Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

LAO ĐỘNG NGOẠI NHẬP

LÝ HẢI YẾN

Bạn, dù không làm việc ở cơ quan Liên hợp quốc, nhưng có cơ hội là đồng nghiệp của những người đến từ nhiều quốc gia. Khi thế giới trở nên phẳng, thì bất cứ ai trong số chúng ta, đều có cơ hội làm việc ở một nơi không phải quê hương bản quán của mình. Điều đó cho mỗi cá nhân cơ hội trải nghiệm cuộc sống trong một môi trường mới. Nhưng cơ hội với cá nhân lại đang trở thành nỗi đau đầu của các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, là thách thức với nhiều quốc gia trong quá trình bảo hộ lao động nội địa. Lao động ngoại nhập – nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, chính là nội dung mà TG&VN giới thiệu cùng bạn đọc trong chùm Bài chủ kỳ này.

Quy luật “nước chảy chỗ trũng”

Giờ đây, không một quốc gia nào trên thế giới còn xa lạ với khái niệm lao động nước ngoài. Nhất là khi tổ chức Thương mại Thế giới đã gia tăng lên tới con số 151 thành viên, thì sự “hiện diện thể nhân” (presence of natural person) hay lao động nước ngoài là không thể tránh khỏi. Sự dịch chuyển này tuân theo quy luật nhất định như: lao động nước nghèo sang nước giàu hơn, lao động ở các nước có nguồn lao động trẻ dồi dào sang các nước lao động có xu hướng già đi và cần một đội ngũ thay thế, hoặc cũng có thể lao động ở nơi “đất chật” tìm đến chốn “người thưa”… Mục đích duy nhất của sự dịch chuyển ấy là người lao động, bằng sức lao động của mình, tạo dựng một cuộc sống đầy đủ hơn cho bản thân và gia đình, nói rộng ra là cả xã hội.

Nước vẫn luôn chảy chỗ trũng là vì vậy. Người Anh giờ đây không còn xa lạ với lao động nhập cư là người Pháp, hay nhiều quốc gia Đông Âu khác. Trong nhiều trang trại ở các vùng ngoại ô nước Anh, người ta phải đăng các thông báo tìm việc, và hầu như chỉ có người Đông Âu quan tâm đến việc này. Tại một trang trại nhỏ như Burkin Manor, nằm ở vùng ngoại ô Slough, một thị trấn cách phía Tây London khoảng 60km, người chủ cho biết “Nông trại của tôi không thể tồn tại trong một ngày nếu như không có lao động từ Đông Âu sang. Họ rất chịu khó, chăm chỉ và thật thà. Tôi rất muốn tuyển cả công nhân Anh, nhưng có vẻ như người Anh bây giờ không muốn làm việc nông trại nữa”. Theo thống kê của nước này, hiện có khoảng 12% dân di cư từ Đông Âu đến Anh làm việc, tập trung nhiều nhất ở khu vực nông nghiệp.

Trong khi người Đông Âu tìm miền đất hứa ở Anh quốc, thì chính nơi đây lại đang thiếu lao động trầm trọng trong các ngành nghề phổ thông. Và thị trường này trở thành một nơi đầy hấp dẫn cho các lao động châu Á.

Pháp vốn là một nước công nghiệp phát triển, nhưng thế hệ trẻ nước này lại đang có xu hướng tìm việc ở nước ngoài, vì họ thấy môi trường ở nhiều quốc gia khác cởi mở hơn. Bộ Ngoại giao Pháp ước tính, năm 2004, số công dân Pháp sống ở nước ngoài đã tăng gần 30% kể từ năm 1992, từ khoảng 1,6 triệu lên 2,2 triệu người. Các chuyên gia về thị trường lao động cho biết đa số những người kiếm việc đều trẻ tuổi.

Sự già hóa dân số, hay sự kén chọn công việc do trình độ lao động của người bản xứ tăng lên (số người lao động lựa chọn làm “công nhân cổ trắng” gia tăng) cũng đang khiến Nhật Bản đau đầu vì thiếu nguồn lao động phổ thông (“công nhân cổ xanh”). Do đó, giải pháp tìm kiếm lao động ngoại nhập đã được áp dụng nhiều năm qua.

Một bức tranh tương tự cũng đang diễn ra ở Trung Đông – nơi đang thu hút hàng triệu người nước ngoài làm việc, cả ở trình độ cao và lao động phổ thông. Dù hiện tại, trước sự suy thoái kinh kế, nhiều quốc gia trên thế giới đều lên kế hoạch giảm nhu cầu tiếp nhận lao động nhập cư và ban hành một số chính sách hỗ trợ lao động nước ngoài về nước trước hạn, thì tại các nước Trung Đông, nhiều chủ sử dụng lao động vẫn có nhu cầu lớn nhận lao động nước ngoài vào làm việc.

Thị trường lao động Việt Nam cũng… “đau đầu”

Hai mươi năm về trước, Việt Nam là nước xuất khẩu lao động. Hồi đó, chủ yếu lao động Việt sang Đông Âu theo diện hiệp định đào tạo nghề được ký kết giữa chính phủ hai bên.

Đến nay, chúng ta vẫn là một nước xuất khẩu lao động, với mục tiêu phấn đấu trong giai đoạn 2006-2010 là 80.000-100.000 lao động ra nước ngoài làm việc. Điều đó cho thấy Việt Nam không thiếu nhân công. Nhưng các năm gần đây, sự canh tranh lao động lại đang diễn ra ngay chính trên “sân nhà” khi số người lao động nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng. Thống kê tháng 5 vừa qua cho thấy, có tới hơn 75.000 lao động nước ngoài ở Việt Nam, trong đó, TP. Hồ Chí Minh chiếm nhiều nhất (trên 50.000), tiếp đến là Hà Nội (trên 15.000). Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo, đó chưa phải là con số chính xác, vì một lượng lớn người lao động ở Việt Nam hiện tại là đi qua đường du lịch. Điều đó, cũng lý giải vì sao tỷ lệ lao động được cấp phép chỉ chiếm khoảng 37%.

Ở Việt Nam, lao động phổ thông người nước ngoài chưa được phép làm việc. Tuy nhiên, tại một số công trường, công nhân nước ngoài thậm chí đang “áp đảo” lao động trong nước. Chẳng hạn, theo báo cáo của Chính phủ về dự án Bô-xit ở Tây Nguyên hồi cuối tháng 5, số công nhân Trung Quốc là 600 người, trong khi công nhân Việt Nam là 350 người. Nhiều nơi như ở Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Nhà máy nhiệt điện than Hải Phòng, công trình khí – điện – đạm Cà Mau…, số lao động Trung Quốc luôn áp đảo lao động trong nước, với số lượng mỗi nơi từ 700 đến trên 2.000 người/công trình. Ngoài ra, có một số đáng kể là người lao động từ châu Phi, Trung Đông, Đài Loan, Philippines làm các nghề phổ thông ở nước ta. Ngoài ra, cũng có một lượng nhất định Việt kiều trở về nước tìm kiếm việc làm.

Lao động nhập cư là một thực tế mà chúng ta phải chấp nhận khi mở cửa hội nhập, như bà Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh & Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân trả lời báo chí bên hành lang Quốc hội kỳ họp tháng 5 này. Vì “trong điều kiện mở cửa và hội nhập không thể nói chúng tôi chỉ đưa người Việt Nam ra nước ngoài mà không cho ai vào làm việc. Vấn đề là chúng ta đi cũng phải đúng pháp luật và người khác vào đây cũng phải đúng pháp luật, chứ làm sao nói đóng cửa, không cho ai vào được”. Luật pháp đã quy định rõ, chỉ ở một trình độ nhất định mới được lao động tại Việt Nam (xem thêm box).

Kinh nghiệm thực tế

Trong quá trình phát triển, nhiều quốc gia phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động. Nhật Bản cũng không là ngoại lệ. Vốn là một nước hạn chế nhập cư và lao động khép kín, tuy nhiên do dân số già đi và tỷ lệ sinh ít đã làm cho nguồn nhân lực nước này giảm đi, buộc chính phủ phải mở cửa thị trường lao động trong việc cho phép các doanh nghiệp tuyển dụng lao động nước ngoài. Từ những năm 1990, số lượng lao động nước ngoài tăng lên nhanh, đến năm 2001, số người này chiếm 1,1% lực lượng lao động (746 ngàn người), chủ yếu làm các công việc kỹ thuật viên, lao động phổ thông, điều dưỡng viên, và giải trí các ngành khác. Cũng từ 1992, Nhật Bản đưa ra chương trình “Tu nghiệp sinh”, thu hút lao động các nước đang phát triển sang học nghề và làm việc.

Mặc dù con số người lao động bất hợp pháp khá cao, có thời điểm lên tới trên 300 ngàn người, nhưng lao động nước ngoài vào Nhật Bản đã giải quyết được một vấn đề căn bản là thiếu lao động (trình độ thấp hơn), lao động ngoại ít không (hoặc ít) có khả năng cạnh tranh với lao động là người bản địa (có tay nghề cao, hoặc họ lựa chọn những ngành nghề có thu nhập cao hơn). Do đó, Nhật Bản vẫn đang phải xem xét mở cửa hơn nữa thị trường lao động cho lao động nước ngoài. Điều đó một mặt mang lại cho Nhật Bản nguồn lao động thiếu hụt, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đàm phán thuế quan giữa Nhật Bản với các nước xuất khẩu lao động thuộc ASEAN. Tuy nhiên, số lao động bất hợp pháp trở thành tội phạm đã và đang là một vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn tới xã hội Nhật Bản.

Việc lao động nước ngoài tìm đến một thị trường lao động mới có thể nói là một “làn sóng” không thể ngăn cản. Bởi ở đâu có “cầu”, thì khắc phải tìm thấy “cung”. Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Từ một nước xuất khẩu lao động (chủ yếu sang các nước Mỹ, Đức, Nhật, Trung Đông) hồi thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, hiện Hàn Quốc là nước nhập khẩu lao động, thu hút lao động từ nhiều quốc gia lân cận (Trung Quốc, Việt Nam…). Kinh tế phát triển, người bản địa bắt đầu “chê” các công việc về chân tay vốn đã bị cho là thấp kém trong nền văn hóa nước này, khiến lao động phổ thông trở nên khan hiếm. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng thiếu hụt một số chuyên gia trong các lĩnh vực cao.

Lao động ngoại nhập ở Hàn Quốc có ba dạng: chuyên gia, giáo sư, nhà báo… chiếm 9,2%, thợ học nghề 11,9%, còn lại là lao động bất hợp pháp. Hàn Quốc phải đương đầu với những khó khăn ở hai mặt mâu thuẫn: một mặt thì các doanh nghiệp thiếu nhân công chỉ có thể giải quyết bằng việc tuyển lao động nước ngoài, mặt khác Chính phủ muốn bảo vệ thị trường trong nước chống lại sự cạnh tranh của lao động nước ngoài. Tuy nhiên, trong xu hướng phát triển Hàn Quốc cũng phải chấp nhập việc nhập khẩu lao động. Từ năm 2003, lao động nước ngoài được tuyển dụng hợp pháp tăng lên nhiều gấp ba lần so với các năm trước. Điều đó, vừa cho phép các doanh nghiệp được quyền tuyển dụng lao động, vừa tránh được tình trạng nhập cư bất hợp pháp.

Những bài học kinh nghiệm trên cho thấy, khi mở cửa, các nước đều gặp phải thách thức cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lao động. Ở Việt Nam, trước tình trạng lao động ngoại nhập đang tràn vào, vừa qua, Bộ LĐ-TB&XH cũng đã trình Chính phủ sửa đổi Nghị định 34/2008 về quản lý lao động nước ngoài. Qua đó, Bộ sẽ rà soát lại việc cấp phép thời gian cho người nước ngoài vào Việt Nam với mục đích cụ thể là gì và có sự kiểm soát chặt chẽ xem có đúng không. Ngoài ra, cũng phải đề cập tới trách nhiệm quản lý nhân khẩu tại các địa bàn của các địa phương.

Việc lao động nước ngoài tràn vào Việt Nam không chỉ ảnh hưởng lớn, mà còn “ảnh hưởng rất lớn” như đánh giá của nhiều chuyên gia. Mối lo đầu tiên đó là tình trạng thất nghiệp sẽ gia tăng do công nhân mất việc làm. Bên cạnh đó, những hệ lụy từ vấn đề này đối với xã hội là điều mà ai cũng nhìn thấy. Tuy nhiên, Việt Nam là thành viên của WTO, cùng với quá trình toàn cầu hóa, chúng ta sẽ phải tiếp nhận một lượng lao động nước ngoài đa dạng thông qua các nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên đến Việt Nam.

Sự dịch chuyển lao động là tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa, và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Do đó, chúng ta cần phải tăng cường hiệu quả của các cơ chế quản lý, đảm bảo các hoạt động nghề nghiệp của lao động ngoại nhập theo đúng cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Điều kiện được cấp phép lao động ở Việt Nam

Theo Luật, người nước ngoài muốn làm việc trong các cơ quan, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam phải hội đủ các điều kiện sau: là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có kinh nghiệm và thâm niên nghề nghiệp, trong điều hành sản xuất hoặc quản lý mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng đươc và phải đáp ứng được những quy định về mặt luật pháp khác (như đủ 18 tuổi, không có tiền án tiền sự…). Như vậy, các đối tượng có trình độ học vấn thấp, không có kinh nghiệm, học sinh, sinh viên chưa được phép lao động tại Việt Nam.

Người lao động nước ngoài muốn vào Việt Nam làm việc thì họ phải được cấp phép trước khi vào Việt Nam. Có nghĩa là trước khi sang Việt Nam làm việc các Doanh nghiệp, các tổ chức ở Việt Nam muốn tuyển lao động nước ngoài thì họ phải làm đủ các giấy tờ, hồ sơ của người lao động để xin giấy phép. Và sau khi có giấy phép họ ký hợp đồng và lúc đó mới được nhập cảnh vào Việt Nam. Lao động nước ngoài hết thời hạn làm việc cho doanh nghiệp này, muốn chuyển sang làm việc ở doanh nghiệp khác thì phải xin lại giấy phép để tiếp tục được ở lại làm việc.

Ý kiến:

Ông Nguyễn Thanh Hòa, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội

Lao động nước ngoài (LĐNN) vào Việt Nam một mặt đáp ứng những vị trí mà lao động trong nước chưa đáp ứng được. Mặt khác, việc các nhà thầu nước ngoài đem theo nhiều lao động, chuyên gia sang Việt Nam để phục vụ mục đích phát triển của họ là điều được phép, đó là xu thế tất yếu. Tất nhiên, hội nhập thị trường lao động nhưng phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật. Tôi khẳng định, Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội chỉ cấp phép cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi người đó có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, đó là những lao động có bằng cấp, có tay nghề. Còn hiện nay, tại một số công trình, dự án, lao động phổ thông nước ngoài làm việc theo visa du lịch ba tháng là một sự “lách luật” của các nhà thầu, chủ đầu tư.

Ông Phan Quốc Thái, Đại diện Cục Quản lý Xuất nhập cảnh khu vực phía Nam (Bộ Công an)

Hiện nay, công tác quản lý LĐNN còn bất cập. Việc quản lý nguồn chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng một số LĐNN lý lịch tư pháp “có vấn đề” vẫn lọt vào Việt Nam. Một số doanh nghiệp sau khi không tiếp tục sử dụng LĐNN lại không báo cáo với cơ quan quản lý Nhà nước biết, dẫn đến tình trạng LĐNN lợi dụng giấy phép lao động đó sang nơi khác làm việc. Tôi đề nghị cần có biện pháp quản lý hiệu quả người nước ngoài lao động tại Việt Nam, nhất là đối với một số LĐNN vào kinh doanh trong một số ngành nghề nhạy cảm như nhà hàng, vũ trường, karaoke …

Nguyễn Kim Lan, Sinh viên Đại học Ngoại ngữ, ĐHQG TP. HCM

Việc quản lý người LĐNN tại Việt Nam không hiệu quả. Hiện tại, ở TP. HCM có hàng ngàn giáo viên nước ngoài dạy tiếng Anh tại các cơ sở ngoại ngữ. Thực tế, số giáo viên có giấy phép lao động thì chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Vì quá trình cấp phép phức tạp nên các cơ sở ngoại ngữ thường “đi tắt” tuyển giáo viên nước ngoài không có giấy phép lao động. Với số lượng lớn LĐNN như vậy, phần thiệt hại cho nền kinh tế và chất lượng giáo dục là rất lớn.

Ông Lê Thành Tâm, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH TP.HCM

Đối với các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, Sở LĐ-TB&XH không thể biết rõ số lượng LĐNN là bao nhiêu vì nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ. Có một thực tế là nhiều người nước ngoài khai báo đi du lịch nhập cảnh vào Việt Nam nhưng thực chất là làm việc. Khó khăn trong việc nắm đầu mối thông tin số lượng nhập cảnh vào thành phố đã ảnh hưởng đến công tác thanh tra và việc cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trên địa bàn.

T.P

SOURCE: BÁO THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Trích dẫn từ: http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/BAICHU/2009/6/13E4A5209AB8272E/

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: