Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

KHÓ KIỆN KHI NGƯỜI VAY NỢ BỎ TRỐN

XUÂN ĐỒNG

Vay tài sản là một trong những giao dịch phổ biến của người dân trong đời sống xã hội. Pháp luật dân sự có những quy định cụ thể cho việc ký kết các hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân với nhau. Nhưng, thông thường các bên vay nợ chỉ thỏa thuận lập giấy viết tay với nhau và pháp luật dân sự cũng không bắt buộc đối với hợp đồng vay phải được lập thành biên bản; cũng không bắt buộc hợp đồng vay phải được công chứng hay chứng thực… Vì thế, dẫn đến những rắc rối và người cho vay có khi không bảo đảm được quyền lợi của mình.

Trên thực tế, các Tòa án xét xử tranh chấp về hợp đồng vay tiền cũng chỉ căn cứ vào biên nhận nợ và sự thỏa thuận về nội dung vay giữa các bên để làm cơ sở cho việc xét xử và tuyên án. Vì thế, cũng như các vụ án ly hôn, khi đương sự bỏ nơi cư trú, không tìm thấy nơi cư trú của bị đơn thì người yêu cầu ly hôn không thực hiện được quyền ly hôn của mình- trong hợp đồng vay tiền cũng vậy, khi người vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay và bỏ đi khỏi nơi cư trú, người cho vay không còn quyền khởi kiện tại Tòa án và có nguy cơ “mất trắng” số tiền đã cho vay. Điển hình là trường hợp bà Phạm Thị K. ngụ tại số 382, khóm1, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, Đồng Tháp cho vợ chồng ông Cao Văn T. và bà Lượng Thị C. vay số tiền là 38.000.000 đồng bằng biên nhận nợ viết tay giữa bà và vợ chồng ông T. Để tạo lòng tin cho bà K. vợ chồng ông T. đưa cho bà giữ một giấy chứng nhận quyền sử dụng 150 m2 đất như một tài sản thế chấp. Đầu tháng 5.2008, Bà K. khi phát hiện vợ chồng ông T. bỏ nơi cư trú và hiện nay không biết ở đâu vội làm đơn khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông T. thanh toán số tiền vay của mình. TAND huyện Lai Vung không thụ lý hồ sơ và trả lại đơn khởi kiện, vì bà K. không tìm được nơi cư trú của bị đơn. Khi bà K. đến khiếu nại Tòa án nhân dân huyện Lai Vung thì Chánh án cho biết, vụ kiện không thể thụ lý vì không tìm thấy nơi cư trú của bị đơn và theo pháp luật, còn phải bảo đảm quyền được biết bị khởi kiện của bị đơn thì vụ án mới được giải quyết. Do đó, Tòa án chỉ giải quyết khi bị đơn trở về nơi cư trú của mình, hoặc người khởi kiện tìm thấy nơi cư trú mới của bị đơn. Khi đó, Tòa án nơi cư trú mới của bị đơn sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Mặc dù có trong tay tài sản mà vợ chồng ông T. để lại nhưng bà K. không thể sử dụng cũng như chuyển nhượng, vì chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên vợ chồng ông T.

Trường hợp khác cho vay tiền cũng không đòi được, vì không tìm được nơi ở mới của bị đơn, đó là trường hợp chị Nguyễn Kim H. ở thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò,  Đồng Tháp là chủ của một đại lý bán bia và nước ngọt. Năm 2002, chị H. có bán gối đầu nước ngọt cho bà Lê Thị M. để bán quán nước giải khát. Đến tháng 7.2004   chị H. không bán nước ngọt cho bà M. nữa và số tiền mà bà M.trả thiếu chị H. là 10.590.000 đồng. Nhưng, bà M. không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền, đồng thời bỏ nơi cư trú đến nơi khác sinh sống. Do không biết bà M. đã bỏ đi nơi khác, chị H. khởi kiện bà M. đến Tòa án nhân dân huyện, yêu cầu bà M. thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ cho mình. Tuy nhiên, cũng như bà K.- chị H. bị Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò trả hồ sơ khởi kiện vì không tìm được nơi cư trú của bị đơn.

Thực tế trên cho thấy, pháp lý hiện hành chưa quy định chặt chẽ trong việc buộc người vay tài sản phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay của mình. Từ đó, dẫn đến hành vi lách luật của cá nhân trước cơ quan xét xử: người vay khi thấy không còn khả năng thanh toán thì bỏ nơi cư trú để người cho vay không thể kiện được mình và đương nhiên không cần phải trả số tiền mà mình đã vay. Còn người cho vay thì không thể “theo dõi” người vay thường xuyên để nộp đơn khởi kiện đúng lúc.

Hai trường hợp nêu trên, người vay không còn tài sản và bỏ đi khỏi nơi cư trú thì Tòa án có thụ lý giải quyết, bản án cũng không thể thi hành, vì bị đơn không có tài sản để thi hành án. Nếu bị đơn có tài sản là quyền sử dụng đất hay các tài sản khác mà pháp luật quy định  phải đăng ký quyền sở hữu. Và, tài sản có do nguyên đơn tạm giữ thì vẫn không được sử dụng, hay chuyển nhượng, hoặc dùng để thanh toán nợ của bị đơn… vì quyền sở hữu đối với một tài sản chỉ chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của Tòa án, hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác.

Thiết nghĩ, hợp đồng vay tài sản là một trong những thỏa thuận của người dân và người dân hoàn toàn có quyền xác lập các thỏa thuận đó, trong khuôn khổ pháp luật. Nhưng, để  bảo đảm nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng, pháp luật hiện hành cần có những quy định cụ thể hơn, để xử lý một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng vay, tránh việc lách luật gây khó khăn cho nguyên đơn là người cho vay khi khởi kiện tại Tòa án.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

Trích dẫn từ:

http://nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/80318/Default.aspx

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: