TÒA ÁN VÀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. PHẠM VĂN HÙNG

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

1. Khái niệm, phạm vi cải cách tư pháp

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luôn được hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có ích cho việc xây dựng nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nếu không đạt được ý nghĩa này, cải cách tư pháp sẽ bị coi là thất bại. Có thể xem việc cải cách tư pháp năm 1950 là một minh chứng. Thời kỳ đó, Bộ Tư pháp đã trình lên Chủ tịch Hồ Chí Minh dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được “dân chủ hoá”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn”[1]. Với ý nghĩa đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết 49). Mục đích của việc xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp nhằm “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý”. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để thể chế thành pháp luật theo các định hướng của Đảng, vấn đề đặt ra là cần có sự nhận thức thống nhất về khái niệm cơ quan tư pháp. Vì chỉ có thể xác định đúng đắn phạm vi cải cách tư pháp khi có sự nhận thức thống nhất về cơ quan tư pháp.

Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay không có quy định nào về cơ quan tư pháp. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) tuy có quy định về quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp nhưng không quy định rõ cơ quan nào là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Vậy cơ quan tư pháp là gì? Trong khoa học pháp lý, cơ quan tư pháp được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

Trong các tác phẩm kinh điển, nhiều luật gia đã không có gì khó khăn để tìm ra ý nghĩa đích thực của cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp. Montesquieu người được coi là “cha đẻ” của học thuyết phân quyền trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” xuất bản năm 1748 đã quan niệm “với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta gọi đây là quyền tư pháp”[2]. Ông còn viết: “Quyền phán xét không nên giao cho một Viện Nguyên lão thường trực mà phải do những người trong đoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy định thành toà án, làm việc kéo dài bao lâu tuỳ theo sự cần thiết”[3]. Như vậy, theo Montesquieu, cơ quan tư pháp là toà án, là cơ quan xét xử, cơ quan thực hiện nhánh quyền lực tư pháp.

Mười bốn năm sau, trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” xuất bản năm 1762, Rousseau viết: “Khi người ta không thể định rõ một tỷ lệ chính xác giữa các bộ phận cấu thành của nhà nước, hoặc khi mà những nguyên nhân khách quan làm suy yếu không ngừng mối quan hệ giữa các bộ phận ấy, thì người ta phải đặt một cơ quan đặc biệt, không tham dự vào bất cứ một bộ phận nào. Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa Chính phủ với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần. Cơ quan này tôi gọi là cơ quan tư pháp (tribunal)”[4]. Khi bàn về chức quan tư pháp, Rousseau còn nói rõ hơn: “Luật pháp công bố ý chí của toàn dân; chức quan tư pháp nói lên lời phán xét công cộng… toà án tư pháp không phải là người trọng tài xét xử dư luận công chúng, nó chỉ là người công bố dư luận công cộng. Xa rời chức năng đó thì mọi quyết định của toà án đều là điều vớ vẩn và vô hiệu”[5]. Xem thế, quan niệm của Rousseau về cơ quan tư pháp không có gì khác biệt với Montesquieu, theo đó nói đến cơ quan tư pháp phải hiểu đó là toà án, là hoạt động xét xử.

Chịu ảnh hưởng tư tưởng của các luật gia thời Khai sáng, khi làm bản Hiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã quy định ở Điều III, khoản 1 như sau: “Quyền lực tư pháp Hoa Kỳ sẽ được trao cho Toà án tối cao và những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”. Và hầu hết các hiến pháp của các nước tư bản như Nhật, Pháp, Đức, Thuỵ Điển… sau này khi quy định về cơ quan tư pháp đều coi đó là các toà án. Như vậy, quan niệm có tính chung nhất theo nghĩa hẹp về về cơ quan tư pháp từ học thuyết đến xây dựng hiến pháp thành văn của các nước có lịch sử lập hiến lâu năm được hiểu là các toà án.

Ở Việt Nam cũng có các quan niệm khác nhau về cơ quan tư pháp tuỳ theo cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quan niệm thứ nhất, liên quan đến việc xem xét cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp, có tác giả đã đưa ra khái niệm về tư pháp hình sự như sau: “Tư pháp hình sự trong Nhà nước pháp quyền là dạng thực hiện quyền lực nhà nước của hệ thống cơ quan có thẩm quyền nhân danh công lý (cơ quan tài phán – Toà án) để xét xử và đưa ra phán quyết đối với vụ án hình sự nhằm mục đích bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hoà bình và an ninh của loại, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống tội phạm, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của Nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế”[6]. Hoặc “quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan Toà án chiếm vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nước thực hiện để tác động đến hành vi của con người, đến các quá trình xã hội”[7] Từ các định nghĩa này có thể thấy, cơ quan tư pháp chỉ là toà án.

Quan niệm thứ hai tiếp cận cơ quan tư pháp theo nghĩa rộng có tính hệ thống, theo đó “khái niệm tư pháp không chỉ được dùng cho Toà án, mà còn cả các cơ quan nhà nước khác thực hiện chức năng có liện quan đến xét xử. Trước hết đó là Viện kiểm sát, rồi đến các cơ quan điều tra, thi hành án”[8]. Quan niệm thứ hai này phản ánh nhận thức khá phổ biến trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay[9].

Cũng có thể tiếp cận khái niệm cơ quan tư pháp từ Hiến pháp và các đạo luật. Khác với các nước, ở Việt Nam các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 không có quy định cụ thể về cơ quan tư pháp. Riêng Hiến pháp năm 1946 có chương VI quy định riêng về cơ quan tư pháp bao gồm Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Cũng có ý kiến cho rằng, Hiến pháp năm 1946 là khá điển hình cho việc vận dụng hạt nhân hợp lý của học thuyết phân quyền mà một trong những biểu hiện là có chương quy định riêng về cơ quan tư pháp và không chịu sự giám sát của Nghị viện. Các hiến pháp sau này đã có sự thay đổi về cấu trúc, theo đó không còn chương quy định riêng về cơ quan tư pháp mà thay vào đó là chương quy định về Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, tìm hiểu kỹ về Toà án quy định trong Hiến pháp năm 1946 thì thấy rằng, cơ cấu của Toà án nước ta thời kỳ này có những điểm khá đặc thù, không hoàn toàn giống như quan niệm về cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp ở trên. Theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án, Sắc lệnh số 31 ngày 19/3/1947 sửa đổi Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về tổ chức Tư pháp công an, Sắc lệnh số 258-SL quy định cách tổ chức Công an quân pháp trong thời kỳ kháng chiến, thì trong cơ cấu tổ chức của Toà án không chỉ có thẩm phán xét xử (thẩm phán ngồi) mà còn có thẩm phán buộc tội (thẩm phán đứng) được gọi là Chưởng lý, Biện lý, Phó Biện lý giữ vai trò công tố viên. Trong cơ cấu tổ chức của Tư pháp công an có cả Biện lý, Phó Biện lý, Thẩm phán sơ cấp. Biện lý có nhiệm vụ thi hành những bản án có hiệu lực. Trong quân đội, công an quân pháp được giao thẩm quyền thi hành bản án của Toà án binh. Như vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên xây dựng nền tư pháp non trẻ thì nội hàm khái niệm cơ quan tư pháp theo Hiến pháp năm 1946 đã được thu nhận thêm những thành tố khác như cơ quan công tố, điều tra, thi hành án. Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật về tư pháp, ngày 21/12/ 1999 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự (mới) thường được gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong Bộ luật này có một chương riêng quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Điều 292 quy định khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp như sau: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp có nhiều điều luật quy định về các tội phạm cụ thể như Điều 293 – tội truy cứu trách nhiệm người không có tội; Điều 295 – tội ra bản án trái pháp luật; Điều 298 – tội dùng nhục hình; Điều 300 – tội làm sai lệch hồ sơ vụ án; Điều 305 – tội không thi hành án, Điều 306 – tội cản trở việc thi hành án… Như vậy, bằng việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã công nhận khái niệm cơ quan tư pháp theo nghĩa rộng, theo đó cơ quan tư pháp bao gồm Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án. Phạm vi cải cách tư pháp vì vậy cũng phải được xem xét toàn diện đối với các cơ quan này. Ngoài ra, để cải cách tư pháp thành công, không thể không hoàn thiện các cơ quan khác được gọi là cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định. Đây cũng là những thành tố có ảnh hưởng khá nhiều tới chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.

2. Cải cách Toà án – trọng tâm của cải cách tư pháp

Quốc hội có ưu thế trong việc thực hiện Nghị quyết 49 thông qua hoạt động lập pháp. Sau ba năm thực hiện nghị quyết 49 (từ tháng 6/2005 đến nay), Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như đã sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, ban hành Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng. Tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII, Quốc hội sẽ thông qua Luật Thi hành án dân sự, cho ý kiến Dự án Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự. Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày17/7/2006 của UBTVQH về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 của UBTVQH về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 ngày 27/9/2007 của UBTVQH về tổ chức, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về phòng, chống tham nhũng… Nhìn chung, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, UBTVQH thông qua khá nhiều. Quá trình thể chế Nghị quyết 49 có những dự án luật gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, như Bộ Luật Thi hành án đã phải nhiều lần trình ra Quốc hội, thay đổi cấu trúc tách ra thành hai luật: Luật Thi hành án dân sự và Luật Thi hành án phạt tù.

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, như còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét xử, công dân khiếu nại, tố cáo nhiều[10]. Số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật định còn khá lớn[11]. Kết quả thi hành án hình sự, thi hành án phạt tù còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc[12]. Nguyên nhân có nhiều, nhưng điều có thể dễ nhận thấy là việc thể chế những chủ trương, quyết sách theo Nghị quyết 49 còn chậm, chưa đạt được được yêu cầu, mục tiêu cải cách đề ra.

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án. Lựa chọn vấn đề này vì xét đến cùng, Toà án là nơi giám sát kết quả hoạt động của cả hệ thống tư pháp. Ngay cả việc thi hành án ở khâu cuối cùng của tố tụng hình sự cũng như tố tụng dân sự còn gặp nhiều khó khăn cũng phải xem xét từ cội nguồn của vấn đề là chất lượng bản án. Bản án công bằng, vô tư luôn tạo ra sức mạnh và tính chính đáng của hệ thống cơ quan tư pháp vì nó được người dân tin tưởng “tâm phục, khẩu phục”. Thông qua hoạt động của Toà án, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng phải không ngừng nâng cao năng lực của mình bởi lẽ theo tinh thần pháp quyền và pháp luật thực định nếu Toà án tuyên vô tội, ắt hẳn các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp dưới phải thực hiện việc bồi thường nếu có lỗi để xảy ra oan trong quá trình tố tụng. Theo Nghị quyết 49: “Tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện; toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Việc nghiên cứu cải cách Toà án theo định hướng Nghị quyết 49 cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Một là, phải xuất phát từ yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là đảm bảo tính độc lập của Toà án. Trong hệ thống các cơ quan tư pháp hiện nay, Cơ quan điều tra tuy hoạt động độc lập theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhưng do do cơ chế tổ chức cán bộ, Thủ trưởng cơ quan điều tra có thể kiêm nhiệm một chức vụ hành chính như Tổng cục trưởng, Phó giám đốc Công an tỉnh, Phó trưởng Công an huyện nên hoạt động điều tra khó tránh khỏi sự chỉ đạo mang tính hành chính. Ở ngành Kiểm sát, do đặc thù của ngành về tính tập trung thống nhất, kiểm sát viên ngoài việc thực hiện thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn bị chỉ đạo mang tính hành chính của Viện trưởng Viện kiểm sát. Vì vậy, cần xây dựng tính độc lập của Toà án như một thành luỹ cuối cùng để giảm thiểu tối đa sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động của Toà án.

Hai là, xây dựng mô hình Toà án một mặt tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền lực nhà nước nhưng cũng cần quan tâm đến lợi ích của công dân khi có việc phải hệ luỵ đến chốn pháp đình. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng cơ quan tư pháp phải “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”[13] vẫn cần được quán triệt khi thiết kế phạm vi quản hạt của Toà án. Một người dân khi tham gia tố tụng ở toà án cấp sơ thẩm có phạm vi quản hạt quá lớn là không thích hợp, nhất là ở những nơi còn khó khăn về giao thông.

Ba là, cải cách tổ chức toà án phải đặt ra mục tiêu góp phần làm cho công tác xét xử được “ công bằng, liêm khiết”[14] như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với cách đặt vấn đề như trên, cải cách Toà án tập trung vào các nội dung sau:

a) Xác định hợp lý phạm vi quản hạt

Từ góc độ lợi ích của người dân, phạm vi quản hạt của Toà án sơ thẩm khu vực ở các vùng nông thôn, miền núi dù có số lượng án ít cũng nên thành lập mỗi huyện một Toà án sơ thẩm khu vực. Ở thành phố, do điều kiện giao thông thuận lợi hơn có thể hai hoặc ba quận thành lập một Toà án sơ thẩm khu vực. Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên thành lập một Toà án phúc thẩm. Đối với Toà án thượng thẩm, tuỳ theo số lượng án phải thụ lý, giải quyết cần có phạm vi quản hạt khoảng năm đến mười tỉnh thành lập một Toà án thượng thẩm là hợp lý (chẳng hạn có thể thành lập Toà án thượng thẩm đặt ở Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Buôn Mê Thuột, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ…)

b) Phân định đúng thẩm quyền

Nghị quyết 49 xác định “Toà án sơ thẩm khu vực có nhiệm vụ, thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại vụ án; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà án thượng thẩm có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Yêu cầu của việc phân định thẩm quyền cho mỗi cấp Toà án là phải đảm bảo nâng cao chất lượng giải quyết án, án không bị tồn đọng, quá hạn luật định, giảm thiểu đến mức thấp nhất để xảy ra oan sai trong hoạt động xét xử, đồng thời cũng phải kế thừa yếu tố hợp lý của việc phân định thẩm quyền của các Toà án hiện nay, tránh việc xáo trộn lớn không cần thiết. Cơ sở của việc phân định thẩm quyền cho mỗi cấp toà án là cần kết hợp giữa phươg pháp phân tích, thống kê cơ học và tổng kết thực tiễn xét xử. Trước hết hãy phân tích số liệu thống kê khung phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, tội phạm được phân thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Bảng thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999 gắn với việc phân loại tội phạm

TT LOẠI TỘI SỐ KHUNG HÌNH PHẠT

TỶ LỆ TRÊN TỔNG SỐ KHUNG HÌNH PHẠT

1 Tội phạm ít nghiêm trọng 166 24,73%
2 Tội phạm nghiêm trọng 200 29,8%
3 Tội phạm rất nghiêm trọng 207 30,84%
4

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

98 14,6%
Cộng   671  

Việc phân định thẩm quyền xét xử của Toà án hiện nay, theo khoản 1, Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293,294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật Hình sự.

Qua thống kê cho thấy, tổng số khung hình phạt thuộc các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng là 573 khung hình phạt. Trong số này, số khung hình phạt phải loại trừ không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực theo các khoản a, b, c Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự là 68 khung hình phạt. Như vậy, thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hiện nay là 505 khung hình phạt chiếm 75,26% trên tổng số 671 khung hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999; thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu theo khoản 2, Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự chiếm khoảng gần 25% tổng số khung hình phạt. Trên thực tế, tội phạm xảy ra trong xã hội ra thường có xu hướng sẽ tăng lên đối với tội có khung hình phạt thấp, giảm xuống đối với tội có khung hình phạt cao so với tỷ lệ thống kê cơ học trong tổng số các khung hình phạt của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với việc Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm khoảng 25% khung hình phạt này (chủ yếu là tội đặc biệt nghiêm trọng) thì ba toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao hiện nay cũng phải rất vất vả để xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cũng chính vì vậy mà áp lực khiếu nại yêu cầu xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Toà án nhân dân tối cao không ngừng tăng lên và không có cách giải quyết triệt để[15].

Từ sự phân tích số liệu thống kê ở trên cho thấy, để thực hiện Nghị quyết 49, có cơ sở để giao cho Toà án sơ thẩm cấp khu vực thẩm quyền xét xử các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng như thẩm quyền của Toà án cấp huyện hiện nay và không nên tăng thẩm quyền cho Toà án này. Đối với Toà án phúc thẩm, nên giao cho Toà án này thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm như thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh hiện nay và không xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Đồng thời để giảm áp lực cho Toà án nhân dân tối cao, nên giao cho Toà án thượng thẩm thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm. Toà án nhân dân tối cao chỉ còn xét xử giám đốc thẩm các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có tầm ảnh hưởng đến toàn quốc.

c) Cơ cấu tổ chức

Hiện nay cơ cấu tổ chức của ngành toà án có ba cấp: Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao. Trong Toà án nhân dân tối cao còn có ba Toà phúc thẩm đặt ở ba miền và các Toà chuyên trách. Cấu trúc này làm cho tổ chức Toà án nhân dân tối cao rất “đồ sộ” với biên chế hàng trăm thẩm phán, nhưng việc xét xử của các Toà phúc thẩm, Toà chuyên trách này vẫn còn để xảy ra oan sai, làm ảnh hưởng nhiều đến tính “ linh thiêng” của Toà án nhân dân tối cao – với tư cách là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực hiện Nghị quyết 49, cơ cấu tổ chức của ngành Toà án sẽ có Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm và Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, để góp phần nâng cao năng lực giải quyết án, tăng cường tính độc lập của mỗi cấp Toà án và từng bước xây dựng Toà án nhân dân tối cao trở thành chốn “ linh thiêng” của pháp đình, thì cần để cho các Toà thượng thẩm có một vị trí pháp lý độc lập, không phụ thuộc tổ chức Toà án nhân dân tối cao. Với cơ cấu tổ chức nói trên, việc xây dựng Toà án nhân dân tối cao ở nước ta từng bước có điều kiện tiếp cận với thông lệ của các nước có truyền thống tư pháp, theo đó, Toà án nhân dân tối cao sẽ có vai trò to lớn trong sáng tạo án lệ, bổ sung cho nguồn luật và số lượng thẩm phán thật sự không cần nhiều (khoảng 9 đến 15 thẩm phán).

d) Về cơ chế bổ nhiệm thẩm phán

Cùng với việc cải cách mô hình tổ chức Toà án, thì vấn đề cải cách cơ chế bổ nhiệm thẩm phán phải được ưu tiên đặt lên hàng đầu vì thẩm phán là “linh hồn” của Toà án. Việc chuẩn bị nhân sự cho việc bổ nhiệm thẩm phán cần theo nguyên tắc của Lê-nin “thà ít mà tốt” chứ không thể vì yêu cầu số lượng mà phải “…vơ vét, tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ” như có lần Chánh án Toà án nhân dân tối cao trả lời chất vấn trước Quốc hội[16]. Theo quy định của pháp luật, hiện nay có hai cơ chế bổ nhiệm thẩm phán. Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm thẩm phán các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự khu vực; Chủ tịch nước bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương. Cơ chế bổ nhiệm nhiệm hiện nay vẫn mang tính “khép kín”, chưa tạo cơ hội cho người có phẩm chất, năng lực trong hệ thống chính trị trở thành thẩm phán (nguồn bổ nhiệm chủ yếu vẫn từ khối thư ký Toà án), chưa phát huy được vai trò của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội với tư cách là cơ quan thể hiện chủ quyền nhân dân, chưa gắn công tác giám sát tư pháp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân với công tác cán bộ của cơ quan tư pháp. Mặt khác, việc giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm thẩm phán chưa phải là phương án tối ưu để nâng cao chất lượng hoạt động của Toà án, nhất là đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của mỗi cấp Toà án. Vì thế, cần thiết phải có sự điều chỉnh theo hướng giao cho UBTVQH bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thẩm phán Toà án quân sự trung ương. Sở dĩ cần có sự điều chỉnh này vì hiện nay UBTVQH là cơ quan quyết định biên chế, chế độ tiền lương của ngành Toà án, quyết định một số thẩm phán làm thành viên của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thực hiện giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao giữa hai kỳ họp Quốc hội. Đối với việc bổ nhiệm thẩm phán Toà án thượng thẩm, thẩm phán Toà án phúc thẩm, Toà án sơ thẩm khu vực nên giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Để tập trung cho hoạt động xét xử, sáng tạo án lệ ở cấp cao nhất, không nên giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán ở bất kỳ cấp nào.

3. Một số vấn đề liên quan cần giải quyết đồng bộ với cải cách tổ chức Toà án

a) Đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp nói chung, Toà án nói riêng là vấn đề có tính nguyên tắc hiến định. Sự lãnh đạo của Đảng không mâu thuẫn hoặc ảnh hưởng tới tính độc lập của Toà án. Nội dung lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo về chính trị, tư tưởng; lãnh đạo về tổ chức cán bộ; lãnh đạo định hướng công tác. Cũng có ý kiến mong muốn thành lập đảng bộ ngành Toà án để lãnh đạo theo ngành dọc từ Toà án nhân dân tối cao xuống đến Toà án sơ thẩm khu vực. Ý kiến này là không thuyết phục, vừa làm cho Toà án nhân dân tối cao thêm “cồng kềnh” vừa dễ mâu thuẫn với nguyên tắc độc lập trong hoạt động của mỗi cấp Toà án. Vì vậy, tổ chức đảng của Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm cần phải gắn bó với cấp uỷ địa phương, nơi có trụ sở của các Toà án này tọa lạc.

b) Giám sát tư pháp

Giám sát tư pháp là một bộ phận thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, một bộ phận quyền giám sát của Hội đồng nhân dân. Việc Quốc hội thành lập Ủy ban Tư pháp cho thấy quyết tâm của Quốc hội trong việc tăng cường giám sát đối với hoạt động của cơ quan tư pháp. Đây vừa là phản ánh nhu cầu khách quan của việc giám sát nhằm bảo đảm cho các cơ quan tư pháp hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật đồng thời cũng là phản ánh quan điểm chính thống của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước ta không áp dụng máy móc học thuyết phân quyền, nên luôn luôn đề cao vai trò của cơ quan đại diện thay mặt nhân dân để giám sát đối với hoạt động của cơ quan tư pháp. Vì vậy, cần kế thừa cơ chế giám sát đang có, theo đó nên giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát hoạt động của Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm và Toà án thượng thẩm có trụ sở toạ lạc ở tỉnh đó. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nên tập trung vào việc giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao.

c) Hoàn thiện pháp luật

Việc thành lập Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm và Toà án thượng thẩm không nằm trong cơ cấu của Toà án nhân dân tối cao, phân định thẩm quyền xét xử cho các toà án này, việc điều chỉnh cơ chế bổ nhiệm thẩm phán… đặt ra nhu cầu cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Toà án nhân nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự… Đó là khối lượng lập pháp rất lớn đòi hỏi công tác nghiên cứu phải có chương trình, kế hoạch cụ thể và trình cấp có thẩm quyền quyết định. Và trên hết để thực hiện Nghị quyết 49 đúng tiến độ, trách nhiệm này một phần rất quan trọng thuộc về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội với tư cách là thành viên cơ quan lập pháp, cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao. Trách nhiệm này là rất vẻ vang nhưng cũng không kém phần cam go vì cải cách tư pháp luôn là vấn đề giải quyết xung đột lợi ích và dễ bị ách tắc do nhận thức khác nhau về những vấn đề đã được định hướng trong Nghị quyết 49.


[1] Xem Bộ Tư pháp-Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Tập Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về Nhà nước và pháp luật, Tờ trình dự án Sắc lệnh cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng, xuất bản năm 1992, trang 514-515.

[2] Montesquieu, Tinh thần pháp luật, NXB Giáo dục, Trường đại học KHXHVNV-Khoa Luật, Hà Nội, 1996, tr. 100.

[3] Sđd, trang102.

[4]Jean-Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr 218.

[5] Sđd, trang 226.

[6] PGS.TSKH. Lê Cảm, Các bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân, số 20, tháng 10/2008, trang 2.

[7] PGS.TS Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2003, tr 5.

[8] PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Khái niệm quyền lực tư pháp và hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, in trong Kỷ yếu hội thảo Vai trò của hệ thống tư pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, Văn phòng Quốc hội tổ chức ngàỳ 28 – 29/08/2008 tại Nghệ An.

[9] Nguyễn Văn Yểu – GS.TS. Lê Hữu Nghĩa (Đồng chủ biên), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 337-340; GS.TSKH. Đào Trí Úc, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 382; PGS.TS Lê Minh Thông (Chủ biên), Một số vấn đề hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001, tr 351 – 359.

[10] Theo Báo cáo kết quả giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong ba năm (2005-2007) của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì tình hình khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp như sau: toàn ngành công an đã giải quyết 4.571/4.804 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 95,1% và 1.792/1.834 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 97,7%; Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã giả quyết 23.986/28.863 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 83,1% và 354/361 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 98,1% ; Toà án nhân dân các cấp đã giải quyết 21.801/26.121 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 83,5% và 546/546 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 100/%; cơ quan thi hành án dân sự các cấp đã giải quyết 7.550/12.127 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 62,3% và 164/188 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 87,3/%; các cơ quan tư pháp trong quân đội đã giải quyết 910/910 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 100% và 205/205 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 100%. Theo Báo cáo só 1316/UBPL11 ngày 13/10/2005 của Uỷ ban Pháp luật về kết quả giám sát việc thực hiện Nghị quyết 388/2003/NQUBTVQH ngày 17/3/2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra thì tổng số tiền mà ngành Công an, Viện kiểm sát, Toà án xác định phải bồi thường cho người bị oan là 2.482.218.352 đồng.

[11] Theo Báo Lao động số 224 ngày 27/9/2007, số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật định hàng năm khoảng 2000 vụ.

[12] Theo VnMedia ngày 22/7/2008, ngành thi hành án dân sự cả nước còn tồn đọng gần 340.000 vụ thi hành án dân sự.

[13] Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, 1993, tr 315.

[14]Sdd, tr 315.

[15] Theo Vietnamnet ngày 24/10/2008, hiện nay có khoảng 6.000 đơn khiếu nại án oan sai đối với bản án có hiệu lực pháp luật chưa được Toà án xem xét.

[16] Báo Lao động, ngày 28/11/2006.

SOURCE: TAPJC HÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 135 THÁNG 11 NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: