ĐỊA VỊ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC CUỘC ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LƯU HƯƠNG LY

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong tất cả các điều khoản gia nhập WTO, có một cam kết ít được bàn luận nhưng lại có vị trí rất quan trọng, đó là việc Việt Nam chấp nhận bị coi là một nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm, kể từ khi gia nhập (không muộn hơn năm 2019). Vậy “nền kinh tế phi thị trường” nghĩa là gì và việc chúng ta cam kết như vậy sẽ có những tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá? Bước đầu, xin được làm rõ vấn đề trên.

Nền kinh tế phi thị trường – hay còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo. Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó.

Hiện nay, trong WTO chỉ có hai thành viên cam kết về địa vị nền kinh tế phi thị trường là Việt Nam và Trung Quốc. Trong Báo cáo về việc gia nhập WTO có đoạn: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng, sẽ gặp những khó khăn đặc thù trong việc xác định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng, trong trường hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”[2].

Như vậy, địa vị nền kinh tế phi thị trường sẽ chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp Việt Nam trong hai lĩnh vực là chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng. Trong trường hợp một thành viên của WTO nhận định rằng, việc sử dụng chi phí và giá cả tại Việt Nam là không hợp lý thì Việt Nam sẽ phải chấp nhận các quy chế riêng cho một nền kinh tế phi thị trường khi áp dụng Hiệp định Chống bán phá giá và Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng của WTO.

Khi so sánh với Trung Quốc thì có thể thấy rằng, cam kết của chúng ta ít bất lợi hơn rất nhiều. Khi gia nhập WTO, Trung Quốc cam kết chấp nhận việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 15 năm kể từ khi gia nhập và chấp nhận không chỉ các điều khoản liên quan đến chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng, mà còn có thể bị áp dụng cơ chế tự vệ và giám sát đặc biệt.

Địa vị nền kinh tế phi thị trường sẽ có tác động đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong hai lĩnh vực là chống bán phá giá và trợ cấp. Tuy vậy, chúng tôi chỉ tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của địa vị nền kinh tế phi thị trường đến các doanh nghiệp Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá, vì đây là biện pháp được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới hiện nay, trong đó không hiếm những trường hợp biện pháp này được sử dụng một cách tràn lan và tùy tiện, nhằm đối phó với việc hàng hóa sản xuất trong nước không cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.

Trong Điều khoản bổ sung thứ hai vào đoạn 1.2 của Điều VI của GATT[3] 1947, có quy định: “Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do nhà nước định đoạt, việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích nêu tại khoản 1 có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng việc so sánh chính xác với giá cả trong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích đáng”.

Dựa vào điều khoản này, một số thành viên của WTO đã không chấp nhận giá hay chi phí sản xuất của hàng hóa tại các nền kinh tế phi thị trường như là một cơ sở thích hợp cho việc tính toán giá trị thông thường với lập luận giá và chi phí này được điều chỉnh bởi Chính phủ và do đó, không theo quy luật của thị trường. Cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một nước thứ ba hay một nước thay thế nào đó để làm cơ sở tính toán cho giá thông thường. Như vậy, doanh nghiệp của các nước có nền kinh tế phi thị trường sẽ phải chịu sự phân biệt đối xử so với doanh nghiệp thuộc các nước có nền kinh tế thị trường.

Tuy vậy, cho đến thời điểm này, WTO vẫn chưa hề có quy định gì về việc xác định thế nào là một nền kinh tế phi thị trường, mà vấn đề này sẽ do pháp luật của mỗi quốc gia thành viên tự xác định. Ví dụ, theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ thì Cục Nhập khẩu thuộc Bộ Thương mại (DOC) là cơ quan có thẩm quyền xác định các nước có nền kinh tế phi thị trường. Theo Đạo luật Thuế quan năm 1930 của Hoa Kỳ, việc một nước có bị coi là có nền kinh tế phi thị trường hay không sẽ được DOC quyết định dựa trên các tiêu chí sau:

-Mức độ chuyển đổi của đồng nội tệ;

-Mức độ theo đó mức lương được xác định thông qua đàm phán tự do giữa người lao động và đơn vị sử dụng lao động;

– Mức độ theo đó việc liên doanh hoặc các dự án đầu tư nước ngoài được phép thực hiện;

– Mức độ kiểm soát các phương tiện sản xuất của Chính phủ;

– Mức độ kiểm soát việc phân bổ các nguồn lực, quyết định giá cả và sản lượng của Chính phủ;

– Các tiêu chí khác do DOC đưa ra[4].

Hiện nay Việt Nam, Trung Quốc… vẫn bị Hoa Kỳ coi là những nền kinh tế phi thị trường. Đối với Việt Nam, lý do Hoa Kỳ đưa ra để giải thích cho quyết định này là mặc dù Chính phủ Việt Nam đã tiến hành những cuộc cải cách thị trường đáng kể trong công cuộc đổi mới của mình và đã thông qua các văn bản pháp lý thúc đẩy phát triển kinh tế, tuy nhiên Bộ Thương mại Hoa Kỳ thấy rằng, nền kinh tế Việt Nam vẫn trong quá trình chuyển đổi và chưa thực sự đạt tiêu chuẩn là một nền kinh tế thị trường chiếu theo luật chống phá giá. Đồng tiền của Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn tự do chuyển đổi trên thị trường vốn. Thêm vào đó là sự thiếu vắng quyền sở hữu đất tư, cải cách trong lĩnh vực ngân hàng thì có quy mô hạn chế, quá trình tư nhân hóa diễn ra chậm chạp, nhà nước vẫn duy trì sự hiện diện đáng kể trong nền kinh tế và mức độ can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế vẫn còn ở mức làm cho giá cả và chi phí sản xuất không phải là thước đo thực sự đối với giá trị. Tất cả các yếu tố này đã chiếm tỷ trọng lớn trong công tác phân tích[5]. Do vậy, Hoa Kỳ vẫn coi nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Quy chế kinh tế này sẽ được áp dụng và được xem xét lại hàng năm cho đến khi có quyết định thay đổi của DOC.

Đối với Cộng đồng châu Âu (EC), Quy định về chống bán phá giá cũng đưa ra một số tiêu chí để xác định một nhà sản xuất nước ngoài có hoạt động trong những điều kiện của một nền kinh tế thị trường hay không. Những tiêu chí đó bao gồm:

– Quyết định liên quan đến giá cả và chi phí đầu vào được đưa ra dựa trên các tín hiệu thị trường và phản ánh quan hệ cung cầu, không có sự can thiệp quá nhiều từ phía Chính phủ và chi phí chính đầu vào phản ánh đáng kể giá trị thị trường;

– Có hệ thống sổ sách kế toán theo các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, được kiểm toán độc lập và được áp dụng cho tất cả các mục đích;

– Chi phí sản xuất và thực trạng tài chính không bị bóp méo nghiêm trọng bởi hệ thống kinh tế phi thị trường trước đó;

– Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về tài sản và pháp luật về phá sản;

– Tính chắc chắn và ổn định của luật pháp;

– Sự chuyển đổi của đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường.

Dựa vào những tiêu chí trên, EC đã đưa ra một danh mục các nước được coi là có nền kinh tế phi thị trường trong đó có Trung Quốc, Kazakhstan, Ucraina, Việt Nam…

Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều VI của GATT 1994 thì: “bán phá giá là cách hàng hóa của một nước được đưa vào thị trường của nước khác với mức giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa”. Nói cách khác, bán phá giá xảy ra khi giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường. Trong tất cả các cuộc điều tra chống bán phá giá, thì cơ quan điều tra của nước nhập khẩu phải xác định được có hành vi bán phá giá một sản phẩm nhất định hay không và phải tính toán được biên độ bán phá giá của sản phẩm đó, việc này được thực hiện dựa trên việc so sánh giữa “giá xuất khẩu” và “giá trị thông thường” của sản phẩm. Theo Hiệp định Chống bán phá giá của WTO cũng như pháp luật về chống bán phá giá của các nước, thì giá trị thông thường của sản phẩm nhập khẩu sẽ được xác định bằng một trong ba cách theo thứ tự ưu tiên là:

(1) Giá bán của hàng hóa tại thị trường nội địa

(2) Giá bán hàng hóa sang thị trường thứ ba

(3) “Giá trị tính toán” của hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất cộng với các khoản lợi nhuận, tiền hoa hồng bán hàng và các chi phí hành chính khác như đóng gói…

Dù theo cách nào, thì cơ quan điều tra cũng phải dựa vào các số liệu về chi phí sản xuất và giá cả tại nước xuất khẩu. Sẽ chẳng có gì phải bàn nếu như nước xuất khẩu là một quốc gia có nền kinh tế thị trường, vấn đề chỉ thực sự nảy sinh khi một số nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường, khi đó, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu thường lập luận rằng, những số liệu về chi phí sản xuất và giá cả tại nước xuất khẩu thường không đáng tin cậy, không phản ánh đúng giá trị thông thường của sản phẩm do đã có sự can thiệp từ Chính phủ. Trong trường hợp đó, cơ quan điều tra có quyền không áp dụng các phương pháp tính toán “giá trị thông thường” nêu trên, mà thay vào đó cơ quan điều tra sẽ tự “xây dựng” giá trị thông thường của sản phẩm dựa trên số liệu về giá cả và chi phí sản xuất tại một nước thứ ba hay nước thay thế nào đó. Chẳng hạn, theo pháp luật Hoa Kỳ thì trong một cuộc điều tra chống bán phá giá, nếu nước xuất khẩu bị coi là có nền kinh tế phi thị trường thì DOC sẽ sử dụng phương pháp “các yếu tố sản xuất” để xây dựng giá trị thông thường của sản phẩm, cụ thể là DOC sẽ nhân số /khối lượng của các yếu tố đầu vào do các nhà sản xuất thuộc diện điều tra cung cấp với giá của các yếu tố đầu vào này ở nước thay thế, sau đó, DOC sẽ cộng thêm một số chi phí như chi phí cố định, chi phí khấu hao, chi phí bán hàng, chi phí hành chính… để tính ra toàn bộ chi phí sản xuất của một đơn vị sản phẩm. Chi phí sản xuất này cộng với lãi và chi phí đóng gói theo mức ở nước thay thế được coi là giá trị thông thường của sản phẩm.

Như vậy, quy chế thương mại của nước xuất khẩu sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định “giá trị thông thường” của sản phẩm trong các cuộc điều tra chống bán phá giá. Nếu nước xuất khẩu được thừa nhận là nền kinh tế thị trường thì giá cả và chi phí sản xuất tại thị trường nước xuất khẩu sẽ được sử dụng, còn nếu như nước xuất khẩu bị coi là có nền kinh tế phi thị trường thì giá cả và chi phí sản xuất thực tế tại thị trường nước xuất khẩu sẽ không được xem xét, mà việc tính toán giá trị thông thường lại phải dựa vào giá cả và chi phí sản xuất tại một nước thứ ba hay còn gọi là nước thay thế. Tất nhiên, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến kết qủa tính toán biên độ phá giá cũng như việc xác định mức thuế chống bán phá giá mà các nhà xuất khẩu phải chịu.

Khi một nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường thì các nhà xuất khẩu của nước đó sẽ gặp phải sự bất lợi vô cùng lớn trong các cuộc điều tra chống bán phá giá do ba nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, việc sử dụng giá và chi phí sản xuất tại nước thay thế sẽ dẫn đến biên độ bán phá giá rất cao. Mức biên độ bán phá giá cao này gần như là chắc chắn, vì các nhà sản xuất tại nước thay thế đang cạnh tranh với các nhà xuất khẩu tại nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường và do đó, sẽ không có lợi cho họ trong việc giảm thiểu việc tìm ra yếu tố bán phá giá của các nhà cạnh tranh của họ.

Thứ hai, việc sử dụng các số liệu của nước thay thế cũng dẫn đến việc nhiều lợi thế so sánh của nước có nền kinh tế phi thị trường không được xem xét trong quá trình điều tra và các doanh nghiệp của nước này bị áp dụng một mức thuế chống bán phá giá mà lẽ ra, có thể tránh được nếu được coi là một nước có nền kinh tế thị trường[6].

Thứ ba, việc lựa chọn nước thay thế nhiều khi rất tùy tiện. Pháp luật của các nước quy định không giống nhau về việc xác định nước thay thế. Ví dụ, theo pháp luật Hoa Kỳ thì nước thay thế là nước có nền kinh tế thị trường, có trình độ phát triển tương đương với nước bị kiện (chủ yếu dựa vào thu nhập quốc dân bình quân đầu người) và là nước sản xuất đáng kể mặt hàng tương tự như mặt hàng đang bị điều tra. Pháp luật của EC lại có quy định khác về nước thay thế. Quy định về chống bán phá giá của EC sử dụng khái niệm “quốc gia tương tự” theo đó quốc gia này phải là một nước có nền kinh tế thị trường và có các tiêu chuẩn so sánh phù hợp, nhưng không nhất thiết phải có trình độ phát triển tương đương với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường có mặt hàng đang bị điều tra. Có thể thấy rằng, những quy định này khá chung chung, do vậy trên thực tế việc lựa chọn nước thay thế có thể có phần nào mang tính chủ quan, cộng với việc lựa chọn giá thay thế (cũng có thể phần nào mang tính chủ quan) sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tính biên độ phá giá[7].

Cho đến nay, rất nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang phải chịu nhiều thiệt thòi trong các cuộc điều tra chống bán phá giá vì toàn bộ số liệu về giá cả và chi phí sản xuất tại Việt Nam đều bị cơ quan điều tra của nước nhập khẩu từ chối xem xét. Chẳng hạn, trong vụ kiện bán phá giá philê cá tra và basa từ Việt Nam vào Hoa Kỳ kết thúc tháng 7 năm 2003, Việt Nam bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường và Bangladesh được chọn là nước thay thế. Quyết định áp thuế được đưa ra sau khi DOC tính toán các sản phẩm philê của Việt Nam sẽ có giá thành bao nhiêu, nếu cá nguyên liệu được nuôi ở một trang trại vùng Kishoregonj của Bangladesh, sử dụng nguồn nước mua ở ấn Độ, vận chuyển bằng xe tải của Bangladesh với chi phí lao động mà cơ quan này cho là phổ biến ở Việt Nam căn cứ vào thu nhập bình quân đầu người lúc đó. Trong khi đó, đại đa số các nhà sản xuất /xuất khẩu philê cá tra và basa của Việt Nam đều áp dụng quy trình sản xuất khép kín từ khâu ươm giống, nuôi cá, chế biến đến xuất khẩu, dẫn đến giá thành philê cá rất thấp. Tuy nhiên, yếu tố này đã không được DOC xem xét trong quá trình điều tra.

Như vậy, địa vị nền kinh tế phi thị trường của một quốc gia chắc chắn sẽ mang lại nhiều bất lợi cho các nhà xuất khẩu của quốc gia đó. Tuy nhiên, một quốc gia bị coi là có nền kinh tế phi thị trường không có nghĩa là tất cả các khu vực kinh tế hay tất cả các vùng đều “phi thị trường”. Điều này có nghĩa là, dù cho nước xuất khẩu bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường thì các nhà sản xuất /xuất khẩu của nước này vẫn có quyền yêu cầu được sử dụng các phương pháp kinh tế thị trường nếu chứng minh được rằng, mình hoạt động trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường và không bị can thiệp quá nhiều từ Chính phủ. Nếu cơ quan điều tra của nước nhập khẩu chấp nhận thì việc tính toán biên độ phá giá của riêng các nhà sản xuất /xuất khẩu này sẽ được dựa trên giá cả và chi phí sản xuất tại chính nước xuất khẩu mà không cần sử dụng nước thay thế[8].

Các tiêu chí để xác định khu vực kinh tế hay ngành sản xuất nào đó có hoạt động theo cơ chế thị trường hay không do pháp luật của nước nhập khẩu quy định. Ví dụ, theo pháp luật Hoa Kỳ thì các tiêu chí này bao gồm:

– Hoàn toàn không có sự can thiệp của Chính phủ vào việc định giá và số lượng sản xuất của ngành sản xuất đó;

– Ngành sản xuất đó không phải do nhà nước sở hữu;

– Những chi phí chính đầu vào (kể cả vật chất và phi vật chất) của việc sản xuất hàng hóa phải được thanh toán theo giá thị trường.

Tuy vậy, trên thực tế, những tiêu chí này rất khó thỏa mãn và rất hiếm có trường hợp các nhà sản xuất /xuất khẩu ở nước có nền kinh tế phi thị trường lại được coi là hoạt động theo cơ chế thị trường để được áp dụng các phương pháp kinh tế thị trường trong điều tra bán phá giá vào Hoa Kỳ.

Về nguyên tắc, địa vị nền kinh tế phi thị trường của một nước không phải là vĩnh viễn. Theo các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO thì địa vị nền kinh tế phi thị trường của Việt Nam sẽ chấm dứt vào năm 2019 hoặc thậm chí trước đó, nếu nước nhập khẩu tuyên bố xóa bỏ địa vị này cho Việt Nam. Như vậy, hoặc là chúng ta kiên nhẫn chờ đợi cho đến năm 2019, hoặc là ngay từ bây giờ nhà nước ta cần khẩn trương thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển đổi nền kinh tế cũng như tích cực vận động các nước đối tác sớm xóa bỏ địa vị nền kinh tế phi thị trường cho Việt Nam. Trên thực tế, một số nước đã thành công trong việc yêu cầu nước nhập khẩu ngừng áp dụng chế độ phi thị trường cho mình, chẳng hạn như gần đây Hoa Kỳ đã công nhận nền kinh tế thị trường cho Nga, Kazakhstan và Ukraine. Ngay cả Trung Quốc hiện nay cũng đang thúc ép các đối tác thương mại, đặc biệt là các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trao cho mình địa vị nền kinh tế thị trường. Cho đến nay, Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận với khoảng 50 nước và vùng lãnh thổ. Vào tháng 11 năm 2004, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã trao quy chế này cho Trung Quốc. Gần đây nhất, các nước Châu Mỹ Latinh như Brazil, Argentina, Chile và Peru cũng đã công nhận địa vị nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc.

Tóm lại, quy chế nền kinh tế phi thị trường sẽ mang lại rất nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá so với các doanh nghiệp thuộc các nền kinh tế thị trường. Để hạn chế sự bất lợi này, trước mắt, các doanh nghiệp là đối tượng của các cuộc điều tra chống bán phá giá cần tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để chứng minh rằng, ngành sản xuất của mình hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không chịu sự can thiệp nhiều từ phía Chính phủ. Về lâu dài, nhà nước cần có những bước đi cần thiết để yêu cầu các nước đối tác xóa bỏ địa vị này cho Việt Nam. Điều này dĩ nhiên sẽ không dễ dàng, song không phải là không có hy vọng. Tất cả đều phụ thuộc vào thái độ của chúng ta. Muốn được thừa nhận là một nền kinh tế thị trường thì đồng tiền của chúng ta phải có khả năng tự do chuyển đổi theo quy luật cung cầu của thị trường, mức lương được thiết lập trên cơ sở tự do thỏa thuận, một môi trường đầu tư nước ngoài thuận lợi, sở hữu nhà nước ở mức độ tối thiểu, giá cả chỉ bị can thiệp trong những lĩnh vực độc quyền tự nhiên và một nền tư pháp độc lập.

———

[2] Đoạn 254 Báo cáo về việc gia nhập WTO của Ban công tác

[3] Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại

[4]DOC không có hướng dẫn chi tiết về tiêu chuẩn này, một số người cho rằng theo ngôn ngữ chính trị, tiêu chuẩn này chỉ các vấn đề mập mờ khác, ví dụ như vấn đề nhân quyền chẳng hạn.

[5] Xem website của Cục Nhập khẩu Hoa Kỳ: www.ia.ita.doc.gov

[6] Do Trung Quốc bị coi là một nền kinh tế phi thị trường nên Trung Quốc đang trở thành mục tiêu số một của các cuộc điều tra chống bán phá giá trên thế giới. Kể từ khi gia nhập WTO đến nay, mỗi năm Trung Quốc chịu 20 vụ kiện chống bán phá giá. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, hiện nay hơn 50 loại sản phẩm của Trung Quốc đang phải chịu thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ (từ đồ gỗ nội thất phòng ngủ, giấy kếp, tivi màu đến tôm, bàn ủi, túi nhựa…)

[7] Ví dụ trong cuộc điều tra bán phá giá giày da của Việt Nam năm 2006, EC chọn Brazil làm quốc gia thay thế, còn trong cuộc điều tra bán phá giá xe đạp của Việt Nam năm 2005 thì EC lại đối chiếu xe đạp của Việt Nam với xe đạp được sản xuất tại San Luis Potosí (Mexico).

[8] Mới đây, trong một cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các nhà sản xuất đồ gỗ nội thất phòng ngủ của Trung Quốc năm 2004, một số công ty Trung Quốc đã yêu cầu Bộ Thương mại Hoa Kỳ sử dụng các số liệu thực tế trên thị trường Trung Quốc để tính toán biên độ phá giá và yêu cầu này đã được DOC chấp thuận.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 91 THÁNG 2 NĂM 2007

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: