KỸ THUẬT LẬP PHÁP: MỘT LUẬT SỬA NHIỀU LUẬT

NGÔ ĐỨC MẠNH

Ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật

Đặt vấn đề

Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật phục vụ cho quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước ta, trong phiên họp lần thứ 26 của ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 3 năm 2005, nhiều ý kiến phát biểu đề xuất về việc ban hành một luật chung để sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan. Điều này đặt ra vấn đề, cần nghiên cứu để xác định khả năng hiện thực của phương án khi số lượng văn bản cần phải sửa đổi để đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO là khá nhiều và trong điều kiện, khả năng hiện có. Chúng tôi cho rằng, vấn đề ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO là một mục đích cụ thể), mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.

Tổng quan về quy trình làm luật hiện nay

Hiến pháp năm 1992 quy định nhiều chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận… Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật và kiến nghị về dự án luật. Tuy vậy, quy trình làm luật của chúng ta hiện nay đã được luật hoá toàn bộ và tiến hành theo chương trình, kế hoạch. Vì thế, việc xây dựng dự án luật, pháp lệnh chỉ chính thức khởi động khi có Ban soạn thảo được Chính phủ, ủy ban Thường vụ Quốc hội hay chủ thể khác thành lập căn cứ vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Quốc hội xem xét, quyết định. Điều này cũng có nghĩa là, khi cần sửa đổi những điều khoản cụ thể của một văn bản nào đó thì nhất thiết phải khởi động ngay từ đầu quy trình đề xuất để đưa vấn đề vào Chương trình rồi mới thành lập Ban soạn thảo và tổ chức soạn thảo dự án.

Ưu điểm của quy trình lập pháp

– Trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quy trình lập pháp được đề cao và xác định cụ thể. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi chủ thể tham gia vào quy trình lập pháp;

– Hình thành thói quen và kỹ năng nhất định trong tổ chức công việc của các Ban soạn thảo, cơ quan thẩm tra và các chủ thể khác có liên quan. Đội ngũ cán bộ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ở các bộ, ngành hữu quan ngày càng có nhiều kinh nghiệm trong việc chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh;

– Có sự phối hợp và gắn kết giữa Chính phủ, các bộ, ngành với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên thực tế, không phải chỉ đến khi dự thảo luật, pháp lệnh được trình ra ủy ban Thường vụ Quốc hội để cho ý kiến mà ngược lại, các thành viên của các ủy ban của Quốc hội được mời tham dự ngay từ đầu các cuộc họp với Ban soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc nghiên cứu và trao đổi các vấn đề phát sinh trong quá trình chuẩn bị dự án. Chính sự gắn kết và phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể đã góp phần bảo đảm tiến độ chuẩn bị và chất lượng của các dự án luật, pháp lệnh;

– Việc phân định thành quy trình hai bước: tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự thảo luật và tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội xem xét thông qua dự án đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung thảo luận về những vấn đề lớn thuộc nội dung dự án tại kỳ họp thứ nhất và chỉnh lý dự án luật trong thời gian giữa hai kỳ họp.

Bên cạnh đó, việc tăng thêm số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, tiến hành Hội nghị các đại biểu Quốc hội chuyên trách trước kỳ họp để thảo luận về các dự án luật sẽ được trình tại kỳ họp sắp tới và tăng cường hoạt động của các ủy ban của Quốc hội góp phần bảo đảm cho hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội được tăng lên đáng kể.

Hạn chế

Quy trình lập pháp hiện hành cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như: khả năng sửa đổi, bổ sung những điều khoản cụ thể của văn bản luật, pháp lệnh có liên quan không kịp thời. Ngoài việc phải đưa được vấn đề vào Chương trình thì mỗi Ban soạn thảo được thành lập chỉ để chuẩn bị một dự án luật, pháp lệnh cụ thể (Xem hộp 1).

Hộp 1: Ví dụ, muốn sửa đổi quy định về hợp đồng kinh tế phải thành lập Ban soạn thảo để sửa đổi Pháp lệnh về Hợp đồng kinh tế; muốn sửa đổi quy phạm về chế tài hình sự phải thành lập Ban soạn thảo để sửa đổi Bộ luật Hình sự…Hệ quả của cách làm này là khó có khả năng bảo đảm tính đồng bộ và gắn kết về mặt nội dung giữa các văn bản luật, pháp lệnh và trong toàn bộ hệ thống pháp luật về những loại vấn đề có liên quan. Ví dụ, sửa đổi Luật Thương mại thì nhiệm vụ của Ban soạn thảo có thể “đóng khung” trong việc sửa đổi các quy định về hợp đồng thương mại nhưng lại chưa chú ý đến việc sửa đổi các quy định có liên quan về hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động, hợp đồng dân sự là những vấn đề có nhiều điểm chung. Do đó, có thể, các quy định về hợp đồng thương mại trong Luật Thương mại được sửa đổi nhưng các quy định có liên quan về chế định hợp đồng ở các văn bản khác không được sửa đổi đồng thời nên vẫn có sự chồng chéo hoặc lỗ hổng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật về cùng một vấn đề.

Các quy định hiện hành về việc rà soát văn bản trong quá trình soạn thảo thường được hiểu là những văn bản có liên quan trong lĩnh vực điều chỉnh của luật chuyên ngành đó theo hiệu lực pháp lý từ cao đến thấp, từ luật đến nghị định. Việc rà soát theo chiều ngang về cùng một loại vấn đề giữa các quy định ở nhiều văn bản luật, pháp lệnh khác nhau tuy đã được tiến hành nhưng chưa có kết quả đáng kể và chưa thực hiện thường xuyên trong hoạt động của các Ban soạn thảo.

Một luật sửa nhiều luật

Quan niệm

Kỹ thuật lập pháp một luật sửa đổi đồng thời nhiều luật (omnibus law making) là khái niệm hoàn toàn mới ở Việt Nam, tuy rằng, điều này đã được nhiều nước áp dụng trong quá trình sửa đổi các quy định pháp luật phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế của các nước đó[1].

Một luật sửa nhiều luật là cách thức mà cơ quan lập pháp vận dụng để tiến hành sửa đổi đồng thời, cả gói nhiều đạo luật có liên quan để bảo đảm tính đồng bộ của các quy phạm ở các đạo luật đó về một loại chủ đề /lĩnh vực và đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của quốc gia.

Yêu cầu

– Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải tiến hành rà soát một cách tổng thể các văn bản luật có liên quan theo chiều ngang giữa các văn bản và cả chiều dọc theo hiệu lực pháp lý từ cao đến thấp: luật và các văn bản dưới luật về cùng một chủ đề hoặc lĩnh vực nhất định. Theo kinh nghiệm của các nước, công việc này nhằm phát hiện những điểm cần sửa đổi có thể do một cơ quan chuyên môn hoặc tổ chức, hội nghề nghiệp tiến hành theo sáng kiến của mình hoặc có sự hỗ trợ của nhà nước. Kết quả rà soát được phổ biến rộng rãi cho các bên có liên quan và xây dựng thành kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Chính phủ hoặc cơ quan lập pháp sử dụng kết quả rà soát đó để xây dựng thành dự án luật cụ thể sửa đổi đồng loạt các đạo luật về những vấn đề có liên quan.

Như vậy, nội dung vấn đề cần phải sửa đổi là yếu tố quan trọng nhất xác định phạm vi và mức độ sửa đổi đồng loạt các văn bản luật có liên quan. Đồng thời, cũng cần nhận thấy rằng, kỹ thuật một luật sửa nhiều luật không phải là biện pháp thay thế cho cách thức sửa đổi từng luật, mà là cách làm linh hoạt, bổ sung và làm phong phú thêm khả năng của cơ quan lập pháp trong việc phản ứng với những yêu cầu cụ thể mà cuộc sống đòi hỏi.

Các biểu hiện của kỹ thuật một luật sửa nhiều luật ở nước ta

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó nêu rõ những văn bản hết hiệu lực thi hành. Theo Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Dân sự thì có 6 pháp lệnh trong lĩnh vực dân sự bị bãi bỏ; Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự nêu 5 pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, vụ án kinh tế, tranh chấp lao động bị bãi bỏ[2].

Có thể khẳng định, những ví dụ vừa nêu là biểu hiện cụ thể của kỹ thuật lập pháp một luật sửa nhiều luật, tuy rằng trong trường hợp này, đó là việc ban hành văn bản mới (Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự) thay thế các pháp lệnh được ban hành trước đó về cùng lĩnh vực là quan hệ dân sự. Nhiều người cho đây là việc pháp điển hóa (nâng lên thành luật) các quy định trước đó nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, cụ thể là ở các Pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội vào văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là bộ luật do Quốc hội ban hành.

Trong trường hợp một luật sửa nhiều luật thì có thể, một hoặc một số văn bản luật, pháp lệnh bị bãi bỏ và các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan vẫn còn hiệu lực thi hành, chỉ những điều khoản cụ thể của văn bản đó là bị bãi bỏ hoặc sửa đổi. Do đó, cần phải có hình thức biên tập, sắp xếp lại để bảo đảm tính thống nhất và toàn vẹn của các văn bản luật, pháp lệnh có các điều khoản được sửa đổi, bổ sung.

Cơ sở pháp lý và thực tiễn

Nghiên cứu về khả năng một luật sửa đổi nhiều luật cần căn cứ vào các quy định pháp lý và thực tiễn quy trình lập pháp hiện nay của Việt Nam. Cụ thể là cần làm rõ những vấn đề sau:

Một là, quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định và cũng không có điều khoản nào ngăn cấm khả năng áp dụng kỹ thuật lập pháp một luật sửa nhiều luật. Hơn thế, tinh thần của đạo luật thể hiện ở nhiều điều khoản là bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Điều 2); bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua việc rà soát, hệ thống hóa các văn bản đó (Điều 8); việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải cụ thể (Điều 9). Từ đó cho thấy, khả năng áp dụng một luật để sửa đổi nhiều luật, pháp lệnh khác có liên quan về một vấn đề nào đó là có thể được, phù hợp với tinh thần và những nguyên tắc chung của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan lập pháp duy nhất, Quốc hội hoàn toàn có thẩm quyền để ban hành một đạo luật chung như vậy.

Hai là, thành lập Ban soạn thảo chung để sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan

Thông thường, cơ quan trình dự án thành lập Ban soạn thảo để xây dựng dự án luật, pháp lệnh do chính cơ quan đó trình. Mặt khác, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thẩm quyền của ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Vì vậy, đây là cơ sở pháp lý của việc thành lập Ban soạn thảo liên ngành để sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản luật, pháp lệnh có liên quan.

Việc thành lập một Ban soạn thảo luật chung rõ ràng là một thách thức lớn bởi tính phức tạp và đa dạng của nhiều vấn đề được quy định rải rác ở những văn bản luật, pháp lệnh có liên quan. Giải pháp khắc phục cho những khó khăn này là phải kiện toàn Ban soạn thảo, bảo đảm đây thực sự là Ban soạn thảo chung liên ngành về mặt nội dung[3] để nghiên cứu và rà soát tất cả các quy định có liên quan. Ban soạn thảo chung này phải hoạt động chuyên trách, làm việc trong một thời gian nhất định để rà soát và đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung các điều khoản có liên quan trong các văn bản luật, pháp lệnh.

Liên quan đến vấn đề đẩy nhanh tiến độ soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh phục vụ cho quá trình đàm phán gia nhập WTO sắp tới, thiết nghĩ, không nên đặt vấn đề thành lập một Ban soạn thảo chung để sửa đổi các luật, pháp lệnh có liên quan. (Xem hộp 2)

Hộp 2. Đề nghị xuất phát từ những lý do chủ yếu sau:

– Cho đến nay, việc rà soát các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến các quy định của WTO do Bộ Tư pháp chủ trì tiến hành với sự tham gia của các bộ, ngành hữu quan đã đạt được những kết quả nhất định;

– ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết phân công cụ thể cơ quan trình, cơ quan thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005. Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã thành lập các Ban soạn thảo để xây dựng các dự án luật, pháp lệnh có liên quan. Nhiều dự án luật sắp tới sẽ được trình Quốc hội xem xét và thông qua tại kỳ họp thứ 7 năm 2004.

– Việc chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh sửa đổi theo từng Ban soạn thảo như phân công hiện nay không ảnh hưởng đến thẩm quyền của Chính phủ có thể trình một dự án luật chung về các đạo luật, pháp lệnh cần sửa đổi, bổ sung trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005.

Điều quan trọng hơn cả là, từng Ban soạn thảo tiếp tục đẩy nhanh việc chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh được phân công; chia sẻ thông tin, kết quả rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam so với các chuẩn mực của WTO giữa Bộ Tư pháp với các Ban soạn thảo. Đồng thời, phải tiến hành cập nhật thông tin kết quả đàm phán gia nhập WTO do Bộ Thương mại chủ trì với các cơ quan hữu quan có thẩm quyền để có thể kịp thời sửa đổi, bổ sung các dự thảo một cách đồng bộ, kịp thời.

Ba là, chủ thể trình dự án luật sửa đổi nhiều luật khác

Có hai tình huống xảy ra: 1- Trường hợp hầu hết các dự án luật, pháp lệnh có liên quan đều thuộc phạm vi quản lý của một chủ thể lập pháp, ví dụ dự án thuộc Chính phủ thì Chính phủ trình; 2- Trường hợp có sự không đồng nhất giữa các vấn đề cần trình, ví dụ, sửa đổi các quy định về sở hữu trí tuệ kéo theo việc sửa đổi các quy định của Bộ luật Hình sự do Tòa án nhân dân tối cao trình thì cần tính đến khả năng các cơ quan này cùng trình dự án để Quốc hội xem xét, quyết định[4].

Bốn là, thẩm tra dự án luật chung

Đối với những vấn đề liên quan đến nhiều ủy ban thì đã có cơ chế phối hợp thẩm tra. Theo đó, một ủy ban được chỉ định chịu trách nhiệm thẩm tra chính và các ủy ban khác có liên quan sẽ đóng góp ý kiến của mình về những nội dung có liên quan. Ngoài ra, Quốc hội còn thành lập ủy ban lâm thời để thẩm tra những dự án do ủy ban thường vụ Quốc hội trình. Trên thực tế, Quốc hội đã thành lập ủy ban lâm thời để thẩm tra dự án Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội gồm 24 người là thành viên của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội[5].

Do đó, có thể đề xuất phương án giao việc thẩm tra dự án luật cho một ủy ban của Quốc hội chịu trách nhiệm chủ trì và có sự tham gia thẩm tra của các ủy ban khác có liên quan. Đây là khả năng đã được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Cụ thể, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã được Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn tại phiên họp thứ 10 của Quốc hội khoá X[6]. Hiệp định này do ủy ban đối ngoại của Quốc hội chủ trì thẩm tra với sự phối hợp thẩm tra của các ủy ban khác của Quốc hội.

Như vậy, trong trường hợp cần thẩm tra dự án luật chung về việc sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh có liên quan phục vụ gia nhập WTO, có thể xảy ra hai khả năng: một là, ủy ban đối ngoại được tiếp tục giao nhiệm vụ thẩm tra dự án luật như đã xảy ra đối với Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ; hai là, ủy ban Kinh tế và ngân sách sẽ chủ trì thẩm tra dự án luật đó.

Khả năng thứ hai căn cứ vào tính chất của các quy định sửa đổi, bổ sung của các luật, pháp lệnh có liên quan chủ yếu là về các vấn đề thương mại hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm này và phần lớn các dự án luật, pháp lệnh đó đã được phân công cho ủy ban Kinh tế và ngân sách thẩm tra. Trong cả hai trường hợp này, sự phối hợp thẩm tra của các ủy ban có liên quan như ủy ban Pháp luật, ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường, ủy ban Đối ngoại của Quốc hội… là cần thiết để bảo đảm chất lượng của dự án luật chung với nhiều điều khoản có liên quan đến các Uỷ ban của Quốc hội.

Phương án khác là Quốc hội có thể thành lập ủy ban lâm thời để thẩm tra dự án luật chung do tính chất phức tạp của dự án luật chung có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Phương án này ít có tính khả thi vì không gắn với phạm vi hoạt động của từng ủy ban là điều đã được luật quy định và nội dung của những điều chỉnh dự kiến trong các luật, pháp lệnh có liên quan chủ yếu là lĩnh vực thương mại, kinh tế thuộc thẩm quyền của ủy ban Kinh tế và ngân sách.

Năm là, thảo luận và thông qua dự án luật chung

Đây cũng là vấn đề cần được tính toán cẩn thận để bảo đảm chất lượng của các dự án luật được sửa đổi, bổ sung. Theo cách làm thông thường hiện nay, các đại biểu Quốc hội được chia thành tổ để thảo luận tuần tự từng dự án luật và Quốc hội cũng lần lượt thông qua từng dự án luật đó. Cách làm này rõ ràng là kéo dài thời gian thảo luận và không thể xem xét một cách đồng bộ các điều khoản cụ thể cần phải sửa đổi, bổ sung. Do đó, nên chọn phương án Quốc hội thảo luận và xem xét luôn cả gói dự án luật chung như đã trình để bảo đảm tính đồng bộ của các văn bản cần phải được sửa đổi, bổ sung.

Sáu là, bảo đảm tính đồng bộ về mặt hình thức của các văn bản bị sửa đổi

Trong trường hợp ban hành luật, pháp lệnh mới, việc bảo đảm tính đồng bộ về mặt hình thức của văn bản đó không đặt ra, vì văn bản trước đó đã bị thay thế bằng văn bản mới. Tính toàn vẹn về mặt hình thức của văn bản chỉ phát sinh khi sửa đổi một số quy định của các văn bản luật hay pháp lệnh bị sửa đổi.

Theo chúng tôi, có hai cách làm như sau: cùng với việc xem xét và thông qua một luật chung thì thứ nhất, tiến hành biên tập lại từng văn bản luật, pháp lệnh để bảo đảm tính đồng bộ, toàn vẹn về mặt hình thức của văn bản để Quốc hội xem xét và thông qua cùng với việc thông qua luật chung hoặc thứ hai, chỉ ban hành luật chung với những điều khoản sửa đổi, bổ sung ở các văn bản luật có liên quan.

Trong trường hợp thứ hai, một cơ quan được chỉ định, cụ thể là Ban Công tác lập pháp của ủy ban Thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm về kỹ thuật văn bản như chỉnh lý, tiếp thu các ý kiến thảo luận về dự án luật tổ chức việc biên tập và cập nhật lại các văn bản luật bị sửa đổi, bổ sung.

Thiết nghĩ, cách làm thứ nhất sẽ thuận tiện hơn cho việc thực hiện sau này và mang tính pháp lý cao hơn khi chính cơ quan lập pháp xem xét và quyết định luôn hình thức văn bản với cách hành văn cụ thể của từng dự án luật, pháp lệnh.

Bảy là, hình thức của văn bản luật chung là luật hay nghị quyết

Như đã trình bày ở trên, hình thức văn bản để thi hành Bộ luật Dân sự hay Bộ luật Tố tụng dân sự là Nghị quyết của Quốc hội. Năm 2001, Quốc hội cũng ban hành Nghị quyết số 48/2001/QH-10 của Quốc hội ngày 28/11/2001 về "sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo lộ trình của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ". Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật và có hiệu lực pháp lý thi hành trong cả nước. Do đó, có thể ban hành Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan.

Tuy nhiên, hình thức văn bản để sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản luật, pháp lệnh nếu là luật của Quốc hội thì sẽ hợp lý hơn, thể hiện quan niệm mới về các quyết định của Quốc hội đối với các vấn đề quan trọng của đất nước cần được luật hóa và tồn tại dưới hình thức luật mang tính quy phạm cao hơn so với hình thức Nghị quyết.

Tám là, cần bỏ sung vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật các quy điịnh về kỹ thuật một luật sửa nhiều luật

Kỹ thuật lập pháp một luật sửa nhiều luật phù hợp với yêu cầu đẩy nhanh tốc độ làm luật của Quốc hội và có tính khả thi trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể hiện nay của Việt Nam. Do đó, cần bổ sung vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật những vấn đề sau:

– Khả năng Quốc hội có thể ban hành một luật chung để sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh có liên quan trong cùng một lĩnh vực (Khoản mới ở Điều 20 về luật, nghị quyết của Quốc hội);

– Không chỉ ủy ban Thường vụ Quốc hội mà Chính phủ cũng có quyền thành lập Ban soạn thảo liên ngành để sửa đổi, bổ sung những nội dung có liên quan đến nhiều luật, pháp lệnh có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực (Khoản mới ở Điều 25 về Thành lập Ban soạn thảo);

– Bổ sung nhiệm vụ của Ban soạn thảo không chỉ rà soát các quy định có liên quan đến dự án theo hiệu lực pháp lý từ cao đến thấp mà còn rà soát theo chiều ngang, giữa các các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan đối với một lĩnh vực nhất định (bổ sung vào Điều 26);

– Bổ sung quy định Quốc hội có thể xem xét và thông qua dự án luật chung sửa đổi, bổ sung những văn bản luật, pháp lệnh có liên quan trong một lĩnh vực (trong Mục về thông qua dự án luật);

– Hình thức văn bản ban hành luật chung sửa đổi nhiều luật phải là Luật (bổ sung vào Điều 13 của Luật).

Kết luận

Có thể khẳng định, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ có tính bao trùm, có ý nghĩa quyết định, đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu và tìm tòi các giải pháp kỹ thuật để bảo đảm số lượng và chất lượng của các văn bản luật, pháp lệnh được ban hành. Việc áp dụng phương pháp một luật sửa nhiều luật là cách làm nhằm khắc phục những mặt hạn chế của cách làm sửa tuần tự từng luật cụ thể, đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta một cách đồng bộ và kịp thời.

Đồng thời, cần nhận thấy rằng, kỹ thuật lập pháp một luật sửa nhiều luật là cách làm bổ sung để sửa đổi những vấn đề /nội dung có tính liên ngành, là biện pháp linh hoạt và không thể thay thế hoàn toàn cách làm sửa đổi từng luật (được áp dụng rộng rãi từ trước đến nay ở Việt Nam). Trong trường hợp này, đây là cách làm bổ sung có tính khả thi cao đặt trong bối cảnh và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, cần tính đến việc áp dụng thường xuyên hơn kỹ thuật lập pháp một luật sửa nhiều luật để bảo đảm khả năng kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản khác có liên quan khi nhu cầu xuất hiện. Như vậy, phải tiến hành giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, mà trọng tâm là phải nhanh chóng kiện toàn hoạt động của Ban soạn thảo theo hướng chuyên trách và chuyên nghiệp; Ban soạn thảo phải có năng lực nghiên cứu, phân tích và rà soát một cách tổng thể hệ thống các quy định hiện hành có liên quan theo cả chiều dọc và chiều ngang trong từng lĩnh vực cụ thể. /.

——————

[1] Xem: Văn phòng Quốc hội – Báo cáo nghiên cứu công tác lập pháp thực thi hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hà Nội, 2003.

[2] Xem: Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 8 về việc thi hành Bộ luật Dân sự, ngày

28/10/1995. Nghị quyết tuyên bố 6 văn bản hết hiệu lực kể từ 1/7/1996: Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 29/4/1991, Pháp lệnh Nhà ở ngày 26/3/1991, Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990, Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả ngày 2/12/1994 và Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 5/12/1988.

Nghị quyết của Quốc hội số 3/2004/QH 11 ngày 15/ 6/2004 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự xác định các văn bản hết hiệu lực gồm: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989, Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ngày 17/4/1993, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994, Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 14/9/1995 và những quy định về thủ tục giải quyết các vụ án lao động của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11/4/1996.

[3] một khía cạnh khác của vấn đề, Ban soạn thảo mang tính liên ngành thể hiện ở sự tham gia của các đại diện của nhiều bộ, ngành nhưng vẫn tập trung nghiên cứu nội dung của dự án luật, pháp lệnh theo từng lĩnh vực.

[4] Cho đến nay, khoảng 95% dự án luật, pháp lệnh là do Chính phủ trình. Theo đề án về chiến lược cải cách tư pháp đã được Ban nội chính TW chuẩn bị thì Viện kiểm sát sẽ chuyển thành Viện công tố trực thuộc Chính phủ. Điều này sẽ ngày càng phát huy vai trò của Chính phủ là cơ quan chủ yếu trong việc xây dựng dự án luật ở nước ta.

[5] Nghị quyết số 11/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về việc thành lập uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.

[6] Nghị quyết số 48/2001/QH10 ngày 28/11/2001 của Quốc hội về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại”.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 52 THÁNG 5 NĂM 2005

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: