Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất.

Theo quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo để nghiên cứu, xây dựng Luật thuế nhà, đất, tiến hành đánh giá tình hình thực hiện các chính sách thu liên quan đến nhà, đất trong thời gian qua. Ban soạn thảo đã xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất, xin ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội, đã đăng trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Tài chính (cơ quan chủ trì soạn thảo) để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân tham gia vào Dự án Luật thuế nhà, đất. Ban soạn thảo đã nghiên cứu ý kiến đóng góp, tiếp thu hoàn chỉnh Dự án luật thuế nhà, đất. Dự thảo đã có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp (trình kèm). Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự án Luật thuế nhà, đất như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LỆNH THUẾ NHÀ, ĐẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

1. Tình hình thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành

1.1. Kết quả đạt được

Chính sách thuế nhà, đất đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994. Sau hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất, cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, cụ thể là:

a) Góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất

Theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất thì đối tượng chịu thuế là đất ở, đất xây dựng công trình; tạm thời chưa có quy định về thuế nhà và chưa thu thuế nhà. Theo đó, đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình.

Để thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất thì tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm kê khai tình hình sử dụng đất với cơ quan thuế (kể cả trường hợp có sự thay đổi). Như vậy, thông qua việc kê khai tình hình sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất đã góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất.

b) Góp phần khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm phù hợp với pháp luật về đất đai

Theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất thì căn cứ tính thuế đất được xác định theo thuế sử dụng đất nông nghiệp, bằng từ 1 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong vùng và chia theo từng loại đất đô thị, đất nông thôn, đất ven đô theo hướng mức thuế đối với đất đô thị cao hơn đất nông thôn từ 3 đến 32 lần). Với quy định mức thuế nhà, đất như trên đã góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả hơn.

c) Góp phần thực hiện chính sách của nhà nước đối với các đối tượng cần được ưu đãi

Pháp lệnh thuế nhà, đất có quy định chính sách miễn, giảm thuế nhà, đất đối với một số đối tượng cần được ưu đãi, như: thương binh, gia đình liệt sỹ, người tàn tật, người chưa đến tuổi thành niên, người già cô đơn không nơi nương tựa, đồng bào dân tộc thiểu số, người gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ… Điều này đã giúp giảm gánh nặng cho người nộp thuế, góp phần thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước.

d) Động viên sự đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương để thực hiện các nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương

Thuế nhà, đất có số thu bình quân khoảng 500 tỷ mỗi năm và tốc độ tăng bình quân hàng năm 13%. Đây là nguồn thu ổn định và đã góp phần thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách địa phương (Số thu thuế nhà, đất qua các năm tại Phụ lục số 1 kèm theo).

1.2. Những mặt hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được như nêu trên, chính sách thuế nhà, đất hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới. Cụ thể:

a) Về đối tượng chịu thuế:

– Về xác định loại đất thuộc phạm vi điều chỉnh:

Theo quy định của Luật đất đai 2003 thì nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp… Tuy nhiên, Pháp lệnh thuế nhà, đất lại điều chỉnh đối với đất ở và đất xây dựng công trình, do đó, việc phân loại đất xây dựng công trình không còn phù hợp với việc phân loại đất của Luật đất đai năm 2003, vì vậy, cần phải thay đổi đối tượng đất chịu thuế là đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

– Về việc đánh thuế đối với nhà: Theo Pháp lệnh thuế nhà, đất thì đối tượng chịu thuế là nhà, đất ở, đất xây dựng công trình. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế xã hội tại thời điểm ban hành Pháp lệnh chưa cho phép thu thuế đối với nhà. Những năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích, phát triển nhà ở. Luật Đất đai năm 2003 tạo điều kiện cho phát triển nhà; Luật Nhà ở năm 2005, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, đã tạo hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua… Theo đó, thị trường bất động sản về nhà, đất đã được hình thành và đang trên đà phát triển. Trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại nhà như: chung cư cao cấp đắt tiền, văn phòng cho thuê, các loại hình nhà liền kề, nhà biệt thự… và xuất hiện tình trạng đầu cơ về nhà, đất, đẩy giá nhà, đất lên cao không hợp lý mà chưa có công cụ để điều tiết.

b) Về căn cứ tính thuế:

Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành quy định: Căn cứ tính thuế dựa trên thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích đất, hạng đất và mức thuế. Trong đó:

Hạng đất tính thuế được xác định căn cứ vào các yếu tố chất đất, vị trí, địa hình, khí hậu, thời tiết và điều kiện tưới tiêu… là phù hợp với việc phân loại để thu thuế sử dụng đất nông nghiệp nhưng không phù hợp với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

Mức thuế được tính bằng kilôgam thóc trên 1 ha của từng hạng đất căn cứ vào mục đích sử dụng và khả năng thu hoa lợi trên đất, nay không còn phù hợp trong điều kiện chính sách tài chính liên quan đến đất đai thực hiện thống nhất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 (sử dụng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trong khung giá của Chính phủ làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất…). Mức thuế đất ở, đất phi nông nghiệp được áp dụng bằng từ 1 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong vùng, nếu tính ra số tiền phải nộp trên 1m2 là rất thấp: Mức thuế đất cao nhất chỉ khoảng 8.320 đồng/m2/năm, so với giá cao nhất của loại đất này theo khung giá của Chính phủ là 67.500.000 đồng/m2 thì số thuế phải nộp hàng năm chỉ bằng 0,0123% giá đất và mức thuế đất thấp nhất là 32 đồng/m2/năm, so với giá đất thấp nhất theo khung giá của Chính phủ là 2.500 đồng/m2 thì số thuế phải nộp hàng năm bằng 1,28% giá đất. Như vậy, thuế nhà đất ở thành thị nếu tính theo giá đất thì tỷ lệ thu thấp hơn nhiều lần so với đất ở nông thôn cũng như vùng khó khăn khác.

Đối với đất ở các vùng giáp ranh, việc xác định số thuế nhà, đất phải nộp gặp rất nhiều vướng mắc của người dân, cụ thể: 2 mảnh đất ở cùng một vị trí, giá đất như nhau nhưng thuộc 2 địa phương khác nhau thì số thuế nhà, đất phải nộp là rất khác nhau do định suất thuế khác nhau (do 2 mảnh thuộc 2 loại đô thị khác nhau) và giá thóc tính thuế khác nhau (do giá thóc quy định để tính thuế của mối địa phương là khác nhau).

Nếu so sánh mức độ điều tiết của mức thuế trên khung giá đất của Chính phủ ban hành theo Nghị định số 123/2006/NĐ-CP của Chính phủ thì tỷ lệ động viên về thuế đất qua giá 1m2 đất tại các vùng, loại đô thị cũng không hợp lý: Cùng loại đất tại nông thôn nhưng mức động viên ở xã đồng bằng thấp hơn xã trung du và cao nhất là xã miền núi; tại đô thị, mức động viên thấp nhất ở đô thị loại đặc biệt, mức động viên cao nhất ở đô thị loại V; mức động viên của cùng một loại đất ở đô thị thấp hơn ở nông thôn, là không hợp lý bởi vì điều kiện sinh hoạt, tưới tiêu, giao thông… và khả năng sinh lợi đối với đất ở đô thị cao hơn đất ở nông thôn, đất ở xã đồng bằng cao hơn xã miền núi (số liệu tính toán cụ thể nêu tại Phụ lục số 2 kèm theo).

Ngoài ra, giá đất phi nông nghiệp có đặc điểm là phụ thuộc vào loại đô thị, loại đường phố, đặc biệt là vị trí của thửa đất nên giá đất của từng thửa đất rất khác nhau trong khi thuế đất của 2 thửa đất tuy cùng thuộc một loại đô thị, cùng thuộc một loại đường phố, có vị trí khác nhau, nhưng lại cùng nộp mức thuế đất như nhau là không hợp lý; thuế lúc thiên tai mất mùa lại cao hơn lúc được mùa do giá thóc lúc mất mùa cao hơn lúc được mùa.

Hơn nữa, Pháp lệnh thuế nhà, đất chưa có sự điều tiết cao đối với những đối tượng có quyền sử dụng đất với diện tích lớn để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và hạn chế đầu cơ về đất, cụ thể là: Không phân biệt giữa việc sử dụng đất trong hạn mức và vượt hạn mức; Không phân biệt giữa người có một nhà hoặc một thửa đất với người có nhiều nhà hoặc sử dụng nhiều thửa đất.

c) Về chính sách miễn, giảm thuế

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định miễn thuế đối với gia đình thương binh loại 1/4, loại 2/4; gia đình liệt sĩ được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước, nhưng không miễn giảm đối với các đối tượng là người có công với cách mạng như: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19/8/1945; thương binh hạng 3/4, 4/4; bệnh binh 2/3, 3/3 … gây thắc mắc, khiếu nại trong quá trình thực hiện.

d) Về quản lý thuế

Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Quản lý thuế, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 và bãi bỏ các quy định về quản lý thuế trong các luật, pháp lệnh về thuế, do vậy, Luật thuế nhà đất chỉ cần quy định nội dung về chính sách thuế.

2. Sự cần thiết phải ban hành Luật thuế nhà, đất

a) Khắc phục những hạn chế của chính sách thuế liên quan đến nhà, đất hiện hành; hoàn thiện và nâng cao tính pháp lý của chính sách thuế nhà, đất

Từ thực trạng chính sách thuế nhà, đất hiện hành không còn phù hợp với thực tế như đã nêu, cần phải hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới; đồng thời nâng từ Pháp lệnh lên thành Luật thuế nhà, đất để nâng cao tính pháp lý của chính sách thuế nhà, đất hiện hành.

b) Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010

Ngày 06/12/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010. Theo nội dung cải cách hệ thống chính sách thuế có việc ban hành mới một số sắc thuế và sửa đổi, bổ sung đồng bộ các sắc thuế hiện hành. Cụ thể: Chính sách thuế liên quan đến tài sản là nhà, đất sẽ được hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế để bảo đảm công bằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu, sử dụng tài sản là nhà, đất.

c) Quán triệt chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về nội dung tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới chính sách pháp luật về đất đai

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã ghi: “Tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội đối với việc quản lý và sử dụng đất”; Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ :“Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật”, “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế…, mở rộng đối tượng thu, điều tiết thu nhập”. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW và Nghị quyết của Đại hội X, Quốc hội khoá 12 đã đưa Luật thuế nhà, đất vào chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội.

II. MỤC TIÊU, YÊU CẦU XÂY DỰNG LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Việc ban hành Luật thuế nhà, đất nhằm đảm bảo các mục tiêu, yêu cầu sau:

1. Tăng cường quản lý Nhà nước đối với nhà, đất, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ nhà, đất và khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh.

2. Khắc phục những mặt hạn chế của chính sách thuế nhà, đất hiện hành. Nâng cao tính pháp lý của pháp luật hiện hành về thuế nhà, đất trên cơ sở bổ sung mới và kế thừa các quy định còn phù hợp.

3. Tiếp cận với thông lệ quốc tế về thuế nhà, đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế.

4. Động viên hợp lý sự đóng góp của chủ sở hữu nhà và người sử dụng đất nhất là những đối tượng sử dụng nhà, đất vượt hạn mức quy định vào ngân sách nhà nước.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Dự thảo Luật thuế nhà, đất gồm 4 chương, 13 Điều. Cụ thể là:

Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 4)

Chương này quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, người nộp thuế nhà, đất.

1. Về đối tượng chịu thuế (Điều 2 Dự thảo Luật)

Đối tượng chịu thuế nhà, đất bao gồm: nhà ở, đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành quy định đối tượng chịu thuế là đất ở, đất xây dựng công trình. Tuy nhiên, theo quy định của của Luật đất đai 2003 thì nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng… Do đó, dự thảo Luật quy định đối tượng chịu thuế là đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đảm bảo phù hợp với Luật đất đai 2003.

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định tạm thời chưa thu thuế nhà do tình hình kinh tế xã hội tại thời điểm ban hành Pháp lệnh chưa cho phép thu thuế đối với nhà. Những năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích, phát triển nhà ở. Luật Đất đai năm 2003 tạo điều kiện cho phát triển nhà; Luật Nhà ở năm 2005, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, đã tạo hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua… Theo đó, thị trường bất động sản về nhà, đất đã được hình thành và đang trên đà phát triển. Trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại nhà như: chung cư cao cấp đắt tiền, văn phòng cho thuê, các loại hình nhà liền kề, nhà biệt thự… và xuất hiện tình trạng đầu cơ về nhà, đất, đẩy giá nhà, đất lên cao không hợp lý mà chưa có công cụ để điều tiết. Do đó, dự thảo Luật đã bổ sung thêm quy định thu thuế đối với nhà ở.

2. Về đối tượng không thuộc diện chịu thuế (Điều 3, Dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định không thu thuế đất đối với đất sử dụng vì lợi ích công cộng, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện không vì mục đích kinh doanh và đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của các tôn giáo, các tổ chức không vì mục đích kinh doanh hoặc để ở. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất, dự thảo Luật thuế cũng đưa các loại đất này vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế và bổ sung thêm một số loại đất như đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không vì mục đích kinh doanh; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối không vì mục đích kinh doanh cho phù hợp với quy định về phân loại đất của Luật đất đai 2003.

Ngoài ra, dự thảo Luật cũng đưa một số đối tượng thuộc diện miễn thuế theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất như đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước, tổ chức xã hội, công trình văn hoá, đất chuyên dùng vào mục đích quốc phòng và an ninh; nhà ở, đất ở của người dân tộc thiểu số, của người có công với cách mạng, người tàn tật, người già cô đơn, người chưa đến tuổi thành niên và bổ sung thêm một số đối tượng như nhà ở, đất ở của người nghèo, bệnh binh hạng 1/3, bà mẹ Việt Nam anh hùng; người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc hoá học; nhà tình nghĩa, trại trẻ mồ côi, trại cai nghiện, viện dưỡng lão vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế nhằm mục đích giảm bớt thủ tục hành chính trong quá trình đăng ký, kê khai thuế, giảm chi phí trong quá trình hành thu.

3. Về người nộp thuế (Điều 4, dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành quy định tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình là đối tượng nộp thuế. Trong trường hợp còn có sự tranh chấp hoặc chưa xác định được quyền sử dụng đất, thì tổ chức, cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất là đối tượng nộp thuế đất. Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất và phù hợp với quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, dự thảo Luật quy định người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật này là người nộp thuế.

Trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người đang sử dụng nhà, đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất hợp pháp của người nộp thuế.

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định đối tượng nộp thuế đối với trường hợp bên Việt Nam sử dụng quyền sử dụng đất để liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì đối tượng nộp thuế nhà, đất là bên Việt Nam góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 49 Luật Đất đai năm 2003, tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất là đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó, để phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì dự thảo Luật quy định đối tượng nộp thuế nhà, đất trong trường hợp này là pháp nhân mới, tức là tổ chức liên doanh, không phải là các bên Việt Nam góp vốn bằng quyền sử dụng đất như quy định tại Pháp lệnh thuế nhà, đất.

Chương II: Căn cứ tính thuế, đăng ký, khai, tính và nộp thuế (từ Điều 5 đến Điều 8)

1. Về căn cứ tính thuế (Điều 5, Dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định căn cứ tính thuế đất là diện tích đất, hạng đất và mức thuế. Mức thuế đất được quy định bằng từ 1 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Căn cứ tính thuế theo Pháp lệnh thuế nhà, đất không còn phù hợp trong điều kiện chính sách tài chính liên quan đến đất đai thực hiện thống nhất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 (Theo khoản 4 Điều 56 Luật đất đai 2003 thì giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trong khung giá của Chính phủ làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất…). Do đó, căn cứ tính thuế nhà, đất được thay đổi cơ bản như sau: Căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất.

2. Về giá tính thuế (Điều 6 Dự thảo Luật)

a) Giá tính thuế nhà được xác định theo diện tích nhà chịu thuế và giá của 1m2 nhà. Trong đó:

– Diện tích nhà chịu thuế là toàn bộ diện tích sàn xây dựng (kể cả diện tích công trình phụ, diện tích ban công kèm theo nếu có) của một căn hộ chung cư hoặc nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận thì theo diện tích thực tế đã xây dựng hoàn thành hoặc đang sử dụng.

– Giá của 1m2 nhà:

Phương án 1:

+ Đối với nhà mới xây dựng: Giá của 1m2 nhà được xác định căn cứ theo đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại (kể cả trường hợp sử dụng nhà ở để cho thuê hoặc kinh doanh) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Hiện hành, đơn giá nhà xây dựng mới được xác định dựa vào khung suất vốn đầu tư xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành hàng năm, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành suất vốn đầu tư xây dựng tại địa phương mình cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

+ Đối với nhà đã sử dụng:

Giá của 1m2 nhà là đơn giá 1m2 nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trừ đi tỷ lệ từ 2% đến 5% đơn giá cho mỗi năm đã sử dụng, tuỳ theo loại, cấp, hạng nhà, nhưng mức trừ tối đa không quá 80% đối với nhà cấp I, cấp II và không quá 90% đối với nhà cấp III, cấp IV.

Chính phủ quy định cụ thể việc xác định thời gian đã sử dụng của nhà, tỷ lệ giảm trừ đối với từng loại, cấp, hạng nhà để tính thuế.

Theo tiêu chuẩn phân cấp nhà và công trình xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành (TCXD 13:2001, nhóm H) thì nhà được chia làm 4 cấp gồm: cấp I là nhà có chất lượng sử dụng cao với niên hạn sử dụng trên 100 năm; nhà cấp II là nhà có chất lượng sử dụng khá với niên hạn sử dụng trên 50 năm; nhà cấp III là nhà có chất lượng sử dụng trung bình với niên hạn sử dụng trên 20 năm; và nhà cấp IV là nhà có chất lượng sử dụng thấp với niên hạn sử dụng dưới 20 năm. Theo đó, dự kiến Chính phủ sẽ quy định tỷ lệ giảm trừ đối với các loại nhà như sau: đối với nhà cấp I, II: 2%; nhà cấp III: 3%; nhà cấp IV: 5%.

Phương án này có ưu điểm là công bằng đối với người nộp thuế, nhưng lại khó khăn trong quá trình thực hiện do trên thực tế một bộ phận chủ yếu nhà đã qua sử dụng không xác định được năm xây dựng, năm bắt đầu sử dụng, thời gian sử dụng (nhà do nhận chuyển nhượng quyền sở hữu của người khác, có trường hợp đã qua nhiều chủ; nhà được thừa kế); ngoài ra, việc cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà mới được một số thành phố lớn triển khai. Hơn nữa tình trạng mua bán trao tay vẫn còn diễn ra phổ biến dẫn đến chi phí công tác hành thu sẽ rất tốn kém và không phù hợp với thực tế (với mức loại trừ là 600trđ thì hầu hết nhà ở nông thôn, một bộ phận chủ yếu nhà ở của cán bộ công nhân viên chức hiện nay không phải nộp thuế).

Phương án 2:

Quy định giá tính thuế nhà không phân biệt giữa nhà đã sử dụng và nhà mới. Giá tính thuế của 1m2 nhà được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên đơn giá 1m2 nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại (kể cả trường hợp sử dụng nhà ở để cho thuê hoặc kinh doanh) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm đối với từng loại nhà (dự kiến Chính phủ sẽ quy định giá tính thuế của 1m2 nhà bằng 50% đơn giá 1m2 nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại).

Phương án này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện (đa số các ý kiến tham gia đều đề nghị giá tính thuế nên tính theo một tỷ lệ nhất định).

Qua phân tích ưu, nhược điểm của 2 Phương án, Ban soạn thảo đề nghị áp dụng theo phương án 2 và đưa nội dung phương án này vào dự thảo Luật.

– Ngoài ra, dự thảo Luật còn quy định giá tính thuế đối với trường hợp có nhiều nhà, cụ thể là: trường hợp có quyền sở hữu nhiều nhà ở thì giá tính thuế là tổng giá trị các nhà chịu thuế.

b) Giá tính thuế đất căn cứ theo diện tích đất tính thuế và giá của 1m2 đất, trong đó:

– Diện tích đất tính thuế: Pháp lệnh thuế nhà, đất không quy định cụ thể về diện tích đất tính thuế mà được quy định trong Nghị định số 94/CP ngày 25/8/1994 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế nhà, đất và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế nhà, đất. Theo quy định tại Nghị định số 94/CP thì “Diện tích đất để tính thuế đất ở, đất xây dựng công trình bao gồm: diện tích mặt đất xây nhà ở, công trình và các diện tích khác trong khuôn viên đất ở; đất xây dựng công trình bao gồm cả diện tích đường đi lại, diện tích sân, diện tích bao quanh nhà, quanh công trình kiến trúc, diện tích trồng cây, diện tích ao hồ và các diện tích để trống”.

Việc nêu chi tiết về diện tích đất chịu thuế như quy định tại Nghị định số 94/CP dẫn đến tình trạng không bao quát hết diện tích đất tính thuế, nhiều khi lại tính thuế trùng đối với diện tích đất nông nghiệp (đối với đất có vườn, ao), do đó, để đảm bảo tính chính xác và bao quát hết diện tích đất thuộc đối tượng chịu thuế, dự thảo Luật quy định “diện tích đất tính thuế là diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trường hợp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là diện tích đất thực tế đang sử dụng”.

Ngoài ra, dự thảo Luật còn quy định diện tích tính thuế đối với trường hợp có nhiều đất, cụ thể là: trường hợp có quyền sử dụng nhiều đất ở thì diện tích tính thuế là tổng diện tích các thửa đất có quyền sử dụng.

– Giá đất được sử dụng làm căn cứ tính thuế là giá đất theo mục đích sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (hiện hành là giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm).

+ Trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kể cả trường hợp sử dụng đúng mục đích hoặc không đúng mục đích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), là giá đất theo mục đích sử dụng được ghi trong giấy chứng nhận.

+ Trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giá đất theo mục đích đang sử dụng.

– Đối với đất xây dựng nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư (bao gồm cả trường hợp vừa để ở vừa để kinh doanh) áp dụng hệ số phân bổ cho các tầng theo quy định của Chính phủ.

Dự kiến Chính phủ sẽ quy định như sau: loại nhà 01 tầng: áp dụng hệ số là 1; loại nhà 02 tầng: tầng 1 áp dụng hệ số là 0,6 và tầng 2 áp dụng hệ số là 0,4; loại nhà 03 tầng: tầng 1 áp dụng hệ số là 0,6, tầng 2 áp dụng hệ số là 0,3 và tầng 3 áp dụng hệ số là 0,1; loại nhà 04 tầng: tầng 1 áp dụng hệ số là 0,6, tầng 2 áp dụng hệ số là 0,2, tầng 3 và tầng 4 áp dụng hệ số là 0,1; loại nhà 05 tầng trở lên: tầng 1 áp dụng hệ số là 0,6 và từ tầng 2 trở lên áp dụng hệ số là 0,1; tầng hầm áp dụng hệ số là 0,05. Việc phân bổ như trên vừa đảm bảo mục tiêu điều tiết trên giá trị đất, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng (người ở tầng cao sẽ chịu thiệt thòi hơn người ở tầng thấp về việc sử dụng các dịch vụ và sự tiện lợi trong sinh hoạt).

c) Giá tính thuế được ổn định 5 năm kể từ năm tính thuế đầu tiên theo quy định của Luật này. Việc ổn định 5 năm là ổn định theo chu kỳ thời gian chứ không phải là ổn định giá tính thuế cho từng thửa đất, căn nhà vì như vậy mới phù hợp cho việc quản lý. Nếu ổn định đối với từng thửa đất, căn nhà thì hàng năm cơ quan thuế đều phải lập sổ bộ thuế nhà, đất trong khi số thu nhỏ, chi phí quản lý sẽ rất lớn. Cụ thể việc ổn định giá tính thuế được xác định như sau: Theo dự kiến Luật thuế nhà, đất có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011. Theo đó, phải tiến hành kê khai lại đối với tất cả các đối tượng đang sở hữu nhà, sử dụng đất và đang nộp thuế theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất. Do đó, đối với những trường hợp kê khai tại thời điểm năm 2011 thì giá tính thuế sẽ được ổn định 5 năm và đến ngày 01/01/2015 mới phải xác định lại giá tính thuế (giá đất và giá nhà tính thuế theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm 2015). Trường hợp từ năm 2012 mới có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà (ví dụ: người được nhà nước giao đất, mua đất của dự án, mới xây dựng nhà, mua nhà chung cư mới, không bao gồm người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người khác đã và đang sử dụng), giả sử tháng 5/2012 mới xây dựng nhà hoặc mới mua đất của dự án và kê khai nộp thuế thì đến năm 2017 mới phải xác định lại giá tính thuế.

3. Về thuế suất (Điều 7 Dự thảo Luật)

Nhằm đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế nhà, đất như đã nêu tại mục II, dự thảo Luật quy định mức thuế suất áp dụng đối với nhà, đất như sau:

a) Đối với nhà ở:

Áp dụng giá khởi điểm tính thuế nhà là 600 triệu đồng.

Phương án 1: áp dụng một mức thuế suất là 0,03%([1]) đối với các loại nhà có giá tính thuế từ 600 triệu đồng trở lên.

Phương án này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, không điều tiết đối với những người sử dụng nhà có giá trị không lớn, có thu nhập thấp và trung bình trong xã hội.

Phương án 2: Áp dụng thuế suất theo biểu thuế suất tính theo năm như sau:

Bậc thuế

Giá tính thuế của nhà ở

Thuế suất

(%)

1

Đến 600 triệu đồng

0

2

Phần trên 600 triệu đồng

0,03

Phương án này có ưu điểm là không điều tiết đối với những người sử dụng nhà có giá trị không lớn, có thu nhập thấp và trung bình, điều tiết cao đối với trường hợp sở hữu nhiều nhà, đảm bảo công bằng xã hội. Theo phương án này thì đại bộ phận nhà ở hiện nay ở nông thôn, nhà ở đô thị có diện từ 150 m2 trở xuống sẽ không thuộc diện chịu thuế.

Qua phân tích ưu, nhược điểm của từng phương án, Ban soạn thảo cho rằng nên thực hiện theo phương án 2 với mức miễn trừ 600 triệu đồng cùng việc áp dụng biểu thuế suất và đưa nội dung của phương án này vào dự thảo Luật.

Ngoài ra, có ý kiến đề nghị chỉ đánh thuế đối với trường hợp nhà thứ 2 trở đi (nhà thứ nhất thì không đánh thuế). Tuy nhiên, phương án này không phù hợp vì sẽ có các trường hợp: (i) Người có 1 nhà có giá trị lớn thì không phải chịu thuế, còn người có 2 nhà nhưng đều có giá trị nhỏ thì lại phải chịu thuế; (ii) Trường hợp lợi dụng mua nhà thứ 2 trở đi có giá trị nhỏ hơn để chịu thuế thay cho nhà có giá trị lớn gây thất thoát cho ngân sách nhà nước. Do đó, phương án này sẽ không điều tiết được đối với người có thu nhập cao, người có nhiều nhà. Vì vậy, Ban soạn thảo đề nghị không lựa chọn phương án này.

b) Đối với đất:

b1) Đối với đất ở nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: áp dụng mức thuế suất cơ bản là 0,03%.

Với mức thu là 0,03% thì số thu thuế đối với đất sản xuất kinh doanh khoảng 384,5 tỷ đồng. (Số liệu tính toán cụ thể nêu tại Phụ lục số 4 kèm theo).

b2) Đối với đất ở hộ gia đình, cá nhân:

Phương án 1: Áp dụng mức thuế suất cơ bản 0,03% chung cho các loại đất ở.

Phương án này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện nhưng có hạn chế là chưa điều tiết cao được đối với trường hợp có quyền sử dụng nhiều đất, không góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ về đất.

Theo phương án này thì số thu thuế đối với đất ở khoảng 1.209 tỷ đồng, gấp 2 lần so với hiện hành, trong đó:

+ Đất ở tại nông thôn khoảng 218 tỷ đồng, chiếm 18% tổng thu;

+ Đất ở đô thị khoảng 990 tỷ đồng; chiếm 82% tổng thu;

(Số liệu tính toán cụ thể nêu tại Phụ lục số 4 kèm theo).

Phương án 2: Áp dụng thuế suất 0,06% đối với phần diện tích vượt hạn mức; phần diện tích trong hạn mức, thuế suất 0%. Cụ thể như sau:

Bậc thuế

Diện tích đất chịu thuế (m2)

Thuế suất (%)

1

Diện tích trong hạn mức

0

2

Phần diện tích vượt hạn mức

0,06

Chính phủ quy định cụ thể diện tích hạn mức đất làm căn cứ tính thuế.

Phương án này có ưu điểm là điều tiết cao đối với trường hợp có quyền sử dụng nhiều đất, góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ về đất, không điều tiết đối với người có quyền sử dụng 01 mảnh đất ở có diện tích nhỏ với người nộp thuế là người có thu nhập thấp, đảm bảo công bằng xã hội. Tuy nhiên, theo phương án này thì hầu hết những người có quyền sử dụng 1 mảnh đất tại đô thị và nông thôn đều không thuộc diện chịu thuế (vì theo thống kê, hiện nay có hơn 30 tỉnh đã ban hành hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân với hạn mức đất trung bình ở đô thị khoảng 150m2/hộ và ở nông thôn khoảng 350m2/hộ, trên thực tế, đại bộ phận diện tích đất tại Hà Nội đều nhỏ hơn 100 m2). Do đó, phương án này chưa đáp ứng được hết mục tiêu đã đề ra là kế thừa, luật hoá các quy định của pháp luật hiện hành về thuế liên quan đến nhà, đất còn phù hợp; động viên sự đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách nhà nước.

Theo phương án này thì số thu thuế đối với đất ở khoảng 49,3 tỷ đồng, bằng 8,4% so với hiện hành, trong đó:

+ Đất ở tại nông thôn khoảng 13,6 tỷ đồng, chiếm 28% tổng thu;

+ Đất ở đô thị khoảng 35,7 tỷ đồng; chiếm 72% tổng thu;

(Số liệu tính toán cụ thể nêu tại Phụ lục số 4 kèm theo).

Phương án 3: Áp dụng thuế suất theo biểu luỹ tiến từng phần như sau:

Bậc thuế

Diện tích đất chịu thuế (m2)

Thuế suất (%)

1

Diện tích trong hạn mức

0,03

2

Phần diện tích vượt hạn mức nhưng không quá 3 lần hạn mức

0,06

3

Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức

0,09

Chính phủ quy định cụ thể diện tích hạn mức đất làm căn cứ tính thuế.

Theo phương án này thì số thu đối với các trường hợp có quyền sử dụng 01 mảnh đất với mức giá trung bình thì số thuế phải nộp tương đương với mức thu hiện hành và thấp hơn. Tuy nhiên sẽ có một số trường hợp có diện tích đất lớn hoặc giá đất cao thì số thu dự kiến có thể tăng từ 2 đến 2,8 lần số thu hiện hành, có một số trường hợp tăng lên khoảng 5 lần, chủ yếu là trường hợp có diện tích đất lớn hoặc giá đất cao và trường hợp có nhiều nhà, đất.

Như vậy, phương án này có ưu điểm là điều tiết cao đối với trường hợp có quyền sử dụng nhiều đất, góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ về đất, điều tiết thấp (tương đương với hiện hành) đối với người có quyền sử dụng 01 mảnh đất ở có diện tích nhỏ với người nộp thuế là người có thu nhập thấp, đảm bảo công bằng xã hội, khắc phục được hạn chế của Phương án 2 và đáp ứng được các mục tiêu đã đề ra. Theo phương án này thì số thu thuế đối với đất ở khoảng 1.258 tỷ đồng/năm, gấp 2,1 lần so với số thu thuế đất hiện hành, trong đó:

– Đất ở tại đô thị: Khoảng 1.026 tỷ đồng, chiếm 82% tổng thu.

– Đất ở tại nông thôn: Khoảng 232 tỷ đồng, chiếm 18% tổng thu.

(Số liệu tính toán cụ thể nêu tại Phụ lục số 4 kèm theo).

Qua phân tích ưu, nhược điểm của từng phương án, Ban soạn thảo cho rằng nên thực hiện theo phương án 3 và đưa nội dung của phương án 3 vào dự thảo Luật.

Với các phương án thuế suất lựa chọn đối với nhà và đất nêu trên thì tổng số thu thuế nhà, đất dự kiến là 1.643 tỷ đồng. Trong đó:

– Số thu đối với nhà bằng 0 vì chưa có thống kê cụ thể

– Số thu đối với đất ở là 1.258 tỷ đồng

– Số thu đối với đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 385 tỷ đồng

3. Về đăng ký, khai, tính và nộp thuế (Điều 8 Dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà đất có một chương quy định về kê khai và nộp thuế đất, trong đó quy định về kỳ tính thuế, nơi tổ chức thu thuế, nghĩa vụ của người sử dụng đất, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan thuế. Tuy nhiên, các quy định này hiện đã được quy định cụ thể tại Luật quản lý thuế, do đó, dự thảo Luật không quy định lại các nội dung này mà chỉ quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định tại Điều 2 Luật này thực hiện đăng ký, khai, tính và nộp thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về quản lý thuế”.

Ngoài ra, để đảm bảo thực hiện mục tiêu khi xây dựng Luật thuế nhà, đất là chống đầu cơ về nhà, đất, dự thảo Luật quy định thêm việc đăng ký, khai, tính và nộp thuế đối với trường hợp có quyền sở hữu nhiều nhà ở, quyền sử dụng nhiều thửa đất ở nhằm thực hiện mục tiêu khi ban hành Luật là góp phần hạn chế đầu cơ nhà, đất, cụ thể như sau:

– Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuế cấp huyện nơi có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất.

– Trường hợp người nộp thuế có quyền sở hữu nhiều nhà ở, quyền sử dụng nhiều thửa đất ở tại một hay nhiều địa phương khác nhau thì người nộp thuế phải lập tờ khai tổng hợp về tất cả các nhà ở có quyền sở hữu, các thửa đất có quyền sử dụng và đăng ký, khai, tính thuế tại nơi người nộp thuế lựa chọn (trường hợp người nộp thuế có quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên cùng một thửa đất thì người nộp thuế chỉ được lựa chọn chung tại một nơi). Sau khi trừ đi số thuế đã nộp tại các địa phương nơi có quyền sở hữu nhà, nơi có quyền sử dụng đất, phần chênh lệnh còn lại sẽ được nộp tại địa phương nơi người nộp thuế đã lựa chọn.

Chương III: Miễn thuế, giảm thuế (từ Điều 9 đến Điều 11)

1. Về nguyên tắc miễn thuế nhà, đất (Điều 9, Dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà, đất không quy định nguyên tắc miễn thuế nhà, đất. Tuy nhiên để đảm bảo việc thực hiện miễn, giảm thuế được thống nhất, dự thảo Luật quy định thêm một số nguyên tắc miễn, giảm thuế nhà, đất như: trường hợp được hưởng cả miễn và giảm thuế hoặc hưởng nhiều mức giảm khác nhau thì được miễn thuế; người nộp thuế chỉ được miễn thuế trong hạn mức tại một nơi duy nhất…

2. Về miễn thuế nhà, đất (Điều 10, dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định tạm miễn thuế đất đối với các trường hợp: đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước, tổ chức xã hội, công trình văn hoá, đất chuyên dùng vào mục đích quốc phòng và an ninh; Đất ở thuộc vùng rừng núi rẻo cao thuộc diện được miễn thuế nông nghiệp, vùng định canh, định cư, vùng kinh tế mới; Đất ở của gia đình thương binh loại 1/4, loại 2/4; gia đình liệt sĩ được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước quy định; đất xây dựng nhà tình nghĩa; Đất ở của người tàn tật, người chưa đến tuổi thành niên và người già cô đơn không nơi nương tựa không có khả năng nộp thuế.

Một số đối tượng miễn thuế quy định tại Pháp lệnh thuế nhà, đất đã được chuyển vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế trong dự thảo Luật nhằm giảm bớt thủ tục hành chính trong quá trình đăng ký, kê khai thuế, giảm chi phí trong quá trình hành thu. Ngoài ra, dự thảo Luật quy định miễn thuế đối với đối tượng ưu đãi đầu tư cho phù hợp với quy định của Luật đầu tư và bổ sung thêm miễn thuế đối với lĩnh vực xã hội hoá (thuộc lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường theo chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập); các đối tượng thuộc diện giải toả Nhà nước thu hồi đất để giảm bớt khó khăn cho các đối tượng này; thân nhân liệt sỹ được hưởng trợ cấp hàng tháng.

3. Về giảm thuế nhà, đất (Điều 11, dự thảo Luật)

Pháp lệnh thuế nhà, đất chỉ quy định giảm thuế cho đối tượng nộp thuế có khó khăn về kinh tế do bị thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ do Chính phủ quyết định.

Kế thừa quy định về giảm thuế của Pháp lệnh thuế nhà, đất, dự thảo Luật có quy định về giảm thuế cho các người nộp thuế gặp khó khăn do bị thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ nếu giá trị thiệt hại từ 20% đến 50% tổng giá trị nhà, đất chịu thuế (trường hợp giá trị thiệt hại trên 50% thì được miễn thuế).

Ngoài ra, để đảm bảo công bằng giữa các đối tượng là thương binh, liệt sỹ, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ (Pháp lệnh thuế nhà, đất không quy định miễn hay giảm thuế đối với thương binh hạng 3/4, 4/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 3/4, 4/4; bệnh binh hạng 2/3, 3/3; thân nhân liệt sỹ không được hưởng trợ cấp hàng tháng, … dẫn đến thắc mắc, khiếu nại đề nghị được đối xử công bằng). Do đó, dự thảo Luật quy định giảm 50% thuế nhà, đất đối với các trường hợp này.

Chương IV: Điều khoản thi hành (từ Điều 12 đến Điều 13)

Với nội dung nêu trên, dự thảo Luật sẽ thay thế (bãi bỏ): Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994.

Nếu dự án Luật này được Quốc hội thông qua trong năm 2010 thì đề nghị Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 để có thời gian tổ chức triển khai, hướng dẫn thi hành Luật.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN XIN Ý KIẾN

1. Về việc thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê

Có hai loại ý kiến về việc thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê:

– Loại ý kiến thứ nhất cho rằng không nên thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê, bởi vì:

+ Căn cứ tính thuế nhà, đất và căn cứ tính tiền thuê đất là như nhau. Do đó, Nhà nước đã thu tiền thuê đất mà thu thuế đất nữa sẽ trùng lắp.

+ Người được Nhà nước cho thuê đất nộp tiền thuê đất hàng năm không có đầy đủ các quyền như trường hợp được Nhà nước giao đất thu tiền sử dụng đất và trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nộp tiền thuê đất 1 lần.

– Loại ý kiến thứ hai cho rằng việc thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê là phù hợp, đảm bảo tính công bằng trong việc sử dụng đất bởi vì:

Theo quy định của Luật đất đai 2003 thì để có quyền sử dụng đất (kể cả đất ở, đất sản xuất kinh doanh) thì người sử dụng đất đều phải trả tiền, trường hợp được Nhà nước giao đất thì phải nộp tiền sử dụng đất, trường hợp nhận chuyển nhượng từ người khác có quyền sử dụng đất hợp pháp phải trả tiền để nhận chuyển nhượng, trường hợp được Nhà nước cho thuê đất phải trả tiền thuê đất. Do đó, nếu chỉ thu thuế đối với đất ở, đất được Nhà nước giao đất mà không thu thuế với đất được Nhà nước cho thuê là không công bằng giữa các đối tượng sử dụng đất.

Từ những nội dung phân tích nêu trên, dự thảo Luật thuế nhà, đất quy định thu thuế đối với đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp áp dụng đối với cả hai trường hợp là: được Nhà nước giao hoặc cho thuê để thực hiện dự án đầu tư.

2. Về giá tính thuế của nhà đã sử dụng

Tại điểm 2a Chương II Mục III Tờ trình có đề xuất phương án xác định giá tính thuế đối với nhà theo theo tỷ lệ phần trăm trên đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại và giao cho Chính phủ quy định tỷ lệ phần trăm trên đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại đối với các loại nhà.

Ngoài ra, có ý kiến đề nghị giá tính thuế có sự phân biệt giữa nhà mới và nhà đã sử dụng, trong đó đối với nhà mới xây dựng: Giá của 1m2 nhà được xác định căn cứ theo đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại, còn đối với nhà đã sử dụng được xác định theo cách xác định nhà mới xây dựng nhưng trừ đi tỷ lệ từ 2% đến 5% cho mỗi năm đã sử dụng, tuỳ theo loại nhà, cấp, hạng nhà. Tuy nhiên, theo cách tính này thì rất khó xác định được năm xây dựng, năm bắt đầu sử dụng, thời gian sử dụng (nhà do nhận chuyển nhượng quyền sở hữu của người khác, có trường hợp đã qua nhiều chủ; nhà được thừa kế); ngoài ra, việc cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà mới được một số thành phố lớn triển khai. Hơn nữa tình trạng mua bán trao tay vẫn còn diễn ra phổ biến dẫn đến chi phí công tác hành thu sẽ rất tốn kém và không thực sự hiệu quả trong việc tính thuế đối nhà cũ (với mức loại trừ là 600trđ thì hầu hết nhà ở đã qua sử dụng hiện nay sẽ không phải nộp thuế).

Theo đó, để đảm bảo đơn giản trong quá trình tính thuế, Dự thảo Luật thuế nhà, đất quy định “Giá tính thuế của 1m2 nhà được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên đơn giá 1m2 nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại (kể cả trường hợp sử dụng nhà ở để cho thuê hoặc kinh doanh) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm đối với từng loại nhà ở”.

Trên đây là báo cáo về nội dung của Dự án Luật thuế nhà, đất, Bộ Tài chính xin trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến./.

Nơi nhận:

BỘ TRƯỞNG

– Như trên;

– Văn phòng Chính phủ;

– Bộ Tư pháp;

– Lưu: VT, CST (CST3).

Vũ Văn Ninh


[1] 0,03% là mức thuế suất được xác định theo số liệu thu thuế nhà, đất đối với đất ở theo pháp luật về thuế nhà, đất hiện hành – Nội dung tính toán cụ thể nêu tại Phụ lục số 3 kèm theo.

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: