TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: XỬ SAI “LỦ KHỦ”

PHAN GIA HI

VKS đã vạch ra cả chục điểm sai trong một bản án xử vụ tranh chấp vườn cà phê. Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và việc áp dụng pháp luật về dân sự…” – VKSND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) vừa kháng nghị như trên về một bản án của TAND huyện này.

Chị em tranh chấp vườn cà phê

Theo đơn kiện của ông Đ., ông có một mảnh vườn trồng gần 2.000 cây cà phê. Sau đó, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi vườn giúp để ông yên tâm đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, ông nhắn nhủ: “Anh chị trông coi, chăm sóc, thu hoạch hoa lợi, duy trì vườn cây cho tôi”. Gia đình người chị nhận lời.

Mấy năm sau, ông trở về nước, nể công anh chị giữ vườn tược vất vả nên vẫn để cho anh chị tiếp tục quản lý, thu hoạch hoa màu. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đòi gia đình người chị phải trả lại.

Phía người chị lại cho rằng một nửa vườn cà phê này là của cha mình, nửa còn lại là của ông Đ. Đầu năm 1992, gia đình bà đã mua lại của cả hai người. Sau đó gia đình bà đi đăng ký rồi được cấp giấy đỏ. Hai năm trước, con gái lấy chồng, gia đình bà cho các con, giờ không biết vì lý do gì mà ông Đ. lại đi đòi…

Giữa tháng 5, TAND huyện Krông Năng xử sơ thẩm, nhận định ông Đ. không có giấy tờ chứng minh mảnh vườn cà phê là tài sản gửi người chị trông giùm. Trong khi đó, phía người chị đã sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp gì và đã được cấp giấy đỏ. Do không có nhu cầu sử dụng nên phía người chị đã tặng cho con gái và việc tặng cho này cũng không trái pháp luật. Từ đó tòa đã bác yêu cầu đòi lại đất của ông Đ.

Sai tố tụng

Theo văn bản kháng nghị của VKSND huyện Krông Năng, trước hết TAND huyện đã thiếu sót, không đề cập đầy đủ yêu cầu khởi kiện của ông Đ., vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể, ông Đ. khởi kiện yêu cầu tòa đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nhưng trong thông báo thụ lý vụ án, tòa chỉ thụ lý việc tranh chấp quyền sử dụng đất mà không hề đề cập gì đến tài sản gắn liền trên đất.

Thứ hai, cũng trong thông báo thụ lý vụ án, tòa xác định bị đơn là vợ chồng người con gái được gia đình người chị ông Đ. cho đất. Tòa không đưa gia đình người chị ông Đ. vào với tư cách bị đơn là vi phạm khoản 3 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tiếp nữa, ở quyết định định giá tài sản, trong số bốn thành viên định giá không có ai là chủ tịch hội đồng. Chưa kể là trong quyết định định giá không có tên ông A. nhưng ông này lại ký tên là chủ tịch hội đồng ở biên bản định giá sau này. Sai sót khác là quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định thư ký phiên tòa là ông S. nhưng trong biên bản phiên tòa thì thư ký lại là ông T. Việc tòa thay đổi thư ký trước khi mở phiên xử mà không ra quyết định là vi phạm tố tụng. Ngoài ra, án sơ thẩm không buộc ai chịu chi phí giám định chữ ký (trong các giấy tờ liên quan đến tranh chấp) là thiếu sót, vi phạm Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sai cả nội dung

Không chỉ thế, theo VKS huyện, ban đầu các bên khai thống nhất nguồn gốc đất là của cha ông Đ. và ông Đ. Tuy nhiên, trong một số biên bản, phía bị đơn lại khai rằng đất này do xã cấp. Lời khai của bị đơn mâu thuẫn nhưng khi giải quyết án, thẩm phán lại không cho đối chất. Tại tòa, những mâu thuẫn này cũng không được làm rõ nhưng khi nhận định trong bản án, tòa lại cho rằng nguyên đơn đã gửi tài sản cho bị đơn mà không có giấy tờ chứng minh nên bác yêu cầu. Đây là phần nhận định chưa chính xác vì hợp đồng gửi giữ tài sản không quy định hình thức.

Một vấn đề khác, bị đơn khai mua lại vườn cà phê của phía nguyên đơn nhưng không làm thủ tục. Vậy mà tòa lại nhận định trình tự, thủ tục làm hồ sơ xin cấp giấy đỏ của phía nguyên đơn là… phù hợp quy định.

Sai luôn trích dẫn

Một cái sai nguy hiểm nữa là tòa trích dẫn sai văn bản áp dụng. Trong phần quyết định của bản án, tòa áp dụng Nghị định 64 ngày 27-9-1995 của Chính phủ (quy định về việc giao đất nhà nước cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp) cùng Thông tư 346 ngày 16-3-1997 của Tổng cục Địa chính (hướng dẫn về trình tự, thủ tục cấp giấy đỏ) để bác yêu cầu của nguyên đơn. Thế nhưng năm 1995, Chính phủ không ban hành nghị định nào có số 64 ngày 27-9-1995 quy định về việc giao đất nhà nước cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích nông nghiệp. Tương tự, năm 1997 không có thông tư nào của Tổng cục Địa chính có số 346 ngày 16-3-1997 hướng dẫn về thủ tục cấp giấy đỏ cả.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/toa-an/view.aspx?news_id=263291

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: