DỰ THẢO BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA BỘ TƯ PHÁP

 
Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ Bản thuyết minh chi tiết về các điều, khoản của Dự thảo Luật như sau:

I. Về Chương I – Những quy định chung (gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8 )

– Về Điều 1: Mục đích của Luật

Tương tự như Luật tiếp cận thông tin của nhiều quốc gia trên thế giới, Điều 1 Dự thảo Luật xác định mục đích của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin. Dự thảo Luật xác định hai mục đích chính, cơ bản và quan trọng nhất của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin, đó là (1) bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; và (2) tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Về mục đích bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức: quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, đã có một số luật, pháp lệnh quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin do mình nắm giữ (Luật phòng, chống tham nhũng, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật bảo vệ môi trường, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Luật ngân sách, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định hoặc có quy định nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin; ngoài ra, phạm vi thông tin mà người dân được tiếp cận cũng chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống. Như vậy, trên thực tế, chưa có một cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm bảo đảm quyền được thông tin của người dân được thực thi trong thực tiễn, và vì vậy, việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn nhiều hạn chế.

Luật tiếp cận thông tin được ban hành với mục đích cụ thể hoá cơ chế bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân được Hiến pháp ghi nhận, đồng thời, khắc phục những khiếm khuyết của các quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến quyền được thông tin trên cơ sở pháp điển hoá các quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm của các cơ quan trong việc cung cấp thông tin, quy định rõ trình tự, thủ tục chung về tiếp cận thông tin, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Có thể nói, mục đích cơ bản của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin là nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, khả thi, bảo đảm cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền được thông tin một cách hiệu quả.

– Về mục đích tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước: Pháp luật hiện hành còn thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin do mình nắm giữ cũng như minh bạch hoá các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thông qua việc bảo đảm quyền được thông tin của người dân, Luật sẽ góp phần hình thành cơ chế giám sát có hiệu quả từ công chúng tới các hoạt động của cơ quan công quyền, giúp cho việc quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả hơn, tính trách nhiệm của các cơ quan công quyền cũng cao hơn. Với việc quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai các thông tin do mình nắm giữ và cung cấp thông tin cho người dân theo yêu cầu, Luật tiếp cận thông tin cũng hướng tới mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Về Điều 2: Phạm vi điều chỉnh

Tại Điều 2 Dự thảo Luật quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc tiếp cận thông tin; hình thức, trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật tập trung vào việc giải quyết những vấn đề liên quan nhằm bảo đảm một người dân bình thường, một tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp có thể được tiếp cận các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ.

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật cũng xác định rõ những vấn đề không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật, đó là những nội dung sau đây: việc tiếp cận thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh; thông tin đã được chuyển sang cơ quan lưu trữ; thông tin trong quá trình thanh tra, kiểm toán; thông tin liên quan đến vụ việc thuộc hồ sơ, tài liệu đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vì việc tiếp cận các loại thông tin nêu trên đang được điều chỉnh bởi các luật, pháp lệnh có liên quan (Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước, Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ, Luật cạnh tranh, Pháp lệnh lưu trữ, các luật tố tụng). Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật về tiếp cận thông tin, sau khi Luật được ban hành, các cơ quan có liên quan sẽ phải tiến hành rà soát, đề xuất những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các văn bản này.

Ngoài ra, vì mục đích của Luật là được ban hành nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin với tư cách một quyền cơ bản của công dân nên Luật cũng không điều chỉnh việc tiếp cận thông tin giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Việc tiếp cận thông tin giữa các cơ quan nhà nước được thực hiện theo cơ chế phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Về Điều 3: Giải thích từ ngữ

Nhằm làm rõ khái niệm, từ đó giúp người đọc có cách hiểu chung thống nhất về các quy phạm được quy định trong Luật, Dự thảo Luật đã giải thích một số từ ngữ quan trọng, được sử dụng nhiều lần trong Dự thảo, bao gồm các khái niệm “thông tin được tiếp cận” thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra, thông tin nhận được, “tiếp cận thông tin”, “hồ sơ, tài liệu” và “tổ chức được tiếp cận thông tin”.

– Về khái niệm thông tin được tiếp cận: thông tin được tiếp cận trong Dự thảo Luật được hiểu là thông tin do các cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nhận được trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và đang được các cơ quan này nắm giữ. Một điểm cần lưu ý là, trong quá trình hoạt động của mình, cơ quan nhà nước thường nắm giữ hai loại thông tin, đó là, thông tin do chính hoạt động của cơ quan mình tạo ra và thông tin mà cơ quan khác gửi cho mình trong quá trình phối hợp hoạt động. Dự thảo Luật giải thích tại Điều 3 sự khác nhau giữa hai loại thông tin nói trên như sau:

Thông tin do cơ quan tạo ra là thông tin hình thành trong quá trình cơ quan nhà nước giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thông tin nhận được là thông tin mà cơ quan nhà nước có được từ các nguồn khác trong quá trình phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Trong hai loại thông nêu trên, cơ quan nhà nước chỉ trực tiếp cung cấp đối với những thông tin do chính hoạt động của mình tạo ra, còn đối với những thông tin do mình nhận được từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong quá trình phối hợp hoạt động, thì cơ quan nhà nước không trực tiếp cung cấp cho người yêu cầu mà có trách nhiệm hướng dẫn người yêu cầu đến chính cơ quan nhà nước đã tạo ra thông tin đó để họ yêu cầu cung cấp thông tin.

Về khái niệm thông tin được tiếp cận, Dự thảo Luật còn đưa ra một tiêu chí nữa để trên cơ sở đó xác định một thông tin có thuộc loại được tiếp cận hay không, đó là, những thông tin nói trên phải là những thông tin đang được các cơ quan tạo ra thông tin nắm giữ. Khi những thông tin nói trên hết thời hạn lưu giữ tại cơ quan và được chuyển sang cơ quan lưu trữ theo quy định của pháp luật lưu trữ, thì việc tiếp cận thông tin đó không theo quy trình tiếp cận tại Luật này mà theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

– Về khái niệm tiếp cận thông tin: hành vi tiếp cận thông tin trong Luật này được hiểu là các hành vi xem, nghe, đọc, ghi chép, trích dẫn, sao chép, chụp hồ sơ, tài liệu.

– Về khái niệm hồ sơ, tài liệu: hồ sơ tài liệu trong Luật này được hiểu là các loại bản viết trên giấy, bản in trên giấy, bản chiếu, tranh, bản vẽ, hình ảnh, ảnh chụp, băng hình, băng ghi âm, đĩa mềm, thẻ nhớ hoặc bất kỳ một dạng vật chất nào có chứa thông tin, dữ liệu.

– Về tổ chức được tiếp cận thông tin: đây phải là tổ chức được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật.

– Về Điều 4: Cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin

Mặc dù pháp luật đã quy định trách nhiệm nói chung của các cơ quan nhà nước trong việc công khai, cung cấp thông tin trong một số lĩnh vực, song trên thực tế, chỉ một số ít cơ quan, tổ chức thực hiện việc công khai thông tin hoặc cung cấp thông tin. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc công khai, cung cấp thông tin chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước và được thực hiện trên cơ sở quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật về phòng, chống tham nhũng, Luật bảo vệ môi trường, Luật ngân sách, Luật xây dựng, Luật báo chí, Luật xuất bản… Trong khi đó, thông tin mà người dân có nhu cầu tiếp cận không chỉ do các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp mà còn do các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp và lập pháp nắm giữ. Thông tin người dân muốn tiếp cận không chỉ có ở các cơ quan trung ương mà có cả ở các cơ quan ở địa phương, thậm chí có nhiều thông tin không chỉ giới hạn trong phạm vi cơ quan nhà nước nắm giữ mà cả ở các doanh nghiệp.

Trên thực tế, do pháp luật chưa quy định rõ và cụ thể những cơ quan nào có trách nhiệm cung cấp thông tin nên khi có nhu cầu tiếp cận thông tin, người dân không biết mình cần đến đâu và hỏi ai. Về phía cơ quan nhà nước cũng không biết mình có được phép cung cấp thông tin hay không, và trong trường hợp được yêu cầu, thì cơ quan nhà nước cũng lúng túng không biết dựa trên cơ sở pháp lý nào để cung cấp thông tin cho dân. Để khắc phục tình trạng trên, Điều 4 Dự thảo Luật xác định rõ và cụ thể các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin.

Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và cân nhắc các điều kiện thực tế của Việt Nam, Dự thảo Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin thuộc về tất cả các cơ quan nhà nước thuộc cả hệ thống hành pháp, lập pháp và tư pháp bởi các lý do sau đây:

Trong bộ máy nhà nước, nếu nói về trách nhiệm cung cấp thông tin, chủ thể có liên quan nhiều nhất là các cơ quan hành chính nhà nước. Trên thực tế, các văn kiện của Đảng cũng như các văn bản quy phạm pháp luật luôn tập trung nhấn mạnh trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan hành chính nhà nước, chủ thể nắm giữ thông tin nhiều nhất và liên quan nhất đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đời sống của nhân dân.

Các cơ quan khác như Quốc hội, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cũng là những chủ thể nắm giữ các thông tin mà người dân quan tâm. Dự thảo Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước bao gồm cả cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp. Với chức năng thực hiện quyền lực công, tất cả các thông tin của Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân… đều phải được cung cấp cho người dân để một mặt, giúp người dân tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác, tạo điều kiện cho người dân tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Hơn nữa, thông qua việc tiếp cận thông tin, người dân có cơ hội tham gia hiệu quả hơn vào các công việc của bộ máy chính quyền; đồng thời, tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước cũng được tăng cường.

Đối với các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, thông tin do các tổ chức này nắm giữ và cần được công khai chủ yếu liên quan đến vấn đề quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách và hoạt động của các tổ chức. Việc công khai các thông tin này cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành như Luật ngân sách nhà nước, Luật cán bộ, công chức, Luật quản lý và sử dụng tài sản công…. Do đó, việc tiếp cận thông tin của các tổ chức này đã được đảm bảo ở mức độ nhất định. Ngoài ra, hoạt động của các tổ chức này còn được quy định bởi điều lệ của từng tổ chức, vì vậy, trong Luật này không quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các tổ chức nói trên.

Về cơ bản, Dự thảo Luật quy định cơ quan nào nắm giữ thông tin thì cơ quan đó có trách nhiệm cung cấp thông tin, tuy nhiên, trong một số trường hợp, một cơ quan được giao trách nhiệm cung cấp thông tin do cơ quan khác tạo ra hoặc nhận được trong quá trình hoạt động. Xuất phát từ tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, theo đó, có một số cơ quan chỉ hoạt động tập trung theo kỳ họp (Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân), hay một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước là một chức danh cụ thể (Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ); Dự thảo Luật quy định các cơ quan có trách nhiệm trực tiếp thực hiện việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan mình và cả thông tin về các chủ thể khác nhưng do mình nắm giữ. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm trực tiếp thực hiện việc cung cấp thông tin dựa trên cơ sở xem xét về mặt thực tế đó có phải là cơ quan có trách nhiệm nắm giữ, lưu giữ hay có thể có được thông tin hay không.

Riêng đối với Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường, sau khi hết thời gian áp dụng thí điểm theo quy định của Nghị quyết của Quốc hội số 26/2008/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường và Nghị quyết số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, nếu Quốc hội quyết định bỏ mô hình tổ chức này thì các quy định liên quan của Luật tiếp cận thông tin về Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận, phường phải được sửa đổi theo cho phù hợp và thống nhất.

Như vậy, mặc dù thông tin phải được cung cấp là thông tin do tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước tạo ra hoặc nhận được có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính thức của cơ quan, nhưng trách nhiệm trực tiếp cung cấp thông tin chỉ do một số cơ quan thực hiện. Dự thảo Luật quy định tại khoản 3 Điều 4 nguyên tắc sau đây:

– Đối với những thông tin do chính hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình tạo ra thì cơ quan nhà nước phải chủ động công khai rộng rãi và cung cấp thông tin;

– Đối với thông tin mà cơ quan nhận được từ nguồn khác hoặc từ quá trình phối hợp hoạt động của mình, thì cơ quan nhà nước phải hướng dẫn người yêu cầu đến chính cơ quan tạo ra thông tin để họ yêu cầu cung cấp thông tin;

– Khi công khai thông tin hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu, cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải xử lý, loại bỏ các thông tin thuộc loại bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư khỏi “gói thông tin” sẽ được công khai hoặc cung cấp để bảo đảm lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp, của công dân.

– Về Điều 5: Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân, tạo tiền đề cho việc hưởng các quyền và lợi ích khác, vì vậy, Dự thảo Luật đưa ra nguyên tắc là mọi công dân, tổ chức đều bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin (khoản 1).

Để bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của công dân, dự thảo Luật cũng quy định một nguyên tắc, đó là, thông tin, khi được cung cấp phải đảm bảo sự chính xác, đầy đủ. Cơ quan nhà nước, khi cung cấp thông tin phải công khai, minh bạch và kịp thời (khoản 2).

Việc tiếp cận thông tin trên thực tế luôn được thực hiện qua hành vi của hai chủ thể: người yêu cầu cung cấp thông tin và cán bộ, công chức cung cấp thông tin. Một trong những nguyên tắc của việc cung cấp thông tin là phải trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hai đối tượng nêu trên: công dân, tổ chức tiếp cận thông tin và cán bộ, công chức cung cấp thông tin (khoản 3).

Mặc dù quyền tiếp cận thông tin được coi là một trong những quyền cơ bản của con người, nhưng đây không phải là một quyền vô hạn của một cá nhân mà quyền này có thể bị giới hạn nhằm tôn trọng quyền và lợi ích của cá nhân khác, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công hay bảo vệ quyền được giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, Luật tiếp cận thông tin phải giải quyết được hài hoà mối quan hệ giữa quyền được thông tin của cá nhân công dân với tư cách là một quyền hiến định với quyền của nhà nước được giữ bí mật đối với những thông tin thuộc loại bí mật quốc gia, với quyền của doanh nghiệp được giữ bí mật kinh doanh của mình, với quyền của cá nhân khác được giữ bí mật về cuộc sống riêng tư. Trên cơ sở cách tiếp cận đó mà Dự thảo Luật quy định việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức phải không được làm phương hại đến lợi ích cộng đồng, bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh (khoản 4).

Quyền được thông tin là một quyền được quy định trong Hiến pháp, nhưng về mặt kỹ thuật, giới hạn được tiếp cận thông tin của công dân và cách thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin phụ thuộc một phần vào điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ của từng quốc gia. Vì vậy, Dự thảo Luật quy định một nguyên tắc “mở” đó là, Nhà nước tạo điều kiện cho công dân, tổ chức tiếp cận thông tin phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, kỹ thuật của đất nước; khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (khoản 5). Trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho người dân thì sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đóng vai trò rất quan trọng, chẳng hạn như việc đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử để người dân được tự do tiếp cận hoặc sử dụng công nghệ thông tin trong giao dịch giữa người dân với cơ quan nắm giữ thông tin nhằm tiết kiệm thời gian cũng như đơn giản hóa thủ tục. Chính vì vậy, Dự thảo Luật khuyến khích việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân.

– Về Điều 6: Phương thức cung cấp thông tin

Dự thảo Luật quy định hai phương thức cung cấp thông tin là công khai rộng rãi thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu, trong đó, công khai rộng rãi thông tin là phương thức mà cơ quan nhà nước phải chủ động, còn việc cung cấp thông tin theo yêu cầu thì sự chủ động thuộc về người yêu cầu cung cấp thông tin.

– Về Điều 7: Các hành vi bị nghiêm cấm

Trong việc tiếp cận thông tin luôn có hành vi của hai chủ thể là cán bộ, công chức làm nhiệm vụ trực tiếp cung cấp thông tin và người yêu cầu cung cấp thông tin (bao gồm cả cá nhân, tổ chức). Để phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của hai chủ thể nói trên, Dự thảo Luật quy định một số hành vi bị cấm đối với cán bộ, công chức làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, đó là, cung cấp thông tin sai lệch; cố tình trì hoãn, cản trở việc tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh trái với quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật cũng quy định một số hành vi bị cấm đối với người yêu cầu cung cấp thông tin, đó là, sử dụng thông tin để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bạo lực, chiến tranh, phá hoại thuần phong mỹ tục; sử dụng thông tin để xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân; xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Ngoài ra, khoản 3 Điều 7 còn quy định về hành vi bị cấm dành cho cả hai đối tượng nêu trên và những đối tượng khác có liên quan, đó là, đe doạ, trả thù, trù dập người yêu cầu và người cung cấp thông tin.

– Về Điều 8: Mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin với các luật khác có liên quan

Nhằm khắc phục tình trạng hiện nay, mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật có quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin nhưng lại chưa có quy định, quy định chưa rõ hoặc quy định chưa phù hợp về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin, dẫn đến thực tế thông tin được công khai nhưng người dân vẫn khó tiếp cận, Dự thảo Luật xác định rõ mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và các luật khác có liên quan, theo đó Luật này áp dụng chung cho việc tiếp cận thông tin. Trong trường hợp luật khác có quy định rộng hơn về phạm vi thông tin được tiếp cận, quy định thuận lợi hơn về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin thì áp dụng quy định của luật đó. Trong trường hợp luật khác quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin cho công dân, tổ chức nhưng không quy định trình tự, thủ tục thì áp dụng quy định của Luật này.

II. Về Chương II – Thông tin được công khai rộng rãi (từ Điều 9 đến Điều 13)

Chương II quy định về Thông tin phải được công khai rộng rãi (Điều 9), hình thức công khai rộng rãi thông tin (Điều 10), thông tin công khai trên trang thông tin điện tử (Điều 11), thông tin công khai trên phương tiện thông tin đại chúng (Điều 12) và công khai rộng rãi thông tin vì lợi ích cộng đồng).

– Về Điều 9: thông tin phải được công khai rộng rãi

Khoản 1 Điều 9 quy định rõ các loại thông tin phải được công khai như: văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; các văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, sơ đồ tổ chức của cơ quan và đơn vị trực thuộc; thủ tục hành chính và quy trình giải quyết công việc của cơ quan; nội quy, quy chế do cơ quan ban hành; địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử của cơ quan nắm giữ thông tin để liên hệ yêu cầu cung cấp thông tin; chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan; báo cáo tài chính năm; kết luận của tổ chức kiểm toán; thông tin về phân bổ, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước; thông tin về phân bổ vốn đầu tư, dự toán ngân sách, quyết toán vốn đầu tư hàng năm và khi hoàn thành của dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước; thông tin về quản lý, sử dụng các khoản cứu trợ, trợ cấp xã hội; quản lý, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân, các loại quỹ; quy hoạch, kế hoạch sử dụng, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng; thông tin về sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ có tác động tiêu cực đến sức khoẻ, môi trường; kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát việc bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn thực phẩm, an toàn lao động…

Về cơ bản, các thông tin phải được công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 10 được xây dựng trên cơ sở rà soát, tập hợp các quy định pháp luật hiện hành về công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước như Luật ngân sách nhà nước, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán Nhà nước, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật phòng, chống tham nhũng và các luật, pháp lệnh khác.

Để tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước phải chủ động công khai rộng rãi một số loại thông tin nhất định. Việc công khai thông tin một cách chủ động và tích cực sẽ làm giảm gánh nặng hành chính của việc trả lời những câu hỏi và yêu cầu thông thường bởi các tài liệu được công khai rộng rãi càng nhiều thì số lượng các yêu cầu tiếp cận thông tin sẽ càng giảm đi. Do đó, khoản 2 Điều 9 Dự thảo Luật khuyến khích các cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin công khai rộng rãi các thông tin do mình nắm giữ, trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh.

– Về Điều 10: hình thức công khai rộng rãi thông tin

Khoản 1 Điều 10 quy định các hình thức mà cơ quan nắm giữ thông tin có thể chủ động công khai rộng rãi thông tin như: đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đăng Công báo, đăng tải trên ấn phẩm chính thức của cơ quan, niêm yết tại trụ sở cơ quan, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Cơ quan nắm giữ thông tin cũng có thể công khai thông tin dưới các hình thức khác do cơ quan xác định. Tuy nhiên, nếu pháp luật đã có quy định cụ thể về hình thức công khai rộng rãi đối với một số thông tin nhất định, thì phải áp dụng hình thức công khai theo các quy định pháp luật đó.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân trong việc tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật đã quy định các cơ quan cần căn cứ vào điều kiện thực tế để lựa chọn hình thức công khai thông tin phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức (khoản 2 Điều 10).

– Về Điều 11: thông tin công khai trên trang thông tin điện tử

Việc đăng tải thông tin công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan được coi là một trong những hình thức hữu hiệu để đăng tải thông tin nhanh nhất, ít tốn kém nhất và hiệu quả nhất, do đó, Dự thảo Luật cũng quy định các cơ quan nhà nước phải công khai các loại thông tin nhất định trên trang thông tin điện tử của cơ quan nắm giữ thông tin (khoản 1 Điều 11).

Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm các thông tin được công khai không được lạc hậu, thiếu chính xác hoặc gây nhầm lẫn, do đó, Dự thảo Luật cũng quy định trách nhiệm của các cơ quan phải đăng tải đầy đủ, cập nhật kịp thời thông tin và thuận lợi cho việc truy cập trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình (khoản 2 Điều 11)

Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng khuyến khích các cơ quan đăng tải trên trang thông tin điện tử các thông tin khác ngoài thông tin bắt buộc phải đăng tải theo quy định của Luật (khoản 3 Điều 10).

– Về Điều 12: thông tin công khai trên phương tiện thông tin đại chúng

Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử là hình thức công khai thông tin nhanh, rẻ và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, không phải người dân nào ở bất cứ đâu cũng có thể sử dụng hình thức này để tiếp cận thông tin. Ở các vùng nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh nơi cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thiếu, trình độ dân trí chưa cao, việc công khai trên trang thông tin điện tử chưa phải là một biện pháp hữu hiệu để người dân có thể tiếp cận thông tin. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng khu vực, bảo đảm quyền bình đẳng của người dân trong việc tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm chủ động phối hợp và tạo điều kiện để cơ quan thông tin đại chúng công khai rộng rãi thông tin quy định tại Điều 9 của Luật này. Về phía mình, cơ quan thông tin đại chúng khi nhận được thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ thông tin cung cấp, thì có trách nhiệm đăng tải kịp thời, chính xác, đầy đủ thông tin của cơ quan đó và thông tin phản hồi của công dân, tổ chức.

– Về Điều 13: công khai rộng rãi thông tin vì lợi ích cộng đồng

Nhằm bảo đảm lợi ích cộng đồng thông qua việc tạo điều kiện cho mọi người đều có khả năng tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định việc công khai rộng rãi thông tin vì lợi ích cộng đồng (Điều 13). Theo đó, đối với các thông tin không thuộc trường hợp phải công khai rộng rãi theo quy định tại Dự thảo Luật, trong trường hợp việc công khai rộng rãi thông tin là cần thiết nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin có trách nhiệm công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức hoặc thông qua các hình thức khác như đăng tải trên ấn phẩm chính thức của cơ quan, tổ chức; niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng…; kịp thời cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí, hệ thống truyền thanh cơ sở để công khai rộng rãi thông tin.

Cơ quan báo chí, hệ thống truyền thanh cơ sở có trách nhiệm kịp thời công khai các thông tin nhằm mục đích bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường vì lợi ích cộng đồng.

III. Về Chương III: Thông tin được cung cấp theo yêu cầu (từ Điều 14 đến Điều 25)

– Về Điều 14: Thông tin được cung cấp theo yêu cầu

Khoản 1 Điều 14 Dự thảo Luật quy định các loại thông tin được cung cấp theo yêu cầu, đó là, các thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra mà không thuộc loại thông tin phải công khai rộng rãi (điểm a khoản 1); như vậy, trừ những thông tin đang được công khai rộng rãi, thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, thông tin thuộc hồ sơ, tài liệu đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; khi cơ quan, tổ chức yêu cầu được tiếp cận thì cơ quan nắm giữ thông tin phải có trách nhiệm đáp ứng cho người yêu cầu.

Quy định như vậy, bởi lẽ đối với những thông tin thuộc loại phải công khai rộng rãi thì cơ quan nắm giữ thông tin đã công khai rộng rãi bằng nhiều hình thức khác nhau, cả trên trang thông tin điện tử và trên các phương tiện thông tin đại chúng, cho nên, nếu muốn tiếp cận, thì người có nhu cầu tiếp cận hoàn toàn có thể dễ dàng tìm kiếm được. Trong các trường hợp như vậy, cơ quan nắm giữ thông tin không buộc phải cung cấp cho người yêu cầu mà chỉ cần hướng dẫn họ các địa chỉ để có thể tiếp cận.

Đối với những thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, các thông tin không thuộc hồ sơ, tài liệu đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà chưa được công khai rộng rãi thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải cung cấp theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

Đối với những thông tin tuy thuộc trường hợp phải công khai rộng rãi, nhưng chưa được công khai rộng rãi hoặc đã hết thời hạn công khai, nếu muốn tiếp cận những thông tin này thì người có nhu cầu tiếp cận không biết phải tìm ở đâu, nên để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân thì cần quy định trong các trường hợp như vậy cơ quan nắm giữ phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cá nhân, tổ chức yêu cầu (điểm b khoản 1).

Các loại thông tin tuy thuộc loại bí mật nhà nước nhưng sau một thời gian nhất định đã được giải mật cũng có thể là một trong những loại thông tin được cung cấp theo yêu cầu (điểm c khoản 1).

Người yêu cầu còn có thể đề nghị cung cấp những thông tin về tình hình giải quyết công việc của mình sau khi đã hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật (điểm d khoản 1).

Để tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thông tin về việc tiếp thu, giải trình ý kiến của công dân, tổ chức cũng là một loại thông tin có thể được cung cấp theo yêu cầu (điểm đ khoản 1).

– Về khoản 2 Điều 14: Về nguyên tắc chung, thông tin đã được công khai rộng rãi thì người dân không có quyền yêu cầu cung cấp theo phương thức “theo yêu cầu”. Tuy nhiên, do điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ dân trí của các vùng trên cả nước không đồng đều, nên nếu thực hiện theo nguyên tắc chung nói trên sẽ không bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân ở những địa phương nói trên. Hiện nay, người dân ở địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo không có điều kiện thuận lợi trong việc truy cập internet, tiếp cận với những ấn phẩm chính thức của các cơ quan nhà nước cũng như các phương tiện thông tin đại chúng, mặc dù các thông tin đã được công khai rộng rãi nhưng người dân ở những nơi xa xôi, hẻo lánh vẫn khó tiếp cận. Để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những người dân nơi đây được tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định người yêu cầu thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, ngoài những thông tin được cung cấp theo yêu cầu như các đối tượng khác thì còn được yêu cầu cung cấp những thông tin đang được công khai rộng rãi. Quy định này được coi như một ngoại lệ của nguyên tắc tiếp cận thông tin theo yêu cầu.

– Về khoản 3 Điều 14: Người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam, các tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến họ hoặc lĩnh vực hoạt động của họ.

– Về Điều 15: Hình thức yêu cầu cung cấp thông tin

– Tại khoản 1 quy định người yêu cầu có thể yêu cầu cung cấp thông tin trực tiếp bằng lời nói hoặc bằng văn bản, cụ thể như sau:

+ “Yêu cầu bằng lời nói qua điện thoại hoặc trực tiếp đến trụ sở cơ quan để yêu cầu” (điểm a khoản 1).

Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đối với những thông tin đơn giản thì họ có thể chỉ cần đưa ra yêu cầu bằng lời nói để có được thông tin phản hồi ngay lập tức. Yêu cầu bằng lời nói có thể thực hiện qua điện thoại hoặc người dân cũng có thể trực tiếp đến trụ sở cơ quan nắm giữ thông tin để được giải đáp, cung cấp thông tin.

+ “Yêu cầu bằng văn bản qua mạng điện tử, đường bưu điện, fax hoặc cách thức khác” (điểm b khoản 1).

Việc yêu cầu cũng cấp thông tin bằng văn bản được thể hiện qua việc gửi văn bản yêu cầu đến cơ quan nắm giữ thông tin. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân trong việc yêu cầu tiếp cận thông tin, theo quy định của Dự thảo Luật, người dân không bị bắt buộc phải mang văn bản trực tiếp đến nộp cho cơ quan nhà nước mà có thể gửi qua mạng điện tử, đường bưu điện, fax hoặc bất kỳ một cách thức nào khác.

– Tại khoản 2 quy định văn bản yêu cầu cung cấp thông tin phải được thể hiện bằng tiếng Việt và phải có đầy đủ các nội dung chính sau đây: tên, địa chỉ của cá nhân yêu cầu hoặc đại diện của tổ chức yêu cầu; số fax, điện thoại, địa chỉ thư điện tử (nếu có); thông tin yêu cầu được cung cấp và hình thức cung cấp thông tin.

Theo đó, trong đơn yêu cầu cần nêu rõ tên, địa chỉ, trong trường hợp có số fax, điện thoại, địa chỉ thư điện tử thì cũng cần ghi rõ để liên hệ; nếu là tổ chức yêu cầu được cung cấp thông tin thì phải ghi rõ tên của người đại diện cho tổ chức đó.

Để có thể cung cấp thông tin theo yêu cầu của người yêu cầu thì cơ quan nắm giữ thông tin cần phải biết chính xác thông tin mà người yêu cầu muốn được tiếp cận là thông tin nào. Do đó, trong văn bản yêu cầu được tiếp cận thông tin phải nêu, mô tả rõ nội dung thông tin mà người yêu cầu muốn tiếp cận. Việc mô tả càng rõ thì quá trình tìm kiến thông tin càng nhanh và do đó, thời gian cung cấp thông tin có thể được rút ngắn lại. Ngược lại, nếu không nêu, mô tả rõ được nội dung thông tin cần được tiếp cận thì cơ quan nắm giữ thông tin không thể xác định và thực hiện được việc cung cấp thông tin.

Về việc nêu rõ hình thức cung cấp thông tin trong văn bản yêu cầu (điểm c khoản 2): theo quy định của Dự thảo Luật, trong văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, người yêu cầu phải nêu rõ hình thức cung cấp thông tin mà mình lựa chọn theo một trong số các hình thức quy định tại Điều 16 của Dự thảo Luật.

– Về Điều 16: Hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu

– Tại khoản 1 Điều này quy định việc cung cấp thông tin theo yêu cầu được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:

+ “Trả lời trực tiếp bằng lời nói qua điện thoại hoặc trả lời trực tiếp tại trụ sở cơ quan” (điểm a khoản 1). Đối với những yêu cầu tiếp cận thông tin đơn giản và người có nhu cầu chỉ cần biết được nội dung thông tin thì khi người yêu cầu hỏi qua điện thoại hoặc trực tiếp đến trụ sở cơ quan yêu cầu thì cơ quan nắm giữ thông tin cũng có thể trả lời trực tiếp qua điện thoại hoặc mời đến trụ sở cơ quan trao đổi trực tiếp. Quy định như vậy nhằm bảo đảm việc cung cấp thông tin được nhanh chóng, kịp thời cho người dân.

+ “Người yêu cầu được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn nội dung của hồ sơ, tài liệu” (điểm b khoản 1): Quy định này nhằm bảo đảm cho người có nhu cầu được phép tiếp cận hồ sơ, tài liệu. Tuy nhiên, quy định như vậy, không có nghĩa là đối với mọi trường hợp người yêu cầu có thể được tiếp cận hồ sơ, tài liệu bằng tất cả hình thức đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn mà tùy từng trường hợp cụ thể, có thể chỉ được đọc, xem, nghe mà không được sao chụp (ví dụ như nếu việc sao chép, chụp vi phạm pháp luật về bản quyền, việc chụp tài liệu gây hỏng tài liệu…).

+ “Cung cấp thông tin qua mạng điện tử” (điểm c khoản 1): Việc cung cấp thông tin qua mạng điện tử với hình thức thông qua thư điện tử nhằm bảo đảm việc chuyển thông tin từ người cung cấp đến người yêu cầu được nhanh chóng, thuận tiện. Theo đó, văn bản cung cấp thông tin của cơ quan nắm giữ thông tin được chuyển thành dữ liệu điện tử và được gửi cho người yêu cầu thông qua mạng Internet.

+ “Cung cấp bản sao chép, bản chụp hồ sơ, tài liệu” (điểm d khoản 1): Đối với một số loại hồ sơ, tài liệu, cơ quan nhận được yêu cầu có thể cung cấp bản sao chép, bản chụp hồ sơ, tài liệu.

+ Ngoài ra Dự thảo Luật còn quy định việc cung cấp thông tin theo yêu cầu có thể được thực hiện bằng các hình thức khác (điểm đ khoản 1). Quy định như vậy, bởi lẽ trong thực tiễn đời sống xã hội có thể phát sinh thêm nhiều hình thức tiếp cận thông tin khác phù hợp với nhu cầu của người muốn tiếp cận thông tin cũng như sự phát triển của các phương thức trung gian trong giao tiếp.

– Tại khoản 2 quy định “Cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị trong điều kiện cho phép, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Về nguyên tắc, cơ quan tiếp nhận yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin cho người yêu cầu được tiếp cận thông tin theo hình thức mà họ đề nghị; chỉ trong trường hợp không có khả năng cung cấp bằng hình thức đó, hoặc là pháp luật quy định phải cung cấp theo một hình thức khác thì cơ quan nắm giữ thông tin mới có thể từ chối việc cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị. Trong trường hợp như vậy, cơ quan nắm giữ thông tin phải lựa chọn một hình thức cung cấp thông tin thích hợp để cung cấp cho người yêu cầu.

– Về Điều 17: Cung cấp thông tin trực tiếp bằng lời nói

Cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin, trong đó có thể là các thông tin đơn giản có thể trả lời ngay được, có thể là các thông tin phức tạp đòi hỏi phải có sự tìm kiếm, xử lý nhất định mới cung cấp được. Vì vậy, để bảo đảm cung cấp thông tin một cách kịp thời, Dự thảo Luật quy định rõ đối với yêu cầu cung cấp các thông tin có thể trả lời trực tiếp bằng lời nói thì cơ quan được yêu cầu trả lời trực tiếp bằng lời nói, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị cung cấp thông tin bằng hình thức khác.

– Về Điều 18: Người yêu cầu trực tiếp đọc, xem, nghe, ghi chép, chụp, sao chép, trích dẫn nội dung tài liệu, hồ sơ

Tại Điều 18 quy định trường hợp người yêu cầu đề nghị được đọc, xem, nghe, ghi chép, chụp, sao chép, trích dẫn tài liệu, hồ sơ tại chỗ thì cơ quan có trách nhiệm dành đủ thời gian và tạo điều kiện thuận lợi để người yêu cầu thực hiện việc tiếp cận thông tin trong giờ hành chính. Quy định như vậy nhằm buộc các cơ quan nhà nước bên cạnh việc phải bố trí cán bộ làm công tác cung cấp thông tin còn phải bố trí địa điểm, thời gian, trụ sở cho người dân tiếp cận thông tin.

– Về Điều 19: Cung cấp thông tin qua mạng điện tử

Việc cung cấp thông tin qua mạng điện tử là phương thức đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả nhất đáp ứng yêu cầu của cá nhân, tổ chức có yêu cầu cung cấp thông tin. Tuy nhiên việc sử dụng phương thức này phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là cơ sở vật chất của cả cơ quan cung cấp thông tin cũng như khả năng tiếp cận thông tin của bên có nhu cầu tiếp cận thông tin. Vì vậy, Dự thảo Luật quy định rõ trong trường hợp người yêu cầu đề nghị cung cấp thông tin qua mạng điện tử thì cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu này của họ. Tuy nhiên, việc này chỉ được thực hiện khi thông tin được yêu cầu là thông tin thuộc tập tin có sẵn có thể truyền tải qua mạng điện tử được và cơ quan cung cấp thông tin phải có đủ điều kiện về phương tiện kỹ thuật (khoản 1 Điều 19).

Tại khoản 2 Điều 19 quy định các cách thức cụ thể cung cấp thông tin qua mạng điện tử bao gồm: việc gửi tập tin đính kèm thư điện tử; cung cấp mã truy cập một lần và giới hạn trong phạm vi thông tin được yêu cầu; chỉ dẫn địa chỉ truy cập để tải thông tin; trả lời qua mạng điện tử và các các hình thức thích hợp khác.

– Về Điều 20: Cung cấp bản sao chép, bản chụp hồ sơ, tài liệu

Trường hợp người yêu cầu đề nghị cung cấp bản sao chép, bản chụp tài liệu, hồ sơ thì cơ quan nắm giữ thông tin có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu này nếu tài liệu, hồ sơ đó không chứa thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh (khoản 1 Điều 20).

Tuy nhiên, thực tế có trường hợp tuy hồ sơ, tài liệu được yêu cầu có chứa thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh hoặc thông tin đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, nhưng trong đó cũng có những nội dung không cần phải hạn chế tiếp cận, có thể tiết lộ thì cơ quan nắm giữ có trách nhiệm cung cấp phần nội dung đó.

Về Điều 21: Tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin

Tại khoản 1 quy định cơ quan tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin phải vào sổ theo dõi của mình. Quy định như vậy nhằm bảo đảm để cơ quan nắm giữ thông tin có thể theo dõi, đánh giá công tác cung cấp thông tin của cơ quan mình, tăng cường hơn trách nhiệm cung cấp thông tin cho người dân, đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện công tác thống kê hoặc giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc cung cấp thông tin (nếu có).

– Tại khoản 2 quy định trong trường hợp nhận được yêu cầu bằng lời nói, người tiếp nhận yêu cầu có trách nhiệm ghi lại đầy đủ nội dung yêu cầu cung cấp thông tin, bao gồm: tên, địa chỉ của cá nhân yêu cầu hoặc đại diện của tổ chức yêu cầu; số fax, điện thoại, địa chỉ thư điện tử (nếu có); thông tin yêu cầu được cung cấp và hình thức cung cấp thông tin.

– Khoản 3 Điều này quy định trong trường hợp văn bản yêu cầu chưa nêu đầy đủ các nội dung theo quy định của Luật, thì trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn bằng các hình thức thích hợp để người yêu cầu hoàn thiện văn bản nói trên. Trong trường hợp này thời gian thụ lý văn bản được tính từ ngày văn bản được hoàn thiện. Nếu người yêu cầu không hoàn thiện văn bản, thì văn bản yêu cầu đó bị coi là không hợp lệ và cơ quan nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin không có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người dân không được quyền tiếp cận thông tin đó nữa, mà nếu muốn, thì họ phải nộp văn bản yêu cầu lại từ đầu.

– Về Điều 22: Giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin

Tại khoản 1 Điều 22 quy định đối với yêu cầu cung cấp thông tin đơn giản, có sẵn và có thể cung cấp ngay, thì cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời cho người yêu cầu chậm nhất là trong thời hạn không quá 3 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ.

Tại khoản 2 Điều này quy định, đối với yêu cầu cung cấp thông tin phức tạp, cần có thời gian để chuẩn bị, cơ quan được yêu cầu giải quyết theo trình tự sau đây:

+ Chậm nhất là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ, cơ quan được yêu cầu thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu việc chấp nhận cung cấp thông tin, trong đó nêu rõ mức độ đáp ứng thông tin; thời gian, địa điểm, hình thức cung cấp thông tin; chi phí cung cấp thông tin, nếu có (điểm a khoản 2).

Về quy định “Mức độ đáp ứng thông tin được yêu cầu”: việc đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin có thể là toàn bộ so với yêu cầu, nhưng cũng có thể chỉ là một phần của yêu cầu đó. Việc này cần phải thông báo rõ cho người yêu cầu được biết.

Về quy định “Thời gian, địa điểm, hình thức cung cấp thông tin”: trong một số trường hợp việc cung cấp thông tin không thể gửi qua phương tiện điện tử, bưu điện mà chỉ có thể được thực hiện tại địa điểm nhất định (chẳng hạn như trụ sở cơ quan, thư viện …) thì cơ quan nắm giữ thông tin phải thông báo cho người yêu cầu biết cụ thể về địa điểm và thời gian để đến tiếp cận. Bên cạnh đó, việc tiếp cận thông tin theo hình thức nào là rất quan trọng, cho nên trong thông báo gửi người yêu cầu còn phải nêu rõ việc có chấp nhận hình thức cung cấp thông tin mà người yêu cầu đã đề nghị hay không, nếu không chấp nhận và thực hiện việc cung cấp thông tin theo hình thức khác thì cũng phải nêu rõ để người yêu cầu biết.

Về quy định phải thông báo cho người yêu cầu “Chi phí cung cấp thông tin (nếu có)”: đối với những thông tin pháp luật quy định người yêu cầu muốn được cung cấp phải nộp phí thì trong thông báo gửi người yêu cầu cũng phải nêu rõ mức phí, địa điểm nộp phí để người yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của mình.

Trong trường hợp cơ quan được yêu cầu cần thêm thời gian để xem xét, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này, thời gian được gia hạn thêm tối đa là 15 (mười lăm) ngày.

+ Cơ quan phải cung cấp thông tin trong thời hạn chậm nhất là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày thông báo chấp nhận cung cấp thông tin trong trường hợp miễn phí hoặc kể từ ngày thanh toán đủ chi phí trong trường hợp phải trả chi phí.

Trong trường hợp thông tin được yêu cầu với số lượng lớn hoặc cần thêm thời gian tìm kiếm, tập hợp, sao chép, xử lý thông tin thì cơ quan được yêu cầu có thể gia hạn thêm tối đa là 15 ngày (điểm b khoản 2).

– Tại khoản 2 quy định rõ các nội dung cần phải thể hiện trong thông báo về việc chấp thuận yêu cầu cung cấp thông tin gửi tới người yêu cầu. Cụ thể phải có các nội dung sau: mức độ đáp ứng thông tin; thời gian, địa điểm, hình thức cung cấp thông tin; chi phí cung cấp thông tin (nếu có).

– Về Điều 23: Chi phí cung cấp thông tin

Để tạo thuận lợi tối đa cho việc tiếp cận thông tin của người dân, Dự thảo Luật quy định người yêu cầu cung cấp thông tin chỉ phải trả chi phí in ấn, sao chụp hồ sơ, tài liệu; chi phí tìm kiếm, xử lý thông tin; chi phí gửi hồ sơ, tài liệu qua đường bưu điện. Quy định này thể hiện quan điểm của Nhà nước là khuyến khích việc tiếp cận mở đối với thông tin, bảo đảm rằng vấn đề chi phí không thể trở thành một lực cản trong việc tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức.

Ngoài ra, thực hiện chính sách hỗ trợ đối với một số đối tượng trong xã hội, Dự thảo Luật còn quy định người yêu cầu cung cấp thông tin thuộc đối tượng là người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thì được miễn chi phí tiếp cận thông tin.

Về mức chi phí cụ thể, việc quản lý và sử dụng chi phí cung cấp thông tin, Dự thảo Luật ủy quyền cho Chính phủ quy định cụ thể.

– Về Điều 24: Căn cứ từ chối yêu cầu cung cấp thông tin

Về nguyên tắc, Nhà nước bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, nhưng quyền này cũng là một quyền có giới hạn. Trong hầu hết các luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đều có những quy định về hạn chế tiếp cận các thông tin, tài liệu mật liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, thông tin cá nhân… và coi những thông tin này thuộc trường hợp ngoại lệ – không thuộc diện thông tin phải công khai, phải cung cấp theo yêu cầu trừ những trường hợp cụ thể muốn tiếp cận phải có những điều kiện nhất định và điều kiện đó cũng phải được pháp luật quy định cụ thể

Điều này quy định rõ cơ sở pháp lý để cơ quan xem xét, từ chối cung cấp thông tin. Khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin, cơ quan được yêu cầu cần xem xét, đối chiếu thông tin được yêu cầu có thuộc một trong các trường hợp quy định tại điều này không để quyết định việc từ chối không cung cấp. Khoản 1 Điều 24 quy định một số trường hợp theo đó cơ quan được yêu cầu được quyền từ chối cung cấp thông tin, đó là:

+ Khi người yêu cầu đề nghị cung cấp các thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin thuộc bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, thông tin đã được chuyển sang cơ quan lưu trữ; thông tin trong quá trình thanh tra, kiểm toán thực hiện theo pháp luật về thanh tra, kiểm toán; thông tin liên quan đến vụ việc đang trong quá trình xử lý của cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo pháp luật về tố tụng (điểm a khoản 1);

+ Thông tin bí mật nhận được từ các cơ quan, tổ chức nước ngoài (điểm b);

+ Thông tin mà việc cung cấp vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ (điểm c);

+ Thông tin đã được cung cấp hai lần cho chính người yêu cầu; thông tin được yêu cầu với số lượng quá lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của cơ quan, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước (điểm d);

Nếu thông tin yêu cầu cung cấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bắt buộc cơ quan được yêu cầu phải từ chối cung cấp mà không cần phải có bất kỳ sự cân nhắc, lựa chọn nào.

+ Thông tin đang được đăng trên trang thông tin điện tử của cơ quan được yêu cầu (điểm đ). Tuy nhiên, nếu người yêu cầu thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo thì việc thông tin đã được đăng trên trang thông tin điện tử của cơ quan không phải là cơ sở để từ chối cung cấp thông tin cho họ. Đây là một ngoại lệ của nguyên tắc chung đã được quy định tại khoản 2 Điều 14 để nhằm bảo đảm cho công dân các khu vực nêu trên có thể có cơ hội tiếp cận thông tin thuận lợi hơn.

Trong trường hợp từ chối cung cấp thông tin vì lý do thông tin đang được đăng trên trang thông tin điện tử của cơ quan, thì cơ quan cung cấp thông tin phải có trách nhiệm hướng dẫn người yêu cầu về địa chỉ, nguồn có thể tiếp cận thông tin.

+ Cơ quan không có thông tin theo yêu cầu (điểm e).

Bên cạnh quy định tại khoản 1 Điều 24 về các trường hợp mà cơ quan được yêu cầu có quyền từ chối cung cấp thông tin, khoản 2 Điều 24 quy định các trường hợp mà cơ quan đó có thể xem xét từ chối cung cấp thông tin, đó là các trường hợp:

+ Thông tin được yêu cầu thuộc loại thông tin mà việc cung cấp sẽ ảnh hưởng xấu đến chính sách tài chính, tiền tệ và lợi ích kinh tế quốc gia, an ninh quốc gia, mối quan hệ với các quốc gia khác hoặc tổ chức quốc tế (điểm a).

+ Thông tin mà việc cung cấp có thể gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ hoặc sự an toàn của cá nhân hoặc cộng đồng; ảnh hưởng tiêu cực tới trật tự an toàn xã hội, việc phòng, chống tội phạm (điểm b).

+ Thông tin về các cuộc họp nội bộ của cơ quan; các tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ (điểm c).

Một điểm cần lưu ý là khi xem xét yêu cầu cung cấp đối với các loại thông tin nói trên, cơ quan được yêu cầu phải thực hiện việc phân tích, đánh giá và cơ quan đó chỉ được từ chối nếu việc phân tích, đánh giá cho thấy việc từ chối cung cấp thông tin là cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng.

– Về Điều 25: Thông báo từ chối yêu cầu cung cấp thông tin

Dự thảo Luật quy định, khi từ chối cung cấp thông tin, người đứng đầu cơ quan được yêu cầu hoặc người được uỷ quyền phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu về việc từ chối cung cấp thông tin và nêu rõ lý do trong khoảng thời gian chậm nhất là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 và chậm nhất là 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này.

Quy định về việc phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu khi từ chối cung cấp thông tin là nhằm để bảo vệ quyền của người yêu cầu cung cấp thông tin, vì trong trường hợp này, người yêu cầu có quyền khiếu nại để bảo vệ quyền lợi của mình. Để có cơ sở cho người yêu cầu khiếu nại thì việc từ chối đó phải được thể hiện bằng văn bản. Việc nêu rõ lý do từ chối là rất cần thiết để người yêu cầu cân nhắc việc có khiếu nại hay không; đồng thời cũng sẽ là cơ sở để xem xét giải quyết khiếu nại nếu như có khiếu nại của người yêu cầu.

IV. Về Chương IV: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (từ Điều 26 đến Điều 30)

– Về Điều 26: Trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin

Trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, việc bố trí đầu mối tiếp nhận yêu cầu, cung cấp và ra quyết định cung cấp thông tin có ý nghĩa quan trọng. Việc có thêm cán bộ phụ trách thông tin sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức, giảm thời gian và chi phí cho c ông d ân, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp trong việc yêu cầu tiếp cận thông tin, khiến cho các chủ thể đó có thể thực hiện một cách nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn, thuận tiện hơn quyền tiếp cận thông tin của mình để từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả, nhất là đối với việc tiếp cận kịp thời những thông tin có tính chất thương mại.

Thông lệ các nước đều có cán bộ, công chức phụ trách riêng về tiếp cận thông tin, mỗi cơ quan có thể có một số cán bộ hoặc tối thiểu phải bố trí một cán bộ. Dự thảo Luật không quy định cụ thể về cán bộ phụ trách về tiếp cận thông tin mà chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin phải bố trí cán bộ đảm bảo việc tiếp cận thông tin “bố trí cán bộ, công chức làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin”.

Việc có thêm cán bộ phụ trách thông tin sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu tiếp cận thông tin của cá nhân và doanh nghiệp. “Bố trí cán bộ “ở đây được hiểu là cơ quan nắm giữ thông tin phải có cán bộ làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin và cán bộ này phải là người thực hiện việc tiếp nhận yêu cầu của công dân, tổ chức, nhưng quy định này không có nghĩa là bắt buộc phải có thêm một biên chế để chỉ thực hiện tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin. Tùy từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo mức độ yêu cầu thông tin ở từng cơ quan mà bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm, một hoặc một bộ phận cán bộ đảm đương nhiệm vụ, tuy nhiên, cần có cán bộ phụ trách – cán bộ đầu mối tiếp nhận yêu cầu và cung cấp thông tin.

Quy định như vậy nhằm bảo đảm tính linh hoạt cho các cơ quan, đồng thời nhằm tận dụng nguồn nhân sự từ các Trung tâm thông tin, Trung tâm tin học tại các Bộ, ngành, từ các phòng thông tin và bộ phận văn phòng, cán bộ văn phòng của các cơ quan, tổ chức, nhất là đối với cấp xã.

Trong điều kiện thực hiện chính sách tinh giản biên chế còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cần tận dụng nguồn nhân sự sẵn có, đối với việc thực thi Luật, không nhất thiết cơ quan chỉ bố trí 1 cán bộ mà có thể nhiều hơn (sử dụng cán bộ, công chức kiêm nhiệm) mà không phải tăng biên chế cũng như tăng chi phí, ngân sách cho Nhà nước.

Bên cạnh quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc bố trí cán bộ, Dự thảo Luật cũng quy định một số trách nhiệm khác của cơ quan nắm giữ thông tin, đó là trách nhiệm thiết lập và vận hành trang thông tin điện tử, tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan và các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng, cập nhật và công khai danh mục thông tin được công khai rộng rãi, thông tin đã được giải mật, địa chỉ, hình thức công khai thông tin và gửi đến cơ quan quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; thống kê, lập và công khai danh mục thông tin đã cung cấp theo yêu cầu; củng cố, kiện toàn công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết khác bảo đảm cho việc bảo quản, duy trì, lưu giữ, cập nhật thông tin có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức tiếp cận thông tin và đáp ứng kịp thời yêu cầu cung cấp thông tin.

Dự thảo Luật cũng quy định tại khoản 2 trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin phải bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin do cơ quan mình nắm giữ, kịp thời xử lý cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi cản trở quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức.

Về các quy định cụ thể liên quan đến trách nhiệm của cơ quan nắm giữ thông tin và các biện pháp cần tiến hành để đưa quy định nói trên vào thực tiễn, Dự thảo Luật dành thẩm quyền cho Chính phủ hướng dẫn chi tiết.

– Về Điều 27: Khiếu nại, khiếu kiện

Trong quá trình thực thi quyền tiếp cận thông tin, có thể xảy ra trường hợp cơ quan nhà nước hoặc cán bộ cung cấp thông tin đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định của Luật tiếp cận thông tin gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, vì vậy, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu cung cấp thông tin, Luật tiếp cận thông tin của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định cơ chế xử lý việc khiếu nại, khiếu kiện, trong đó, cơ chế xử lý khiếu nại bằng một thiết chế độc lập, dễ tiếp cận và không quá tốn kém hiện đang là hướng đi mà nhiều quốc gia đang hướng tới.

Nhằm bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công dân, Dự thảo Luật quy định tại Điều 27 cơ chế cho phép cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện trong các trường hợp: khi bị từ chối cung cấp thông tin, khi cơ quan nhà nước cung cấp thông tin không đúng yêu cầu (thông tin được cung cấp chưa đầy đủ hoặc thông tin bị cung cấp chậm trễ), khi lý do gia hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin không hợp lý và khi người yêu cầu bị bắt buộc phải trả một khoản phí cung cấp thông tin trái quy định của pháp luật (khoản 1).

Dự thảo Luật chỉ quy định cơ sở của việc khiếu nại, khiếu kiện trong lĩnh vực tiếp cận thông tin, không quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, khiếu kiện. Quy trình khiếu nại, khiếu kiện và giải quyết khiếu nại, khiếu kiện được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành (khoản 2) theo nguyên tắc: việc khiếu nại đối với hành vi hành chính và quyết định hành chính của cán bộ, công chức trong lĩnh vực tiếp cận thông tin sẽ tuân theo quy định của pháp luật về khiếu nại hành chính hiện hành. Khi việc giải quyết khiếu nại tại cơ quan hành chính nhà nước không thỏa mãn yêu cầu của người khiếu nại, thì họ có quyền khởi kiện theo thủ tục khiếu kiện hành chính trước tòa án có thẩm quyền.

Trường hợp đơn khiếu nại, khiếu kiện gửi không đúng địa chỉ, thì cơ quan nhận được đơn có trách nhiệm thông báo cho người khiếu nại, khiếu kiện địa chỉ cần gửi đơn (khoản 3).

– Về Điều 28: Xử lý vi phạm

Điều 28 Dự thảo Luật quy định, người nào có hành vi hủy hoại, làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ, tài liệu với mục đích cản trở việc tiếp cận thông tin, không cung cấp thông tin, cố tình trì hoãn việc cung cấp thông tin thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

– Về Điều 29: Giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân được thực thi trong thực tiễn, cần có cơ chế theo dõi, giám sát việc thực thi Luật này. Trên cơ sở đó, Dự thảo Luật quy định cơ chế giám sát theo hai hướng: cơ chế giám sát có tính quyền lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ chế giám sát có tính xã hội của các thiết chế xã hội khác.

Về cơ chế giám sát có tính quyền lực của cơ quan nhà nước, Dự thảo Luật quy định, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền giám sát tối cao đối với việc thực thi Luật này; để thực hiện chức năng giám sát tối cao, hằng năm Quốc hội xem xét báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức trong phạm vi cả nước (khoản 1).

Ở cấp độ địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức ở địa phương; hằng năm xem xét báo cáo của Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong phạm vi địa phương (khoản 2).

Bên cạnh các thiết chế giám sát mang tính quyền lực và có tính chất chuyên trách như đã nói ở trên, khoản 3 Điều 29 Dự thảo Luật quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm giám sát xã hội việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Để các chủ thể giám sát có thể thực hiện được chức năng giám sát việc tuân thủ Luật Tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định tại khoản 4 nội dung báo cáo về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, theo đó, báo cáo phải nêu rõ về tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại cơ quan, số lượng yêu cầu cung cấp thông tin đã tiếp nhận, số lượng yêu cầu đã được giải quyết hoặc bị từ chối, số lượng các vụ khiếu nại; số lượng các vụ khiếu nại đã được giải quyết, những khó khăn, vướng mắc trong việc đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin và kiến nghị các biện pháp cần thiết góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức.

– Về Điều 30: Quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

+ Về nội dung quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin: Việc thực thi quyền tiếp cận thông tin trên thực tế phần lớn thuộc phạm vi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Bởi vậy, Dự thảo Luật quy định, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức (khoản 1 Điều 30). Điều này có nghĩa là, mặc dù chủ thể phải cung cấp thông tin không chỉ gồm các cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm các cơ quan thuộc hệ thống lập pháp và tư pháp, nhưng đầu mối thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là thuộc về Chính phủ. Các cơ quan thuộc hệ thống lập pháp và tư pháp phải chia sẻ và cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến quá trình thực thi Luật trong phạm vi hệ thống của mình để Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về tình hình bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong phạm vi cả nước.

Trên cơ sở đó, Dự thảo Luật quy định tại khoản 1 Điều 30 nội hàm của quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bao gồm các nội dung sau đây: ban hành theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; hướng dẫn cơ quan, tổ chức, công dân trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; xem xét, có ý kiến về danh mục thông tin được công khai rộng rãi của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; hằng năm báo cáo Quốc hội về tình hình bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.

+ Về cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin: để giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và nhất là có cơ chế theo dõi, đánh giá việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật dự kiến giao cho một cơ quan của Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này, cụ thể là các cơ quan sau: Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hoặc Bộ Thông tin và Truyền thông (khoản 2 Điều 30).

Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng quy định trách nhiệm của Bộ Công an giúp Chính phủ thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức. Trong trường hợp phát hiện việc đóng dấu mật không đúng với quy định của pháp luật thì kịp thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định (khoản 3 Điều 30).

Khoản 3 còn quy định trách nhiệm chung của các thủ trưởng cơ quan nhà nước phải bảo đảm các hồ sơ, tài liệu được đóng dấu mật phù hợp với pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Khoản 4 quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ kiểm tra, theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; hàng năm báo cáo Bộ Nội vụ/Bộ Tư pháp/Bộ Thông tin và Truyền thông.

Khoản 5 quy định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; hằng năm báo cáo Bộ Nội vụ/Bộ Tư pháp/Bộ Thông tin và Truyền thông về tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong phạm vi địa phương.

Khoản 6 quy định Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, phối hợp với Chính phủ trong việc thực hiện công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; hằng năm thông báo cho Bộ Nội vụ/Bộ Tư pháp/Bộ Thông tin và Truyền thông về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của ngành mình.

V. Về Chương V – Điều khoản thi hành (từ Điều 31 đến Điều 34)

– Về Điều 31: Việc cung cấp thông tin của tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước

Các thông tin mà người dân có nhu cầu tiếp cận còn có thể do các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công hoặc các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ. Luật tiếp cận thông tin cũng không loại trừ trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể loại này. Tuy nhiên, do những đặc thù nhất định của các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công và doanh nghiệp nhà nước, Luật không quy định cụ thể trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể loại này mà uỷ quyền cho Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của họ (Điều 31 Dự thảo Luật).

– Về Điều 32: Quy định chi tiết thi hành

Điều này quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; đồng thời, liệt kê các điều, khoản quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong việc quy định chi tiết thi hành Luật (gồm các khoản 3 Điều 10, khoản 3 Điều 23, khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 33 của Luật).

– Về Điều 33: Điều khoản chuyển tiếp

Nhằm tạo sự áp dụng thống nhất trong việc cung cấp thông tin, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định trách nhiệm Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức rà soát hoặc phối hợp tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về tiếp cận thông tin, lập danh mục những văn bản có quy định hẹp hơn so với Luật này trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức, đề xuất kế hoạch sửa đổi trước ngày Luật này có hiệu lực.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho công dân, tổ chức trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của mình, Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan từ cấp huyện trở lên (được liệt kê tại khoản 1 Điều 4 của Luật) có trách nhiệm thiết lập và vận hành trang thông tin điện tử; xây dựng, công khai danh mục những thông tin được công khai rộng rãi trước ngày Luật này có hiệu lực.

Riêng đối với việc công khai thông tin của cơ quan cấp xã, Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định về việc công khai thông tin của cơ quan cấp xã trên trang thông tin điện tử.

Về Điều 34: Hiệu lực thi hành

Dự thảo Luật xác định thời điểm có hiệu lực của Luật là kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2012. Việc dự kiến Luật tiếp cận thông tin có hiệu lực sau 2 năm được thông qua là nhằm bảo đảm thời gian cho việc chuẩn bị văn bản hướng dẫn, bảo đảm thời gian cho các cơ quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thi hành Luật, nhất là xây dựng các cơ sở vật chất, thiết lập các trang thông tin điện tử và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức nhằm thực thi tốt các quy định của Luật; bảo đảm thời gian để các cơ quan tập hợp, sắp xếp các tài liệu, hồ sơ một cách đầy đủ, toàn diện nhằm cung cấp thông tin kịp thời khi Luật có hiệu lực, bảo đảm tính khả thi của Luật. Việc quy định Luật có hiệu lực muộn sau khi ban hành cũng là kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như: Vương quốc Anh (5 năm), Na uy (3 năm), Nhật Bản (2 năm)…

Trên đây là nội dung thuyết minh chi tiết về các điều, khoản của Dự thảo Luật tiếp cận thông tin, Bộ Tư pháp kính trình Chính phủ ./.

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: