức thuế, hải quan gây ra.

Để đáp ứng quyền được bồi hoàn một cách xứng đáng, kịp thời, Bộ Tài chính cần khẩn trương có thông tư hướng dẫn.

2.6. Quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình

Để quyền này được đảm bảo thực hiện một cách nhanh nhất, có thể giao nhiệm vụ này cho bộ phận một cửa, trên cơ sở hệ thống thông tin quản lý thuế của các cấp mà bộ phận một cửa có thể tra khảo và xác nhận, không nhất thiết phải giao cho phòng kê khai và kế toán thuế. Trường hợp hồ sơ đề nghị xác nhận không đúng với số liệu trong cơ sở dữ liệu của ngành thuế thì trao đổi ý kiến với phòng kê khai và kế toán thuế để xác nhận cho NNT

2.7. Quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Công tác thuế không chỉ có tuyên truyền, hỗ trợ, tuân thủ pháp luật mà còn phải giải quyết khiếu nại, cải cách thủ tục hành chính. Tức là phải trao cho NNT quyền làm chủ trực tiếp nhất định, và chỉ cho họ con đường pháp lý cụ thể khi có sự bất đồng, tranh chấp về nghĩa vụ thuế với cơ quan thuế, công chức thuế theo đúng bản chất của một nhà nước dân chủ. Theo đó, NNT có quyền khiếu nại việc cán bộ thuế thi hành không đúng pháp luật thuế. Đơn khiếu nại được gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý thuế trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo hoặc quyết định xử lý của cán bộ thuế, cơ quan thuế. Tuy nhiên trong khi chờ giải quyết, NNT vẫn phải thực hiện theo thông báo hoặc quyết định xử lý của cơ quan thuế, cán bộ thuế. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại về thuế, cơ quan thuế phải xem xét giải quyết. Đối với vụ việc phức tạp thời gian giải quyết có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định của cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc quá hạn giải quyết mà không được trả lời thì có quyền khiếu nại đến cơ quan thuế cấp trên trực tiếp. Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính là quyết định cuối cùng.

Quan hệ pháp luật thuế về bản chất là quan hệ pháp luật hành chính, do vậy, khi phát sinh tranh chấp, NNT có thể khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính để bảo vệ quyền lợi của mình.

2.8. Quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác

Tố cáo là quyền cơ bản của mọi công dân, khi lợi ích (vật chất, tinh thần) của mình có nguy cơ bị xâm hại từ phía công chức thuế. Do vậy, để tạo thuận lợi cho việc tố cáo các hành vi vi phạm của công chức thuế, thực tế đang đòi hỏi cần xây dựng bản mô tả hành vi vi phạm và chế tài đối với công chức thuế thuế một cách rõ ràng và có hệ thống, một mặt giúp bộ máy ngành thuế hoạt động hiệu lực, hịêu quả, mặt khác còn giúp người dân và doanh nghiệp nhận biết được hành vi nào của công chức thuế là đúng quy định và chuẩn mực, để có cơ sở phản hồi hoặc kiến nghị một cách thích hợp. Mặt khác, các địa chỉ tố cáo cần được thông báo đầy đủ trên các website thuế từ Tổng cục Thuế đến các cơ quan thuế địa phương.

Tóm lại, NNT khi tham gia vào quan hệ pháp luật thuế vừa có quyền tuyệt đối, vừa có quyền tương đối. Quyền tương đối là quyền trực tiếp được pháp luật thể hiện trong các quy phạm pháp luật cụ thể và là quyền có điều kiện của NNT. Ngay cả khi NNT được Nhà nước công nhận những quyền này, nó cũng mang tính quyền uy, ban phát từ phía Nhà nước. Bên cạnh quyền cơ bản đã đề cập ở trên, chúng ta còn có thể xem xét thêm một số quyền khác; như được khen thưởng, được bồi thường, được áp dụng theo nguyên tắc có lợi… Tuy nhiên những quyền này hiện được pháp luật đề cập hết sức chung chung hoặc không đề cập. Vì lẽ đó, theo chúng tôi, cần phải có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong việc xác định thời điểm tham gia quan hệ pháp luật thuế, thời điểm được thực thi quyền của NNT. Điều đó cho phép NNT có quyền giải phóng mình khỏi những nghĩa vụ thuế đã hoàn thành, có quyền được hưởng nguyên tắc có lợi của pháp luật một khi Nhà nước thay đổi chính sách hoặc pháp luật thuế mà gây thiệt hại cho NNT. Việc quan tâm điều chỉnh các quyền trực tiếp của NNT cho phép tạo ra sự dân chủ, bình đẳng trên cơ sở giải quyết hài hoà các lợi ích xã hội, đảm bảo các điều kiện cần thiết để xây dựng một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh góp phần phát triển kinh tế, nâng cao ý thức và đời sống xã hội. /.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/ve-quyen-cua-nguoi-nop-thue/?searchterm="SỞ%20HỮU"

Advertisements

One Response

  1. Bài viết này của tác giả Trong Bảo đã copy gần như không sửa chữa phần đầu, phần I, Phần kết luận và một số nội dung ở Mục II từ bài viết “Một số vấn đề pháp lý về Quyền của Đối tượng nộp thuế” của tác giả Phan Thị Thành Dương đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 1/2005.
    Đề nghị tác giả Trọng Bảo xem lại việc làm của mình

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: