GIỚI THIỆU LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

VỤ HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP VÀ VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT – BỘ TƯ PHÁP

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Khái niệm “Lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước[1] nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã tuyên xử đối với một cá nhân. Ở Việt Nam trong thực tiễn hơn 10 năm nay, khái niệm “Lý lịch tư pháp” được hiểu một cách chung nhất là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và tình trạng thi hành bản án đó. Thực tiễn cuộc sống cũng như những yêu cầu mới của pháp luật trong những năm gần đây cho thấy, quản lý lý lịch tư pháp có ý nghĩa ngày càng quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của cá nhân chứng minh người đó có hay không có án tích, tạo điều kiện cho người bị kết án trong việc xoá án tích, tái hoà nhập cộng đồng, đồng thời góp phần phục vụ công tác quản lý nhân sự của các cơ quan, tổ chức, phục vụ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, thống kê tư pháp v.v…

Ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, ở mỗi cấp Toà án đều có phòng lục sự với chức năng lập, lưu giữ và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Thời kỳ sau năm 1945, ở vùng Pháp tạm chiếm, chính quyền Bảo Đại đã ban hành Dụ số 14 ngày 01 tháng 09 năm 1951 quy định khá chi tiết về lý lịch tư pháp và phục quyền, theo đó thiết lập ở Trung ương Phòng Văn quỹ lý lịch tư pháp đặt tại Bộ Tư pháp và ở địa phương có Văn quỹ lý lịch tư pháp hàng tỉnh đặt tại mỗi Toà sơ thẩm và Toà hoà giải rộng quyền. Mô hình tổ chức và quản lý lý lịch tư pháp này về sau vẫn được tiếp tục áp dụng ở miền Nam trước Giải phóng năm 1975.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946 về tổ chức Toà án và các ngạch thẩm phán ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, quản lý lý lịch tư pháp được coi là công tác hành chính tư pháp do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý. Theo Sắc lệnh này, quy định các chức danh về lục sự và các việc lục sự thực hiện có việc lập và quản lý lý lịch tư pháp. Sau đó, ngày 02 tháng 11 năm 1955, để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an ban hành Thông tư liên bộ số 1909 – VHC về việc theo dõi lý lịch tư pháp và căn cước của bị can và những người bị tình nghi. Theo Thông tư này, nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp được chuyển sang ngành Công an và công tác lý lịch tư pháp, căn cước can phạm được tập trung vào một đầu mối do Bộ Công an đảm nhiệm.

Bước sang thời kỳ đổi mới, bắt đầu từ Nghị định số 38/CP ngày 04 tháng 6 năm 1993, tiếp đến là Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 (thay thế Nghị định số 38) và nay là Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 (thay thế Nghị định số 62) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Chính phủ đã giao nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp cho Bộ Tư pháp. Như vậy, thời kỳ này đã có sự phân biệt giữa công tác lý lịch tư pháp (do Bộ Tư pháp quản lý) với công tác tàng thư căn cước can phạm (do Bộ Công an quản lý). Tuy nhiên, đã không diễn ra việc bàn giao chức năng, nhiệm vụ giữa Bộ Công an và Bộ Tư pháp cùng với hồ sơ cũng như bộ máy, nhân sự.

Trong bối cảnh thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế cũng như cùng với tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta, thì nhu cầu xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp của công dân ngày càng tăng. Trên cơ sở kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 02 năm 1999, Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA (sau đây gọi là Thông tư số 07) quy định cơ chế phối hợp giữa ngành Tư pháp và ngành Công an trong việc cung cấp thông tin từ Hệ thống tàng thư căn cước can phạm của Công an để Sở Tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Qua 10 năm thực hiện Thông tư số 07 đã đạt được những kết quả tích cực, bước đầu đáp ứng yêu cầu của công dân về cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ năm 1999 đến năm 2008, các Sở Tư pháp đã cấp 699.495 Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam để làm các thủ tục như: xin việc làm, xuất khẩu lao động, du học, thành lập doanh nghiệp, xuất cảnh, thăm thân nhân, v.v…

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý lý lịch tư pháp đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập lớn sau đây:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, tuy lý lịch tư pháp đã có ở nước ta từ thời Pháp thuộc, nhưng sau một thời gian dài không có nhu cầu của xã hội, đã có sự đánh đồng khái niệm giữa lý lịch tư pháp với căn cước can phạm; sự nhận thức của nhiều người, kể cả những người làm công tác tư pháp, về vai trò, ý nghĩa riêng của lý lịch tư pháp còn hạn chế. Nói cách khác, vai trò riêng của lý lịch tư pháp trong quản lý nhà nước, trong đời sống xã hội và trong các hoạt động tố tụng hình sự chưa được đánh giá đúng mức. Chẳng hạn, trong các Bộ luật hình sự và tố tụng hình sự của Nhà nước ta, tuy có khá nhiều quy định liên quan đến án tích và xoá án tích, nhưng chưa có quy định nào về lý lịch tư pháp. Về mặt quản lý nhà nước, do hoàn cảnh lịch sử của nước ta, nên trong một thời gian dài (từ 1956 đến 1993) lý lịch tư pháp bị đồng nhất với tàng thư căn cước can phạm.

Thứ hai, từ năm 1993 đến nay, công tác quản lý lý lịch tư pháp chưa được triển khai một cách toàn diện, đúng tầm. Trên thực tế việc tra cứu, cấp Phiếu lý lịch tư pháp hiện nay còn mang tính chất thủ công, chắp vá, không phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. Nội dung quan trọng nhất trong quản lý lý lịch tư pháp là xây dựng cơ sở dữ liệu riêng về lý lịch tư pháp chưa được triển khai thực hiện. Trong khi đó, thông tin về án tích, tình trạng thi hành án được nhiều cơ quan khác nhau quản lý như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Thi hành án dân sự. Do chưa có cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp riêng, nên trong những năm qua, các Sở Tư pháp phải thông qua việc tra cứu thông tin từ hệ thống tàng thư căn cước can phạm của ngành Công an và từ hệ thống hồ sơ án lưu của Toà án, có việc phải lấy thông tin từ Viện kiểm sát để làm căn cứ cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân. Cách làm này chỉ là giải pháp tạm thời trước mắt, có nhiều hạn chế bất cập, kém hiệu quả, nhiều việc phải kéo dài, gây nhiều khó khăn cho người có nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và không phù hợp với tinh thần cải cách hành chính hiện nay.

Thứ ba, việc thiếu một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao điều chỉnh một cách toàn diện, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức, quản lý lý lịch tư pháp đang là nguyên nhân quan trọng làm hạn chế công tác này. Cho đến nay, ngoài Nghị định số 93/2008/NĐ-CP giao chức năng quản lý lý lịch tư pháp cho Bộ Tư pháp và Thông tư số 07 quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Nhà nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định toàn diện về quản lý lý lịch tư pháp. Hơn nữa, việc xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp như Toà án, Viện kiểm sát, do đó, lý lịch tư pháp cần phải được điều chỉnh bằng một văn bản có hiệu lực cao của Quốc hội.

Vì những lý do nêu trên, Luật Lý lịch tư pháp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ năm ngày 17 tháng 6 năm 2009, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.

II. BỐ CỤC CỦA LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Luật Lý lịch tư pháp gồm 6 Chương, 57 Điều, cụ thể là:

– Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 10).

– Chương II: Tổ chức, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (từ Điều 11 đến Điều 13).

– Chương III: Cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp và lập Lý lịch tư pháp (từ Điều 15 đến Điều 40).

– Chương IV: Cấp Phiếu lý lịch tư pháp (từ Điều 41 đến Điều 50).

– Chương V: Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lý lịch tư pháp (từ Điều 51 đến Điều 54).

– Chương VI: Điều khoản thi hành (từ Điều 55 đến Điều 57).

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Luật Lý lịch tư pháp được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

1. Phù hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhất là chủ trương “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại”;

2. Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để xây dựng chế định lý lịch tư pháp riêng, tách ra khỏi, nhưng đồng thời có quan hệ mật thiết, bổ sung lẫn nhau với chế định căn cước can phạm, bằng cách xây dựng hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp từng bước vững chắc theo đúng nguyên tắc của hoạt động này, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài; gắn việc quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp với cấp Phiếu lý lịch tư pháp phục vụ nhu cầu của người dân;

3. Bảo đảm công tác quản lý lý lịch tư pháp phải chặt chẽ, nhưng thủ tục giải quyết yêu cầu của người dân thì phải minh bạch, đơn giản, tôn trọng quyền dân chủ và bí mật đời tư của công dân;

4. Kế thừa những thành tựu đạt được trong thực tiễn về tổ chức và quản lý lý lịch tư pháp những năm qua, đồng thời tham khảo có chọn lọc, vận dụng phù hợp kinh nghiệm của một số nước về quản lý lý lịch tư pháp.

IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

1. Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp (Điều 2)

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và mục đích của quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Luật lý lịch tư pháp quy định phạm vi quản lý lý lịch tư pháp là về án tích, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

Giá trị pháp lý và ý nghĩa chính trị – xã hội của những thông tin này là nhằm chứng minh người đó có hay không có án tích, ghi nhận việc xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã từng bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, thống kê tư pháp hình sự, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

2. Đối tượng quản lý lý lịch tư pháp (Điều 5)

Luật quy định đối tượng quản lý lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam hoặc của Toà án nước ngoài mà trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại. Người nước ngoài bị Toà án Việt Nam kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật cũng thuộc đối tượng quản lý lý lịch tư pháp.

Ngoài ra, đối tượng quản lý lý lịch tư pháp còn bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài, tuy không phải là có án tích, nhưng bị Tòa án Việt Nam cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong quyết định tuyên bố phá sản đã có hiệu lực pháp luật.

3. Quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 7)

Để đáp ứng yêu cầu chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, Luật quy định công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình. Đồng thời, để hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội cũng có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

4. Về các hành vi bị cấm (Điều 8)

Thông tin lý lịch tư pháp có liên quan đến bí mật đời tư của cá nhân, vì vậy việc cung cấp, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp phải chính xác, đồng thời việc sử dụng các thông tin này phải trên nguyên tắc bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân. Do đó, Luật quy định một số hành vi bị cấm, cụ thể như sau:

– Khai thác, sử dụng trái phép, làm sai lệch, hủy hoại dữ liệu lý lịch tư pháp.

– Cung cấp thông tin lý lịch tư pháp sai sự thật.

– Giả mạo giấy tờ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

– Tẩy xoá, sửa chữa, giả mạo Phiếu lý lịch tư pháp.

– Cấp Phiếu lý lịch tư pháp có nội dung sai sự thật, trái thẩm quyền, không đúng đối tượng.

– Sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp của người khác trái pháp luật, xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân.

5. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Chương II)

Một trong những nội dung quan trọng của Luật Lý lịch tư pháp là tạo cơ sở pháp lý để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp riêng theo đúng nguyên tắc của hoạt động này, theo hướng chuyên nghiệp và từng bước hiện đại. Theo quy định tại Điều 11 của Luật lý lịch tư pháp, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng và quản lý tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và tại Sở Tư pháp. Mô hình quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp như quy định của Luật (mô hình 2 cấp) là phù hợp và có tính khả thi trong điều kiện hiện nay. Về lâu dài, để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, việc quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cần được ứng dụng công nghệ thông tin, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp quốc gia thống nhất (mô hình 1 cấp), các Sở Tư pháp được quyền truy cập, tra cứu thông tin lý lịch tư pháp để thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng, quản lý, khai thác, bảo vệ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước; tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp do các cơ quan có liên quan cung cấp, đồng thời giữ vai trò điều phối, hướng dẫn việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước. Sở Tư pháp có nhiệm vụ xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp do Toà án, các cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp và lập Lý lịch tư pháp, cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền. Trước mắt, cần phấn đấu để việc tin học hoá được thực hiện hoàn toàn tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, còn ở các Sở Tư pháp thì tùy theo điều kiện sẽ thực hiện tin học hoá theo lộ trình đến năm 2015 hoặc đến năm 2020 với sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ.

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp không đồng nhất và không thay thế cơ sở dữ liệu tàng thư căn cước can phạm do ngành Công an quản lý. Hệ thống tàng thư căn cước can phạm có nhiệm vụ chủ yếu phục vụ trực tiếp công tác điều tra, xử lý tội phạm và các yêu cầu khác của cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, được bảo mật theo quy định của pháp luật. Còn cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm các thông tin về án tích, tình trạng thi hành án và thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật phá sản, mang tính chất dân sự, có giá trị chứng minh nhân thân tư pháp của cá nhân, vừa bảo đảm tính hợp pháp, vừa bảo đảm tính công khai, minh bạch để người dân có thể tiếp cận những thông tin về lý lịch tư pháp của mình.

6. Cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về án tích (Mục 1 Chương III)

Thông tin lý lịch tư pháp về án tích được xác định từ nhiều nguồn khác nhau. Theo quy định tại Điều 15 của Luật, thông tin lý lịch tư pháp về án tích được xác lập từ 18 nguồn sau đây:

– Bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật và bản án hình sự phúc thẩm.

– Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự.

– Quyết định thi hành án hình sự.

– Quyết định miễn chấp hành hình phạt.

– Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

– Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù.

– Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

– Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước.

– Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù; văn bản thông báo kết quả thi hành hình phạt trục xuất.

– Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo và các hình phạt bổ sung.

– Quyết định thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác của người bị kết án; quyết định đình chỉ thi hành án; giấy xác nhận kết quả thi hành án; văn bản thông báo kết thúc thi hành án trong trường hợp người bị kết án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình.

– Quyết định ân giảm hình phạt tử hình.

– Giấy chứng nhận đặc xá, đại xá.

– Quyết định xóa án tích.

– Giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích.

– Trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

– Quyết định của Toà án Việt Nam về việc dẫn độ để thi hành án tại Việt Nam; quyết định của Tòa án Việt Nam về việc tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; thông báo về quyết định đặc xá, đại xá, miễn, giảm hình phạt của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành hình phạt tù.

– Thông báo về việc thực hiện quyết định dẫn độ người bị kết án, quyết định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Thông tin lý lịch tư pháp về án tích do nhiều cơ quan, tổ chức cung cấp như Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức khác. Để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin lý lịch tư pháp, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thống nhất, phục vụ cho công tác quản lý lý lịch tư pháp, Luật quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về án tích (Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20 và Điều 21). Đây là yêu cầu rất quan trọng nhằm khắc phục tình trạng phân tán thông tin lý lịch tư pháp hiện nay và bất cập cơ bản trong công tác quản lý lý lịch tư pháp.

7. Lập Lý lịch tư pháp và cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp về án tích (Mục 2, Mục 3 Chương III)

a) Lập Lý lịch tư pháp (Điều 26)

Lý lịch tư pháp của cá nhân gồm những nội dung cơ bản về án tích và tình trạng thi hành án của người bị kết án. Lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp hoặc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia lập trên cơ sở nguồn thông tin lý lịch tư pháp do các cơ quan, tổ chức gửi đến và được lập riêng cho từng người bị kết án. Để tránh trùng lắp và tạo thuận lợi trong xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu, Luật quy định Sở Tư pháp có nhiệm vụ lập Lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án thường trú hoặc tạm trú tại địa phương. Trường hợp không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người bị kết án, người bị kết án được dẫn độ để thi hành án hoặc được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam và trường hợp nhận được bản sao trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp thì Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia lập và lưu giữ Lý lịch tư pháp.

b) Cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp về án tích

Yêu cầu cơ bản của dữ liệu lý lịch tư pháp là phải được lưu trữ trong trạng thái “động”, vì vậy việc cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp về án tích được quy định cụ thể, chi tiết trong Mục 2 Chương III của Luật bao gồm: việc cập nhật thông tin trong trường hợp miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, hoãn và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; cập nhật thông tin trong trường hợp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; cập nhật thông tin của những bản án tiếp theo; cập nhật thông tin trong trường hợp chấp hành xong bản án, được đặc xá, đại xá, trục xuất; cập nhật thông tin trong trường hợp công dân Việt Nam bị Toà án nước ngoài kết án; xử lý thông tin lý lịch tư pháp khi một tội phạm được xoá bỏ theo quy định của Bộ luật Hình sự.

c) Thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quyết định tuyên bố phá sản (Mục 3 Chương III)

Do tính chất của chế tài cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã khác về bản chất so với chế tài hình sự (cá nhân bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã không phải là có án tích), Luật quy định một mục riêng của Chương này (Mục 3) bao gồm những nội dung cơ bản về nguồn thông tin, nhiệm vụ cung cấp, tiếp nhận thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Trường hợp người bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chưa có Lý lịch tư pháp thì Sở Tư pháp nơi người đó thường trú hoặc tạm trú lập Lý lịch tư pháp trên cơ sở quyết định tuyên bố phá sản của Toà án. Trường hợp người đó đã có Lý lịch tư pháp thì Sở Tư pháp ghi vào Lý lịch tư pháp của người đó theo quyết định của Tòa án.

Thông tin về việc cá nhân không được thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được xóa bỏ trong Lý lịch tư pháp của cá nhân đó khi hết thời hạn theo quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.

8. Cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xoá án tích (Điều 33)

Để bảo đảm quyền của người được xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã từng bị kết án tái hoà nhập cộng đồng, Điều 33 Luật Lý lịch tư pháp quy định cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích, cụ thể như sau:

– Khi nhận được giấy chứng nhận xóa án tích hoặc quyết định xoá án tích của Toà án thì ghi “đã được xoá án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.

– Khi xác định một người có đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích quy định tại Điều 64 Bộ luật Hình sự thì Sở Tư pháp ghi “đã được xoá án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.

Quy định này nhằm xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc cập nhật thông tin về trường hợp người bị kết án đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và không thay thế thẩm quyền của Toà án trong việc cấp giấy chứng nhận xoá án tích quy định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phiếu lý lịch tư pháp trong đó ghi “không có án tích” sẽ tạo điều kiện cho người bị kết án tái hoà nhập cộng đồng, bớt mặc cảm và không bị cộng đồng phân biệt đối xử. Thực tế cho thấy người đã được xoá án tích chỉ có thể tham gia vào các quan hệ xã hội như xin việc làm, xuất khẩu lao động, du học, thăm thân nhân, xuất cảnh, thành lập doanh nghiệp… khi có Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận nội dung “không có án tích”. Với việc xác nhận của Phiếu lý lịch tư pháp, người được xoá án tích mới “thực sự” coi như chưa bị kết án và hoà nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn.

Đồng thời, để bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ trong việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp, khoản 3 Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp quy định trong trường hợp cần thiết, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp Phiếu lý lịch tư pháp và chịu trách nhiệm về nội dung Phiếu lý lịch tư pháp.

Như vậy, người được đương nhiên xóa án tích có thể yêu cầu Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích theo quy định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc yêu cầu Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp, trong đó ghi không có án tích.

9. Phiếu lý lịch tư pháp (Chương IV)

a) Các loại Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 41)

Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp quy định hai loại Phiếu lý lịch tư pháp: Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

Phiếu lý lịch tư pháp số 1 được cấp cho công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Án tích đã được xoá thì không ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1. Thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Trường hợp một người đã bị kết án thì Phiếu lý lịch tư pháp số 2 ghi tất cả các án tích (bao gồm án tích chưa được xóa và án tích đã được xoá). Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cũng bao gồm thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã.

Để đảm bảo tính minh bạch và quyền dân chủ của công dân, Điều 41 quy định Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cũng được cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

b) Thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 44)

Để tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Luật quy định Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đều có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

– Công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

– Người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam.

Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

– Công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước.

– Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài.

– Người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

c) Thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 (Điều 45)

Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp nộp Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và kèm theo các giấy tờ: bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, bản sao sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Công dân Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi tạm trú; trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh.

Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi cư trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp hồ sơ tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

Trường hợp cá nhân không có điều kiện trực tiếp làm thủ tục có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt mình làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật. Để tạo thuận lợi cho cá nhân, đặc biệt là các trường hợp đi học, lao động, công tác ở xa, Luật quy định trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì không cần văn bản ủy quyền.

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội khi có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì gửi văn bản yêu cầu đến Sở Tư pháp nơi người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thường trú hoặc tạm trú; trường hợp không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì gửi đến Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia. Văn bản yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ cơ quan, tổ chức, mục đích sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp và thông tin về người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp (họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người đó).

d) Thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 (Điều 46)

Cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì gửi văn bản yêu cầu đến Sở Tư pháp nơi người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thường trú hoặc tạm trú; trường hợp không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì gửi văn bản yêu cầu đến Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia. Văn bản yêu cầu phải ghi rõ thông tin về cá nhân đó như họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, họ, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó.

Trong trường hợp khẩn cấp, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua điện thoại, fax hoặc bằng các hình thức khác và có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì cũng thực hiện theo thủ tục tương tự như thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1. Tuy nhiên, để bảo vệ bí mật đời tư của cá nhân, Phiếu số 2 chỉ được cấp trực tiếp cho người có lý lịch tư pháp nên Luật quy định không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

đ) Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 48)

Để tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời quán triệt tinh thần cải cách hành chính, thời hạn giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp đã được rút ngắn so với quy định của Thông tư liên tịch số 07[2].

Theo quy định tại Điều 48 của Luật, thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp là không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài và trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn không quá 15 ngày. Trường hợp khẩn cấp theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng thì thời hạn không quá 24 giờ, kể từ thời điểm nhận được yêu cầu.

e) Từ chối cấp Phiếu lý lịch tư pháp và việc bổ sung, đính chính, thu hồi, huỷ bỏ Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 49 và Điều 50)

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có quyền từ chối cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

– Việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp không thuộc thẩm quyền;

– Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người khác mà không đủ điều kiện quy định tại Điều 7 và khoản 3 Điều 45 của Luật này;

– Giấy tờ kèm theo Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp không đầy đủ hoặc giả mạo.

Để bảo đảm quyền của người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Luật cũng quy định việc từ chối phải được thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối.

Trong trường hợp Phiếu lý lịch tư pháp được cấp có nội dung không chính xác hoặc trái pháp luật, cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp có trách nhiệm bổ sung, đính chính, thu hồi, huỷ bỏ Phiếu lý lịch tư pháp.

10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo (Chương V)

Lý lịch tư pháp là vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân của công dân. Do đó, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân về các hành vi vi phạm trong quản lý, cấp và sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp được quy định cụ thể trong Luật. Luật cũng quy định rõ về thời hiệu khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại.

Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết tố cáo.

11. Điều khoản chuyển tiếp (Điều 56)

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đặt ra yêu cầu không chỉ tiếp nhận, cập nhật và xử lý thông tin lý lịch tư pháp từ ngày Luật này có hiệu lực mà còn phải cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp đã có từ trước. Đây là công việc đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan như Toà án, Viện kiểm sát, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của hoạt động quản lý lý lịch tư pháp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, Luật Lý lịch tư pháp xác định rõ nhiệm vụ của Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực, cụ thể như sau:

Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ cung cấp cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực để phục vụ việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổ chức thực hiện việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Đồng thời, Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để Luật lý lịch tư pháp đi vào cuộc sống, Bộ Tư pháp đang khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành có liên quan soạn thảo Kế hoạch triển khai thực hiện Luật để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nội dung cơ bản của Kế hoạch này là xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, xây dựng Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, kiện toàn tổ chức của các Sở Tư pháp để quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương, xây dựng cơ chế đồng bộ giữa các bộ, ngành trong việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng đang triển khai xây dựng Chương trình đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ công chức làm công tác lý lịch tư pháp tại Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp; phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan chuẩn bị các biện pháp cần thiết để thi hành có hiệu quả Luật lý lịch tư pháp ngay từ khi có hiệu lực pháp luật (ngày 01tháng 7 năm 2010).


[1] Khái niệm “Lý lịch tư pháp” trong tiếng Anh là “Criminal records”, trong tiếng Pháp là “Casier judiciaire”.

[2] Thời hạn giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Thông tư liên tịch số 07 là 16 ngày trong trường hợp thông thường và 33 ngày trong trường hợp phức tạp, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Trích dẫn từ: http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/PreLaws/Details.aspx?PreLawID=89

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: