BÁO CÁO THẨM TRA SỐ 1343/BC-UBXH12 NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI – QUỐC HỘI KHÓA XII VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Kính gửi:  Các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban về các vấn đề xã hội thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Để thực hiện nhiệm vụ này, Ủy ban đã làm việc với các bộ, ngành, địa phương, tiến hành các hoạt động giám sát, khảo sát, nghiên cứu, tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về bình đẳng giới…

Ngày 23 tháng 4 năm 2009, tại phiên họp toàn thể lần thứ tám, Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành thẩm tra Báo cáo số 56/BC-CP này 22 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới[1].

Tham dự phiên họp thẩm tra có Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Bộ trưởng Bộ lao động – thương binh và xã hội, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Liên đoàn lao động Việt Nam, đại diện lãnh đạo Ủy ban pháp luật, đại diện Văn phòng Quốc hội và một số cơ quan khác.

Sau đây, Ủy ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số ý kiến của Ủy ban như sau[2] :

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Đây là lần đầu tiên Chính phủ Báo cáo với Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về theo quy định của Luật bình đẳng giới. Uỷ ban hoan nghênh việc nghiêm túc chấp hành của Chính phủ và nhất trí về cơ bản với những đánh giá của Chính phủ đối với việc thực hiện chính sách, mục tiêu bình đẳng giới trong thời gian qua. Theo đó, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và phát triển quyền con người. Kết quả của các nỗ lực này đã được cộng đồng quốc tế nhìn nhận Việt Nam như một “điểm sáng” về việc thực hiện bình đẳng giới, nâng cao quyền con người, xóa đói giảm nghèo… Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hợp quốc cho thấy, Việt Nam hiện có chỉ số phát triển con người (HDI)[3] là 0,733, xếp ở vị trí 105 trong tổng số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 4 bậc so với năm 2006/2007). Với chỉ số phát triển giới (GDI)[4] là 0,732 – bằng 99,9% giá trị của HDI, Việt Nam cũng được Liên hợp quốc đánh giá là nước có nhiều tiến bộ trong cải thiện công bằng giới.

Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bình đẳng giới thông qua việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hệ thống pháp luật cũng như tham gia, phê chuẩn các công ước quốc tế có liên quan (Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em…). Trên cơ sở nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp và pháp luật về bình đẳng giới, Chính phủ đã xây dựng được một số mục tiêu cụ thể vì sự tiến bộ của phụ nữ, trẻ em gái trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình5. Các mục tiêu này được xác định rõ ràng về nội dung và thời gian, Chính phủ đã tiến hành sơ kết, tổng kết đánh giá việc tổ chức thực hiện các mục tiêu này theo định kỳ6 ; kiểm tra những tác động, xu hướng trong suốt quá trình thực hiện các mục tiêu và những kết quả đạt được; phân bổ nguồn tài chính và nhân lực để thực thi các văn bản pháp luật hiện hành về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006, nhưng cho đến nay Chính phủ chưa ban hành chiến lược, chính sách và mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới theo tinh thần của Điều 25 Luật này. Vì vậy, báo cáo của Chính phủ tập trung vào việc thực hiện những mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 mà Chính phủ đã ban hành. Về cơ bản, báo cáo của Chính phủ đã cung cấp tương đối đầy đủ thông tin về tình hình thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới, nêu được những kết quả đã đạt được, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Uỷ ban nhất trí với nhiều nội dung được nêu trong Báo cáo.

II. ĐÁNH GIÁ VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG CỤ THỂ

1. Về tình hình triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới

Trong Báo cáo, Chính phủ đã tổng kết, đánh giá 3 nhóm biện pháp triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới gồm: chỉ đạo, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới; xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ thực hiện bình đẳng giới; tuyên truyền và phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.

1.1. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

Sau khi Luật bình đẳng giới được Quốc hội thông qua vào ngày 29/11/2006, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI, Chính phủ đã dự kiến ban hành 3 nghị định hướng dẫn Luật nhưng trên thực tế cả 3 nghị định này đều không được ban hành đúng tiến độ như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Đến nay, Chính phủ mới chỉ ban hành Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Hiện vẫn còn 2/3 nghị định chưa được ban hành. Việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành là một trong các nguyên nhân khiến cho nhiều địa phương bị động, lúng túng trong tổ chức thực hiện và Luật chậm đi vào cuộc sống.

1.2. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật là một biện pháp bảo đảm bình đẳng giới mà Luật bình đẳng giới đã đề ra. Tuy nhiên, kết quả giám sát của Ủy ban về các vấn đề xã hội cho thấy, nhiều bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm và việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ này còn mang tính hình thức, do đó chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống các quy định pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

1.3. Công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến Luật bình đẳng giới đã được các cơ quan, tổ chức quan tâm triển khai đến đội ngũ cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân. Nhiều hình thức thông tin, tuyên truyền được áp dụng (phát hành tờ rơi, sách, tập huấn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, chuyên mục trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình…) đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về bình đẳng giới, tư tưởng trọng nam hơn nữ trong xã hội đã dần được khắc phục. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức về Luật bình đẳng giới còn mang tính hình thức; các cấp hội phụ nữ vẫn là chủ lực chính trong việc tuyên truyền Luật bình đẳng giới; còn thiếu vắng sự chủ động, tích cực từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

1.4. Về tổ chức, bộ máy thực hiện bình đẳng giới :

Ủy ban về các vấn đề xã hội hoan nghênh Chính phủ đã nghiêm túc thực hiện Luật bình đẳng giới, phân công Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước về bình đẳng giới từ tháng 12 năm 2007. Đến nay, hệ thống tổ chức, bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới về cơ bản đã được hình thành từ trung ương xuống địa phương. Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam tiếp tục được kiện toàn. Tuy nhiên, việc giao nhiệm vụ quản lý nhà nước và sắp xếp tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ làm công tác bình đẳng giới còn chậm. Cho đến nay, bộ máy các Ban vì sự tiến bộ phụ nữ cấp tỉnh, huyện vẫn chưa được kiện toàn và các bộ, ngành còn lúng túng về mô hình tổ chức, chưa có văn bản hướng dẫn. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới còn mỏng, chưa được đào tạo kiến thức, kỹ năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Một số địa phương chưa phân công cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới, vì vậy, việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới còn rất hạn chế.

Trong triển khai thi hành Luật bình đẳng giới, Ủy ban cho rằng, ngoài 3 nhóm biện pháp được nêu trong Báo cáo của Chính phủ, còn có những biện pháp khác cũng rất quan trọng cần được đề cập trong báo cáo như: thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực có liên quan đến bình đẳng giới, biện pháp tài chính-ngân sách… Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, một số cơ quan, tổ chức, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bình đẳng giới; chậm thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành Luật bình đẳng giới mà chưa có biện pháp khắc phục.

2. Đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Báo cáo của Chính phủ đã cung cấp thông tin khá đầy đủ về tình hình thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới. Tuy nhiên, việc đánh giá tình hình thực hiện trên một số lĩnh vực còn chưa đầy đủ và toàn diện.

2.1. Về phạm vi các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Điều 47 Luật bình đẳng giới đưa ra khái niệm “mục tiêu bình đẳng giới” và Điều 25 quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc “ban hành chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; hằng năm báo cáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới”.

Xuất phát từ thực tế là, cho đến nay, phụ nữ vẫn là nhóm xã hội yếu thế so với nam giới và họ vẫn là đối tượng chủ yếu để thúc đẩy bình đẳng giới nên trong nhiều năm trước đây, các mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ được coi là một ưu tiên quan trọng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam và được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật trên các lĩnh vực, cũng như trong Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Vì vậy, trong khi Chính phủ chưa ban hành mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới theo Luật bình đẳng giới, Ủy ban đồng tình về phạm vi các mục tiêu bình đẳng giới đề cập trong Báo cáo là các mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được xác định trong các văn bản này, đặc biệt là trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010. Đồng thời, Chính phủ cần nghiên cứu và sớm ban hành mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới làm cơ sở để thực hiện và đánh giá.

2.2. Đối tượng thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Uỷ ban nhất trí cao với nhiều nội dung được đề cập trong Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Đối tượng thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới không chỉ là cán bộ, công chức, người có quan hệ lao động mà còn cả các lực lượng đông đảo khác như nông dân, các đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, người tàn tật…, nhất là trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em trai, trẻ em gái hướng đến bình đẳng giới thực chất trong tương lai. Vì vậy, trong những năm sắp tới, việc tiếp cận bình đẳng giới trong các nhóm xã hội khác nhau, đặc biệt là các nhóm xã hội yếu thế cần tiếp tục được quan tâm và có các chính sách phù hợp để việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới có hiệu quả cao.

2.3. Về số liệu, thông tin tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia bình đẳng giới

Bình đẳng giới là một lĩnh vực rộng, mới và khó, do vậy, việc thu thập các số liệu về tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm tính chính xác của dữ liệu. Ủy ban cho rằng, một số dữ liệu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực (giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao, gia đình…) chưa được cập nhật thường xuyên, thậm chí có lĩnh vực chưa được thống kê theo dõi từ phía các cơ quan có thẩm quyền. Để sơ kết thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2006-2010, chuẩn bị kết thúc giai đoạn cuối Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, tính đến ngày 26 tháng 02 năm 2009, chỉ có 16/35 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và 36/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi báo cáo đến Bộ kế hoạch và đầu tư. Việc thiếu các dữ liệu, thông tin này là một hạn chế lớn trong quá trình đánh giá mức độ thực hiện cũng như tính khả thi của các mục tiêu này và việc phân tích giới, lồng ghép giới trong quá trình hoạch định chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

2.4. Đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực chính trị: Qua báo cáo của Chính phủ và kết quả giám sát của Ủy ban cho thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia các chức danh quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở trung ương và địa phương còn thấp. Nguyên nhân của tình hình này có nhiều, trong đó có một phần là do quy định về tuổi nghỉ hưu chênh lệch giữa nam và nữ đã tác động trực tiếp tới cơ hội cho phụ nữ trong việc bổ nhiệm, đề bạt, ứng cử… so với nam giới.

Quy định hiện hành về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ (bao gồm cả cán bộ, công chức) ít hơn nam cùng ngành, nghề, lĩnh vực, địa bàn 5 tuổi là một chính sách của Đảng và Nhà nước ta tạo điều kiện để phụ nữ chăm lo gia đình, bảo vệ sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu của lao động nữ, phù hợp với bối cảnh lịch sử khi chính sách ra đời vào những năm 60 của thế kỷ trước, có thể được coi như là một "biện pháp đặc biệt tạm thời" nhằm bảo đảm bình đẳng nam và nữ. Song đến nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội, tuổi nghỉ hưu của một bộ phận lao động nữ là vấn đề cần phải quan tâm. Do đó, Chính phủ, Bộ lao động – thương binh và xã hội cần sớm nghiên cứu, điều tra, tổng kết, đánh giá nhằm đề xuất việc sửa đổi, bổ sung quy định này cho phù hợp với thực tiễn.

Trong lĩnh vực kinh tế – lao động: việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực này là một chỉ số quan trọng để xem xét mức độ bình đẳng giới của một quốc gia, nhưng trong Báo cáo của Chính phủ, vấn đề này được đề cập mờ nhạt. Trong thời gian qua, Chính phủ có nhiều chủ trương mà nhiều lao động nữ là đối tượng thụ hưởng như chủ trương xây nhà cho người thu nhập thấp, lao động di cư… Báo cáo cần bổ sung thêm các thông tin về vấn đề lao động di cư, lao động nữ, nam trong khu vực kinh tế phi chính thức, vấn đề bình đẳng tiền công, tiền lương, bảo hiểm xã hội, y tế, tuyển dụng trong các khu vực nhà nước, tư nhân; tình hình lao động nữ ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng dân tộc thiểu số…

Đặc biệt, năm 2008, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, Báo cáo của Chính phủ cần có đánh giá tác động của vấn đề này tới lao động nam, nữ; tình trạng thất nghiệp, mất việc làm của nữ công nhân tại các khu công nghiệp, lao động ở các làng nghề, ở nông thôn và đề xuất các biện pháp làm giảm tác động tiêu cực, nhất là đối với lao động nữ.

Ngoài ra, Ủy ban cũng cho rằng, một số hiện tượng xã hội bức xúc hiện nay như buôn bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài, vấn đề bạo lực trên cơ sở giới, tình hình phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, tình trạng mất cân đối giới tính tại nhiều địa phương trên cả nước… cũng cần được đề cập trong Báo cáo của Chính phủ. Trên thực tế, trong các lĩnh vực này, Chính phủ đã có những cố gắng mà Báo cáo chưa thể hiện như : phân công trách nhiệm liên ngành phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, chấn chỉnh hôn nhân có yếu tố nước ngoài… ; ban hành Nghị định và tuyên truyền hướng dẫn triển khai Luật phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ ở các cấp, hình thành một số cơ sở chăm sóc sức khỏe cho nam giới (nam học), đang triển khai giảm tỷ lệ nạo hút thai (giảm gánh nặng cho phụ nữ), biện pháp giảm mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh…

2.5. Về các mục tiêu chung của quốc gia về bình đẳng giới và các mục tiêu đặc thù

Ủy ban cho rằng, các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới cần được xem xét dưới 2 khía cạnh: các mục tiêu chung của quốc gia về bình đẳng giới nhằm đảm bảo bình đẳng giữa nam, nữ và các mục tiêu đặc thù về bình đẳng giới là cơ sở để xây dựng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới quy định trong Luật bình đẳng giới. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới chính là sự kế thừa các quy định thể hiện chính sách ưu tiên đối với phụ nữ và bổ sung một số nội dung xuất phát từ tình hình thực tế về khoảng cách giới. Đây cũng là những biện pháp “đặc biệt tạm thời” để thúc đẩy bình đẳng giới thực chất ở Việt Nam8, phù hợp với quy định về "các biện pháp đặc biệt tạm thời" được quy định tại Điều 4 của Công ước CEDAW9 mà Việt Nam là thành viên. Ủy ban cho rằng, trong thời kỳ quá độ tiến tới bình đẳng giới thực chất, việc ban hành các biện pháp này và đánh giá mức độ thực hiện là cần thiết. Vì vậy, trong Báo cáo của Chính phủ khi đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới cần có sự tách bạch giữa 2 loại mục tiêu này và cần dành sự quan tâm tới các mục tiêu cụ thể, các biện pháp “đặc biệt tạm thời” nhằm thúc đẩy việc thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

2.6. Về việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật

Luật bình đẳng giới đã xác định Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, hầu hết các dự án văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành đều do Chính phủ chủ trì soạn thảo, song qua theo dõi, việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thời gian qua cho thấy, một số bộ, ban, ngành – cơ quan chủ trì soạn thảo còn thiếu tích cực, chủ động trong việc tuân thủ quy trình, thủ tục lồng ghép giới cũng như phân tích giới, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật tới nam và nữ nên hiệu quả lồng ghép giới chưa đạt được như mong muốn.

Do đó, Chính phủ cần dành sự quan tâm nhiều hơn đối với trách nhiệm này trong thời gian tới. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần tổng kết, đánh giá và tiếp tục chỉ đạo việc lồng ghép giới trong các chương trình mục tiêu quốc gia, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm và 5 năm để nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách, thúc đẩy bình đẳng giới.

3. Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

Ủy ban cũng nhất trí với các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới đã được nêu trong Báo cáo của Chính phủ. Tuy nhiên, Ủy ban cho rằng, nguyên nhân căn bản chính là nhận thức trong xã hội về vấn đề này còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức, lãnh đạo, quản lý và nhân dân, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và trong gia đình. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc xây dựng, thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, việc thu thập thông tin về giới trên các lĩnh vực, công tác thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện cũng như việc xây dựng và ban hành các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Vì vậy, trên thực tế, phụ nữ vẫn có vị trí thấp hơn so với nam giới trong gia đình và ngoài xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực ra quyết định, tham gia vào quan hệ lao động (việc làm, thu nhập, bảo hiểm xã hội…).

4. Về phương hướng, giải pháp

Ủy ban cho rằng, các phương hướng và giải pháp được nêu ra trong Báo cáo của Chính phủ còn chung chung, chưa cụ thể, chưa xác định rõ thời gian thực hiện. Đề nghị cần làm rõ 2 nhóm biện pháp “trước mắt” “lâu dài” trong thực hiện bình đẳng giới cũng như bố trí ngân sách để thực thi các biện pháp này nhằm nâng cao tính khả thi của các biện pháp được đưa ra.

Chính phủ cũng cần làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới của từng bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp được nêu trong Báo cáo. Thực tế giám sát cho thấy, trong quá trình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới còn tồn tại quan niệm coi bình đẳng giới đồng nhất với công tác phụ nữ, tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức, cho đây là trách nhiệm chính của cơ quan vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp, của ngành lao động – thương binh và xã hội, thậm chí của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Do vậy, để đạt được mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới một cách thực chất, có hiệu quả và nâng cao trách nhiệm thực hiện của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, Chính phủ cần sớm xác định rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm của từng chủ thể trong thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới và các giải pháp đã được Chính phủ nêu ra.

Báo cáo của Chính phủ đưa ra biện pháp “Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế (đa phương, song phương, với các tổ chức phi chính phủ quốc tế) về bình đẳng giới” là cần thiết vì giới là vấn đề mới, khó, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần quan tâm, mở rộng các biện pháp xã hội hóa, khuyến khích tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ trong nước tham gia hoạt động về bình đẳng giới. Thực tiễn cho thấy, trong nhiều năm qua, các tổ chức này đã có đóng góp đáng kể vào việc nâng cao vị thế của phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới tại nhiều địa phương thông qua các dự án phát triển cộng đồng và đang ngày càng có vai trò tích cực trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan đến bình đẳng giới.

Ngoài ra, một số ý kiến cũng đề nghị đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bên cạnh việc tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng, tập huấn… cần chú ý tuyên truyền qua phương tiện truyền thông tại cộng đồng (loa truyền thanh, tờ rơi…) và tuyên truyền bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số tại vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống.

5. Về các kiến nghị của Chính phủ

5.1. Về kiến nghị tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật, đặc biệt là việc thực hiện lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Ủy ban về các vấn đề xã hội là cơ quan được Ủy ban thường vụ Quốc hội giao nhiệm vụ phụ trách lĩnh vực giới. Trước và sau khi có Luật bình đẳng giới, Ủy ban đã dành sự quan tâm và có nhiều hoạt động giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và Luật bình đẳng giới tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Ủy ban cho rằng, việc tăng cường giám sát, kiểm tra là một biện pháp hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện Luật. Do vậy, ngoài việc Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội tăng cường công tác giám sát, Ủy ban cũng đề nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo cũng như tiến hành kiểm tra, thanh tra mạnh mẽ hơn việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.

5.2. Về kiến nghị lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng ngân sách nhà nước hằng năm

Việc lồng ghép giới trong quy trình ngân sách nhà nước là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, đảm bảo phân bổ nguồn lực tác động bình đẳng đối với cả nam và nữ trong quá trình tham gia cũng như thụ hưởng thành quả của phát triển. Điều này góp phần quan trọng vào việc thực tiện tốt các mục tiêu về bình đẳng giới trong thời gian tới. Vì vậy, kiến nghị của Chính phủ về việc Quốc hội cần quan tâm phân tích giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quyết định ngân sách nhà nước hằng năm là phù hợp với quy định của Luật bình đẳng giới, của Luật ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, để Quốc hội có cơ sở thảo luận, xem xét, quyết định về vấn đề này thì trước hết, trong quá trình chuẩn bị dự toán ngân sách nhà nước, Chính phủ và các cơ quan cần thực hiện việc lồng ghép giới và có báo cáo phân tích giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm gửi Quốc hội.

5.3. Về kiến nghị xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015

Ủy ban tán thành kiến nghị của Chính phủ về việc xây dựng và ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, đây là vấn đề liên ngành nên đề nghị Chính phủ bên cạnh việc xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 phải đồng thời quan tâm chỉ đạo việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình phát triển kinh tế – xã hội khác.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trên cơ sở hoạt động giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới và nghe Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, Ủy ban về các vấn đề xã hội kiến nghị với Chính phủ:

1. Về xây dựng chính sách, pháp luật

– Đẩy nhanh tiến độ ban hành 2 nghị định hướng dẫn thi hành Luật bình đẳng giới để Luật sớm đi vào cuộc sống.

– Nghiên cứu, ban hành chiến lược, chính sách và mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và báo cáo Quốc hội như quy định của Điều 25 Luật bình đẳng giới.

– Tổng kết, đánh giá việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ các văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực không phù hợp với các nguyên tắc bình đẳng giới theo quy định tại Điều 6 của Luật bình đẳng giới.

– Chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan soạn thảo thực hiện nghiêm túc việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

2. Về tổ chức thực hiện

– Chỉ đạo các cơ quan hữu quan chủ động tiến hành bồi dưỡng, đào tạo, quy hoạch nhằm tạo nguồn cán bộ nữ tham gia vào các vị trí quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, bộ máy nhà nước trong nhiệm kỳ sắp tới.

– Tiến hành việc phân bổ kinh phí cho các hoạt động về bình đẳng giới và thực hiện lồng ghép giới vào trong quy trình dự toán ngân sách nhà nước hằng năm trình Quốc hội.

– Tiếp tục tiến hành lồng ghép giới, đánh giá tác động giới trong các chính sách, chương trình, đề án về an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, đào tạo nghề nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong quá trình tổ chức thực hiện.

– Xây dựng và ban hành bộ chỉ số đánh giá bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để tiến hành thống kê, theo dõi hằng năm nhằm đánh giá sát thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam và tạo cơ sở cho việc xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật và dự toán ngân sách nhà nước.

3. Về tổ chức bộ máy

– Kiện toàn và phân công cán bộ (chuyên trách, kiêm nhiệm) làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại các bộ, ngành, địa phương.

– Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về giới, phân tích giới, lồng ghép giới cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở trung ương và địa phương.

– Nghiên cứu đưa nội dung về giới, lồng ghép giới vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Chính phủ để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về vấn đề này.

Trên đây là Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban về các vấn đề xã hội đối với Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới, xin trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

TM. UỶ BAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

CHỦ NHIỆM

(đã ký)

Trương Thị Mai


[1] Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội số 63/BC-CP ngày 08 tháng 5 năm 2009 có sửa đổi, bổ sung và tiếp thu một số ý kiến của Ủy ban.

[2] Báo cáo này đề cập đến các ý kiến chưa được tiếp thu trong Báo cáo số 63/BC-CP của Chính phủ.

[3] Chỉ số phát triển con người (HDI) là trung bình số học của 3 chỉ số cơ bản về năng lực của con người (tuổi thọ, học vấn và thu nhập thực tế). HDI bằng 1 là tốt nhất.

[4] “Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ” (khoản 9, Điều 5, Luật bình đẳng giới). Giống như HDI, GDI bằng 1 là tốt nhất.

5 Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg ngày 21/01/2002, trong đó đã đề ra 5 mục tiêu với 20 chỉ tiêu cụ thể.

6 Các bộ, ngành, địa phương đã tổng kết Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2005 và đánh giá sơ kết giữa kỳ việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2006-2010

7 Điều 4. Mục tiêu bình đẳng giới (định tính) : Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

8 Cũng giống như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải có biện pháp tạm thời, ví dụ : cử tuyển đối với con em đồng bào dân tộc miền núi cũng là một trong các biện pháp tạm thời để miền núi tiến kịp miền xuôi.

9 Điều 4 công ước CEDAW quy định, việc "các nước tham gia Công ước thông qua những biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm thúc đẩy nhanh bình đẳng trên thực tế giữa nam giới và phụ nữ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử".

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: