HỒI KẾT CỦA THỊ TRƯỜNG TỰ DO?

VĨNH TIẾN (Theo Foreign Affairs, 5-6/2009)

1. Những chủ thể nổi bật

Từ nước Mỹ, sang châu Âu và tại nhiều nơi khác của thế giới phát triển, làn sóng của chủ nghĩa can thiệp quốc gia gần đây giúp giảm tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và khôi phục kinh tế hiện tại. Tuy nhiên, ẩn giấu đằng sau sự can thiệp sâu của nhà nước vào kinh tế là sự phản kháng mạnh mẽ đối với học thuyết thị trường tự do.

Thị trường tự do lung lay

Chính phủ, chứ không phải là những cổ đông tư nhân, đang nắm quyền sở hữu những công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới và kiểm soát 2/3 nguồn năng lượng dự trữ của thế giới. Những công ty khác sở hữu hoặc kết hợp với nhà nước cùng hưởng những lợi nhuận thu được từ những nền kinh tế và thị trường mới nổi trên thế giới. “Quỹ lợi ích quốc gia” chiếm đến khoảng 1/8 nguồn đầu tư của toàn cầu, và con số này vẫn đang tiếp tục tăng. Chúng đang tiếp năng lượng cho một cỗ máy đầu tư lớn và phức tạp, mà người ta gọi đó là chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Chỉ khoảng 20 năm trở lại đây, tình hình ngày càng thay đổi. Sau những biến động lớn ở Liên Xô do những mâu thuẫn trong nước, chính quyền Kremlin đã nhanh chóng chuyển hướng đi theo mẫu hình kinh tế của phương Tây. Trong khi đó ở Trung Quốc, những cải cách thị trường tự do mà Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành hơn một thập kỷ trước đang mang lại nhiều thay đổi mới cho đất nước này. Những nền kinh tế mới nổi như Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu bãi bỏ những điều luật không hiệu quả đối với nền kinh tế của họ và tăng cường hơn các hoạt động tự do kinh doanh. Ở khắp Tây Âu, làn sóng tư nhân hóa dường như cuốn trôi sự quản lý của nhà nước ở rất nhiều công ty và các thành phần kinh tế.

Tuy nhiên làn sóng thị trường tự do đang ngày một giảm dần. Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cách giải quyết vấn đề của những nhà quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Liên Xô và Trung Quốc hầu như ít tác động đến thị trường các nước của phương Tây. Giờ đây, ở Abu Dhabi, Ankara, Bắc Kinh, Brasilia, Mexico City, Mátxcơva và New Delhi, các quan chức nhà nước đang đưa ra những quyết định về kinh tế – về đầu tư chiến lược, sở hữu nhà nước, quay vòng vốn- thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Những thách thức đến từ chủ nghĩa tư bản nhà nước ngày càng được củng cố sau cuộc suy thoái toàn cầu và khủng hoảng tài chính quốc tế. Sự thống trị của thương mại tự do và thị trường mở đang khiến thế giới ngày càng hoài nghi về giá trị của những hệ thống trên.

Các chủ thể chính

Chủ nghĩa tư bản nhà nước có 4 chủ thể chính: Các tập đoàn dầu lửa quốc gia, Công ty thuộc sở hữu nhà nước, Công ty hàng đầu quốc gia do tư nhân làm chủ, và Quỹ lợi ích quốc gia (SWF).

Khi nghĩ đến “người khổng lồ dầu khí” (big oil), hầu hết người Mỹ nghĩ đến trước hết là các tập đoàn đa quốc như BP, Chevron, ExxonMobil, Shell, hay Total. Nhưng 13 công ty dầu khí lớn nhất thế giới, dựa vào trữ lượng, lại do các chính phủ làm chủ và điều hành – chẳng hạn như Saudi Aramco của Saudi Arabie; Công ty dầu khí quốc gia của Iran; Petróleos de Venezuela, S.A. của Venezuela; Gazprom và Rosneft của Nga; Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc; Petronas của Malaysia; và Petrobras của Brazil. Những công ty này kiểm soát 75% trữ lượng và sản lượng dầu toàn cầu. Hiện nay, các công ty đa quốc do tư nhân làm chủ sản xuất chỉ 10% lượng dầu trên thế giới và làm chủ chỉ 3% trữ lượng dầu toàn cầu.

Trong những khu vực đa dạng như ngành hóa dầu, ngành điện lực, công nghiệp khai thác mỏ, ngành sản xuất sắt thép, ngành quản lí bến cảng và vận chuyển đường biển, ngành sản xuất vũ khí, xe hơi, máy móc hạng nặng, ngành viễn thông, và ngành hàng không, ngày càng có nhiều chính phủ không chịu dừng lại chỉ ở việc điều tiết thị trường. Thay vào đó, những chính phủ này lại muốn sử dụng thị trường để củng cố vị thế chính trị nội bộ của mình. Một số công ty quốc doanh đã phát triển đến mức cực lớn, đáng lưu ý nhất là những công ty độc quyền xuất khẩu vũ khí và sản xuất điện thoại cố định của Nga; Trung Quốc có công ty độc quyền ngành nhôm, công ty đồng độc quyền đường tải điện…; Ấn Độ thì có công ty đường sắt quốc gia, một trong những công ty trên thế giới có số nhân viên dân sự đông nhất, với hơn 1,4 triệu nhân viên.

Một xu thế gần đây hơn đã làm cho hiện tượng này trở nên phức tạp. Trong một số quốc gia đang phát triển, nhiều đại công ty mặc dù vẫn nằm trong tay tư nhân nhưng lại dựa vào sự bảo trợ của chính phủ dưới các hình thức như tín dụng, hợp đồng, và tiền trợ cấp. Những doanh nghiệp hàng đầu quốc gia do tư nhân làm chủ nhưng được nhà nước ưu đãi này hưởng được nhiều cơ hội thuận lợi từ phía chính phủ, trong khi đó chính phủ lại coi những đại gia này như một phương tiện để cạnh tranh với các công ty thuần túy thương mại nước ngoài. Nhờ vậy công ty hàng đầu quốc gia này có thể giành lấy một vai trò nổi bật trong nền kinh tế quốc nội và trên các thị trường xuất khẩu. Để rồi, những công ty này lại dùng ảnh hưởng của mình với chính phủ để nuốt chửng những đối thủ bé hơn ở trong nước, đồng thời củng cố sức mạnh của công ty như là một thứ trụ cột của hệ thống tư bản nhà nước.

Ở Nga, bất cứ một doanh nghiệp lớn nào muốn thành công đều phải có quan hệ tốt đẹp với nhà nước. Các công ty hàng đầu quốc gia do tư nhân làm chủ này đều nằm trong tay một thiểu số những cá nhân được lòng điện Kremlin, chẳng hạn như công ty Norilsk Nickel (khai thác mỏ); công ty luyện kim Novolipetsk Steel và NMK Holding; và Evraz, SeverStal, Metalloinvest (ngành thép) rơi vào loại này. Ở Trung Quốc, cũng có những doanh nghiệp hàng đầu quốc gia, mặc dù nhóm chủ sở hữu cơ bản của mỗi công ty có phần đông đảo hơn và ít nổi bật hơn: tập đoàn hàng không AVIC (the Aviation Industries of China), Huawei (viễn thông), và Lenovo (máy tính) đều đã trở thành những đại gia được nhà nước ưu đãi và do một thiểu số doanh nhân “có quen biết lớn” điều hành.

Nhiệm vụ hỗ trợ vốn cho những công ty này phần nào thuộc về các Quỹ lợi ích quốc gia (SWF), và điều này đã nâng tầm cỡ và ảnh hưởng của những quỹ đó lên rất nhiều. Các chính phủ đều biết họ không thể tài trợ các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia của mình bằng việc chỉ in thêm tiền; vì nếu làm vậy, rốt cuộc nạn lạm phát sẽ bào mòn giá trị tài sản của các đại gia đó. Còn nếu lấy tiền trực tiếp từ ngân sách quốc gia ra mà tài trợ, thì việc này sẽ gây ra thâm hụt trong tương lai nếu không may tình hình kinh tế trở nên tồi tệ. Vì thế, các quỹ SWF đã đảm trách một vai trò to lớn hơn. Các quỹ này là nơi dự trữ số ngoại tệ thặng dư kiếm được từ việc xuất khẩu các thương phẩm hay hàng hóa chế tạo. Nhưng các quỹ SWF có nhiều chức năng hơn những tài khoản ngân hàng bình thường. Đây là những quỹ đầu tư do nhà nước làm chủ, với các danh mục đầu tư hỗn hợp gồm có ngoại tệ, trái phiếu chính phủ, bất động sản, kim loại quý, và tiền góp vốn trực tiếp – và đôi khi sở hữu phần lớn – một số hãng xưởng ở trong và ngoài nước. Giống như tất cả quỹ đầu tư, các quỹ SWF cũng nhắm vào lợi nhuận tối đa. Nhưng đối với giới tư bản nhà nước, những lợi tức này có thể vừa có ý nghĩa chính trị vừa có ý nghĩa kinh tế.

Tuy khá nổi bật trong vài năm qua nhưng bản thân các quỹ SWF không có gì mới mẻ. Cục đầu tư Kuwait hiện là quỹ SWF lớn thứ tư trên thế giới, được thành lập năm 1953. Nhưng cụm từ “quỹ lợi ích quốc gia” được xuất hiện lần đầu vào năm 2005, phản ánh việc nhìn nhận tầm quan trọng ngày một tăng của những quỹ này. Từ đó, thêm một số quốc gia đã gia nhập cuộc chơi: Dubai, Libya, Qatar, Hàn Quốc, và Việt Nam. Các SWF lớn nhất hiện nay nằm trong tay Tiểu vương quốc Abu Dhabi, Saudi Arabia, và Trung Quốc, còn Nga thì vẫn đang bám đuổi.

2. Làn sóng chủ nghĩa tư bản nhà nước

Quan hệ thiết thân

Một đặc điểm chủ yếu của hệ thống tư bản nhà nước là quan hệ thiết thân giữa nhà cầm quyền với những người điều hành các doanh nghiệp. Cựu Thủ tướng Nga Mikhail Fradkov hiện nay là Chủ tịch của Gazprom, một công ty độc quyền khí đốt của Nga. Còn cựu Chủ tịch của Gazprom, Dmitry Medvedev, hiện là Tổng thống Nga hiện nay. Động lực của chế độ “kẻ bán – người mua” (client-patron) đã đưa nền chính trị, những chính khách và giới quan chức nhà nước vào tiến trình ra quyết định kinh tế ở một mức độ chưa từng thấy kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Và chính động lực này đã gia tăng nhiều rủi ro cho hiệu năng của thị trường toàn cầu.

Một là, các quyết định thương mại thường được giao cho giới quan chức chính trị, những người ít có kinh nghiệm trong việc quản lý các hoạt động thương mại một cách hiệu quả. Các quyết định của họ thường làm giảm tính cạnh tranh và vì thế cũng làm giảm hiệu năng của thị trường. Nhưng vì những công ty này có những “ô dù” chính trị đầy quyền lực và có lợi thế cạnh tranh nhờ tiền trợ cấp từ nhà nước, chúng tạo ra mối đe dọa ngày càng lớn cho các đối thủ trong khu vực kinh tế tư nhân.

Hai là, những động cơ ẩn đằng sau các quyết định đầu tư thường là có tính chính trị hơn là kinh tế. Chẳng hạn, Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc biết rằng việc gây dựng sự thịnh vượng kinh tế là rất thiết yếu cho việc duy trì quyền lực chính trị. Nếu các tập đoàn dầu khí quốc gia cần chính phủ giúp thêm, lãnh đạo Trung Quốc có thể can thiệp bằng cách hứa hẹn cho các quốc gia cung cấp nguyên vật liệu vay vốn phát triển.

Nếu doanh nghiệp và chính trị được gắn liền với nhau thì những bất ổn trong nước đe dọa giới cầm quyền – và cụ thể hơn là lợi ích quốc gia và những mục tiêu trong chính sách đối ngoại – bắt đầu mang tính nghiêm trọng hơn đối với các doanh nghiệp. Đối với người ngoài cuộc, việc quán triệt các động lực chính trị này đã trở thành một sách lược nhằm đối phó tình hình. Nhiều công ty tư nhân hoạt động trong các thị trường mới lên đã học được giá trị của việc đầu tư thêm thời gian vào việc triển khai quan hệ hữu hảo với cả giới lãnh đạo chính phủ, tức những nhân vật có quyền “ban phát” những hợp đồng béo bở, lẫn giới quan chức giám sát các khung pháp lý và kiểm soát việc thực thi các hợp đồng này. Đối với các công ty đa quốc gia, bỏ thời gian và tiền bạc bề ngoài có vẻ là một việc làm xa xỉ trong thời buổi suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng để bảo vệ những dự án đầu tư và thị phần ở nước ngoài, họ không thể làm khác hơn.

Nhà nước can thiệp

Hệ thống tư bản nhà nước bắt đầu thành hình trong cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973, khi thành viên của OPEC thống nhất cắt giảm sản lượng dầu để phản ứng chống lại sự hậu thuẫn của Mỹ dành cho Israel trong Cuộc chiến Yom Kippur. Chỉ sau một đêm, thứ hàng hóa quan trọng nhất của thế giới bỗng biến thành một vũ khí địa-chính trị, mang lại cho các chính phủ những quốc gia sản xuất dầu lửa một ảnh hưởng quốc tế to lớn chưa từng thấy.

Là một công cụ chính trị, việc OPEC cắt giảm sản lượng dầu lửa được sử dụng như một biện pháp cấm vận nhắm vào một số nước nhất định – đặc biệt là Mỹ và Hà Lan. Là một hiện tượng kinh tế, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã đảo chiều dòng vốn trước đó, theo đó các quốc gia tiêu thụ dầu lửa đã mua nhiều khối lượng dầu ngày càng lớn với giá khá rẻ nhưng lại bán cho các quốc gia sản xuất dầu lửa những hàng hóa với giá thổi phồng. Từ góc độ của những thành viên OPEC, cuộc khủng hoảng đã chấm dứt trong tình trạng bất lực chính trị và kinh tế mà họ phải chịu đựng qua nhiều thập kỷ, đồng thời dứt điểm luôn cái thời thuộc địa trong lịch sử quốc gia họ.

Cuộc khủng hoảng dầu lửa đã cho các quốc gia sản xuất dầu lửa thấy rằng bằng hành động thống nhất, họ có thể kiểm soát mức sản xuất và giành về cho mình một phần to lớn hơn từ số lợi tức do các công ty dầu lửa phương Tây tạo ra. Tiến trình này tỏ ra dễ dãi hơn nhiều trong những trường hợp các chính phủ có thể sử dụng doanh nghiệp nội địa để khai thác và lọc dầu của chính nước mình. Rốt cuộc, các công ty dầu quốc gia tự đặt mình dưới sự kiểm soát ngày một lớn hơn của chính phủ và bị lu mờ trước các đối tác tư nhân phương Tây. Cuộc khủng hoảng dầu lửa đã khai sinh tập đoàn dầu mỏ quốc gia hiện đại, một mô hình đang dần trở nên phổ biến và được áp dụng vào cả khu vực khí đốt.

Làn sóng thứ hai của chủ nghĩa tư bản nhà nước bắt đầu từ thập niên 1980, được đẩy mạnh nhờ sự vươn dậy của các nước phát triển dưới quyền của các chính phủ với những giá trị và truyền thống hướng quốc gia. Đồng thời, sự sụp đổ của các chính phủ vốn dựa trên việc kế hoạch hóa tập trung định để phát triển kinh tế đã tạo ra một làn sóng toàn cầu đòi hỏi cơ hội kinh doanh và mậu dịch thông thoáng. Xu thế đó kích hoạt sự tăng trưởng và công nghiệp hóa nhanh chóng tại nhiều nước đang phát triển trong thập niên 1990.

Làn sóng thứ ba của chủ nghĩa tư bản nhà nước được đánh dấu bằng sự vươn dậy của các quỹ lợi ích quốc gia (SWF), là những quỹ từ năm 2005 đã bắt đầu thách thức sự thống trị của phương Tây đối với các dòng tư bản toàn cầu. Những khối dự trữ tư bản này vốn được sản sinh ra từ sự gia tăng khổng lồ về số lượng hàng hoá xuất khẩu từ các nước có thị trường mới nổi. Hầu hết các quỹ SWF vẫn còn được quản lý bởi các quan chức chính phủ, những người coi các vấn đề chi tiết liên quan đến mức tiền dự trữ, các khoản đầu tư, và việc quản trị các tài sản nhà nước gần như là một bí mật quốc gia. Do đó, không ai biết rõ những quyết định thu mua và đầu tư của các quỹ này đã bị các yếu tố chính trị ảnh hưởng đến mức độ nào.

Làn sóng thứ tư của chủ nghĩa tư bản nhà nước hiện đang diễn ra, được thúc đẩy bởi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây. Nhưng lần này, chính chính phủ những nước giàu nhất thế giới, chứ không riêng gì chính phủ các nước có thị trường mới nổi, lại là những nhà nước can thiệp vào nền kinh tế quốc gia. Tại Mỹ, các nhà lập pháp đã và đang can thiệp vào sinh hoạt kinh tế bất chấp sự ngờ vực từ lâu của dân chúng đối với quyền lực chính phủ và bất chấp sự tin tưởng của họ dành cho doanh nghiệp tư nhân. Ở Australia, Nhật Bản, và các nước giàu theo thị trường tự do khác cũng hành động tương tự. Ở châu Âu, nhờ có truyền thống chủ nghĩa nhà nước và truyền thống dân chủ xã hội, nên việc quốc hữu hóa và các nỗ lực trợ cứu trợ tài chính do nhà nước thực hiện dễ được dân chúng chấp nhận hơn.

Tuy nhiên, những cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới vẫn không hoàn toàn chấp nhận chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ở Mỹ và châu Âu, sức mạnh của bàn tay vô hình (thị trường tự do) vẫn luôn là niềm tin không thể bị lay chuyển. Chính phủ các quốc gia hai bờ Đại Tây Dương đều biết rằng muốn duy trì ủng hộ của dân chúng, họ phải giữ lời hứa là sẽ trả lại khu vực ngân hàng và các doanh nghiệp lớn cho tư nhân một khi chúng được hồi phục sau suy thoái kinh tế. Nhưng một khi nỗ lực kích thích kinh tế vẫn chiếm ưu tiên hàng đầu trong những cân nhắc chính trị củaWashington, ở châu Âu cũng như tại Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, thì các nhà hoạch định chính sách quốc gia vẫn giữ vị trí trung tâm của hệ thống tài chính toàn cầu.

3. Lợi ích của thị trường tự do… (CẬP NHẬT SAU)

SOURCE: BÁO THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Trích dẫn từ: http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/ThoiSu/2009/7/071673331D6F9BC1/

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: