Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN: VẤN ĐỀ BỨC XÚC CỦA HẬU GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

NGUYỄN MINH PHONG – PHẠM THỊ MINH UYÊN

Trong những năm gần đây, đô thị hóa kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu đất cho phát triển các khu công nghiệp tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Từ năm 2001-2008, Hà Nội đã triển khai 2.818 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất, bình quân 1 năm Thành phố giải phóng mặt bằng gần 1000 ha, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp liên quan đến 178.205 hộ dân, trong 8 năm đã có khoảng 197.000 người bị mất việc do bị thu hồi đất, con số này tiếp tục tăng qua các năm.

Vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất canh tác đang ngày càng nóng bỏng, tác động sâu sắc đến sự phát triển bền vững của đất nước. Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã có những chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề và việc làm cho người nông dân, nhưng các chính sách đó vẫn còn một số mặt bất cập cần nghiên cứu và tháo gỡ.

Những bất cập về chính sách

Trong các chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất canh tác về đào tạo nghề và việc làm, có những vấn đề bất cập về chính sách nổi bật hiện nay là: Chi NSNN cho đào tạo nghề và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất canh tác trong giai đoạn từ 2001-8/2008 không ngừng tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế. Chi NSNN cho đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố tăng dần qua các năm, giai đoạn 2001-2005 tổng chi NSNN cho đào tạo nghề là 1608,8 tỷ đồng, từ 2006-2008 là 1167,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ trọng chi NSNN cho đào tạo nghề trong tổng chi NSNN cho lĩnh vực GD-ĐT lại có xu hướng giảm đi. Tổng chi NSNN cho những hoạt động trực tiếp đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành là 422,591 tỷ đồng. Trong cơ cấu chi NSNN đào tạo nghề trực tiếp cho nông thôn ngoại thành, chi đầu tư nâng cấp, củng cố, mở rộng cơ sở đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành và chi hoạt động cho các cơ sở đào tạo nghề chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 38-44%. Cơ cấu nguồn chi thường xuyên cho công tác đào tạo nghề các năm trên toàn thành phố, tỷ lệ đóng góp của người học là 85,8% và tỷ lệ đóng góp từ NSNN chiếm 87,7%.

Nguồn thu từ học phí là nguồn đóng góp quan trọng và ngày càng tăng trưởng. Tỷ lệ nguồn thu học phí của các trường Trung ương lớn hơn các trường địa phương. Với các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, hầu như không có sự hỗ trợ từ ngân sách, mà chủ yếu từ nguồn đóng góp của người học. Theo Sở lao động, Thương binh và Xã hội Hà Nội, tổng số đóng góp của người học là 257,897 tỷ đồng, trung bình mỗi năm đóng góp 37,613 tỷ đồng; đóng góp của người học nghề chuyển đổi nghề nghiệp do bị thu hồi đất canh tác đạt 49,96 tỷ đồng, bình quân mỗi năm đóng góp 6,245 tỷ đồng.

Đầu tư cho đào tạo nghề của nông thôn ngoại thành từ các nguồn tài chính như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức, cá nhân hay các tổ chức nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ nhất, tổng số đóng góp là 21,25 tỷ đồng, trung bình 2,775 tỷ đồng/năm.

Mặt khác, tỷ trọng chi NSNN cho đào tạo nghề toàn thành phố chỉ chiếm xấp xỉ 3% tổng chi ngân sách địa phương. Chi thường xuyên có tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi NSNN cho đào tạo nghề của thành phố, chiếm xấp xỉ 50%. Tuy nhiên, trong cơ cấu chi thường xuyên, chi lương và các khoản phụ cấp theo lương thường chiếm từ 50 đến 60% tổng chi thường xuyên. Với mức chi này, các cơ sở đào tạo nghề còn thiếu hụt nghiêm trọng về kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo. Trong khi đó, chi xây dựng cơ bản và chi chương trình mục tiêu chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng chi NSNN.

Trong tổng chi NSNN đào tạo nghề, chi NSNN cho đào tạo nghề đối với nông dân bị thu hồi đất canh tác trên địa bàn thành phố còn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. Tổng chi NSNN cho hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2001-2005 chỉ chiếm 17,593% tổng chi NSNN trực tiếp đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành Hà Nội. Sang giai đoạn 2006-T8/2008 tỷ lệ này còn 15,128%.

Mức hỗ trợ trực tiếp cho đào tạo nghề quá thấp và chưa đa dạng, khiến đào tạo nghề ngắn hạn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dạy nghề. Nhiều Nghị định, Quyết định về chính sách hỗ trợ chi phí đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động bị đã được ban hành. Theo Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn; tháng 1 năm 2006, thông tư liên tịch 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ban hành hướng dẫn chính sách hỗ trợ nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, mức hỗ trợ dạy nghề tính theo số lượng học viên thực tế tốt nghiệp khóa học, nhưng tối đa không quá 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1.500.000/người/khóa học. Ngoài ra, Quyết định số 99/2003/QĐ-UB ngày 21/8/2003 của UBND Thành phố cũng quy định các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn khi sử dụng đất nông nghiệp phải thu hút 10 lao động/1 ha đất canh tác bị thu hồi; Đặc biệt, ngày 22 tháng 12 năm 2008, ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ra Quyết định số 58/2008/QĐ-UBND về việc ban hành điều lệ quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, đào tạo nghề và việc làm cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp. Mức hỗ trợ không quá 6 triệu đồng/ thẻ học nghề/ khóa học dành cho việc chi trả học phí học nghề các cấp trình độ ở các cơ sở dạy nghề được Nhà nước cho phép hoặc các doanh nghiệp cam kết tuyển dụng lâu dài tự tổ chức đào tạo nghề cho người được tuyển dụng. Thời gian học nghề được hỗ trợ là thời gian thực tế học nghề, nhưng không quá thời hạn thẻ học nghề là 5 năm. Phương thức hỗ trợ là thanh toán 1 lần vào cuối khóa học hoặc chi trả 1 lần cho doanh nghiệp cam kết đào tạo và tuyển dụng lao động lâu dài. Với mức hỗ trợ này, người dân khó có thể theo học thành thạo một nghề và đảm bảo có thể chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống với nghề mới. Hiện vẫn chưa có chính sách tài chính nào hỗ trợ hiệu quả hơn với người lao động trên 35 tuổi để họ chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp với khả năng, hoàn cảnh và tình hình thực tế.

Ngoài ra, trong chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp với người dân bị thu hồi đất canh tác, chưa có sự liên kết giữa chính sách hỗ trợ đào tạo và chính sách hỗ trợ tìm việc cho người dân. Vì vậy, người dân được đào tạo nghề lại phải tự tìm kiếm việc làm trong điều kiện thị trường lao động yêu cầu ngày một khắt khe và những khó khăn chung của nền kinh tế Việt Nam cũng như thế giới.

Trong giai đoạn 2005-2008, tổng số nông dân ngoại thành được đào tạo nghề là 161.305 lượt người, trong đó, các cơ sở đào tạo nghề Hà Nội đào tạo được 44.930 người, các cơ sở đào tạo nghề Trung ương đào tạo được 116.380 người. Đào tạo nghề ngắn hạn trong cả giai đoạn là 104.760 người, chiếm 90% tổng số lao động được đào tạo; trong khi đó đào tạo nghề dài hạn là 56.540 người, chiếm khoảng 10% tổng số lao động được đào tạo. Nếu như tính năng lực đào tạo nghề bình quân cho nông thôn ngoại thành Hà Nội trong 1 năm thì mỗi năm đào tạo được 25.890 người; trong đó, đào tạo nghề dài hạn là 8.050 người, đào tạo nghề ngắn hạn là 17.870 người. Như vậy, chủ yếu đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành Hà Nội là đào tạo nghề ngắn hạn.

Cơ sở vật chất cho công tác đào tạo nghề còn nhiều hạn chế. Đối với đào tạo nghề dài hạn cho nông dân ngoại thành, các cơ sở đào tạo nghề Hà Nội chỉ đáp ứng được 39,31%; các cơ sở đào tạo nghề Trung ương cũng chỉ đáp ứng được 27,28% so với mức chung về đào tạo nghề dài hạn trên toàn thành phố.

Theo thống kê của Sở LĐ, TB&XH Hà Nội, hiện nay mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn toàn Thành phố gồm có 230 cơ sở, với nhiều loại hình đào tạo nghề thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, việc phân bố cơ sở dạy nghề trên địa bàn 14 quận, huyện lại không đồng đều. Nếu chỉ tính riêng khu vực ngoại thành, số cơ sở đào tạo nghề hiện nay là 42 trong tổng số 230 cơ sở đào tạo nghề toàn Thành phố, chiếm tỷ lệ khiêm tốn là 18,26%. Việc phân bổ các cơ sở đào tạo cũng không đồng đều. Đến nay, Hà Nội chưa có trường đào tạo nghề chất lượng cao. Đa số các cơ sở đào tạo nghề đều nằm trong tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, máy móc thiết bị phục vụ cho đào tạo thiếu và lạc hậu. Chất lượng đội ngũ giáo viên các cơ sở dạy nghề nhìn chung còn hạn chế, chỉ khoảng 3% tổng số giáo viên được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn hàng năm. Chương trình, nội dung đào tạo còn nhiều bất cập, đặc biệt là hạn chế trong cập nhật các kiến thức mới, công nghệ mới, phù hợp với xu hướng đào tạo của các nước có hệ thống đào tạo hiện đại trong khu vực và thế giới; đồng thời cũng chưa có chương trình đào tạo phù hợp cho từng địa phương, độ tuổi và trình độ của nông dân các vùng đô thị hoá.

Giải pháp

Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất canh tác trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể của cả vùng Hà Nội, gắn với thực hiện qui hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thành phố, đồng thời phải tiến hành lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế xã hội, chương trình việc làm và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn lực của thành phố, theo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, NSNN cần giữ vai trò chủ đạo. NSNN đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cơ bản về nâng cao trình độ và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản cho mọi người dân, đặc biệt là đối tượng chính sách, người nghèo và các đối tượng trong diện được hỗ trợ. Ưu tiên chi NSNN trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ đào tạo nghề mang tính chất hàng hóa công cộng. Mặt khác, thông qua chi NSNN góp phần thực hiện mục tiêu công bằng trong đào tạo nghề, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách, đối tượng người nghèo, và các đối tượng hỗ trợ khác tiếp cận trợ giúp tài chính của Chính phủ qua việc vay vốn, cấp học bổng, miễn giảm học phí, quĩ trợ cấp… Đối với Quĩ hỗ trợ nông dân bị thu hồi đất canh tác học nghề cần phải tăng dần tỷ trọng đầu tư từ NSNN làm cho quĩ trở thành một quĩ tài chính lớn mạnh, lấy đó làm căn cứ thực tế để triển khai các hoạt động hỗ trợ thiết thực và cụ thể với phương thức hỗ trợ hiệu quả, thủ tục đơn giản, chặt chẽ, nhanh chóng. Tăng dần tỷ trọng chi NSNN cho đào tạo nghề của người dân bị thu hồi đất canh tác trong tổng chi NSNN cho đào tạo nghề của thành phố. Trong những năm tới, tổng chi NSNN cho đào tạo nghề của người dân bị thu hồi đất canh tác phải đạt đến 18- 20% tổng chi NSNN cho đào tạo nghề. Trong cơ cấu chi NSNN cho đào tạo nghề của người dân bị thu hồi đất canh tác, cần chú trọng đặc biệt tới tăng dần tỷ trọng đầu tư cho đào tạo nghề dài hạn thay vì đầu tư chú trọng đào tạo nghề ngắn hạn như hiện nay. Đây là một hướng đi mang tính trọng tâm và là chiến lược giúp thay đổi căn bản hiệu quả đầu tư cho đào tạo nghề chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân ngoại thành Hà Nội trong tiến trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ.

Đối với đối tượng lao động nông nghiệp trên 35 tuổi, khó có khả năng học nghề, cần có những hỗ trợ riêng biệt. Tập trung đào tạo nghề ngắn hạn đối với đối tượng này, chủ yếu là các nghề dịch vụ, giúp đỡ những đối tượng này phát triển được nghề nghiệp sau đào tạo.

Thứ hai, thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề. Khuyến khích việc xây dựng các cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập được quản lý như là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống giáo dục quốc dân và được khuyến khích giúp đỡ, hệ thống chương trình đào tạo theo qui định của pháp luật. Nhà nước thực hiện hỗ trợ về thuế, đất đai,và các chính sách hỗ trợ khác.

Thứ ba, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo nghề đối với các cơ sở đào tạo nghề công lập. Xây dựng cơ chế tự chủ tài chính để các đơn vị này phát huy được các tiềm năng về nhân lực, tài lực và vật lực, gia tăng cung cấp dịch vụ đào tạo cho xã hội, tăng thu, tiết kiệm chi, giảm dần sự bao cấp của NSNN, cải thiện đời sống cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong đơn vị.

Cần phải có các chính sách phát triển, mở rộng qui mô đào tạo và tạo nguồn thu lớn ngoài NSNN cho các cơ sở đào tạo nghề. Khuyến khích các doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn đầu tư thành lập các cơ sở đào tạo nghề, liên kết đào tạo. Đồng thời, khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề năng động, chủ động hơn trong việc tạo lập nguồn thu nhập chính đáng và ổn định cho các cơ sở đào tạo nghề, chủ động khai thác nguồn tài trợ, viện trợ, mở rộng và nâng cao dịch vụ tư vấn đào tạo, tận dụng lợi thế từ vị trí địa lý, vay các quĩ đầu tư để bổ sung nguồn lực tài chính nhằm đạt hiệu quả, nâng cao uy tín thương hiệu của trường; Khuyến khích doanh nghiệp có qui mô lớn, tổng công ty, tập đoàn thành lập cơ sở đào tạo nghề hoặc chủ động liên kết với nhau thành lập trường; khuyến khích sáp nhập một số cơ sở đào tạo nghề có qui mô nhỏ thành cơ sở đào tạo nghề có qui mô lớn hơn để tăng khả năng cạnh tranh cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao ra thị trường lao động.

Thứ tư, xác định rõ ràng trách nhiệm của các bên trong hỗ trợ đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất canh tác. Giữa nhà nước mà đại diện là chính quyền địa phương các cấp, chủ đầu tư là các doanh nghiệp thực hiện đầu tư và bản thân người lao động được đền bù cũng phải có trách nhiệm tài chính với đào tạo nghề. Hiện nay, việc xác định trách nhiệm hỗ trợ giải phóng mặt bằng, hỗ trợ ổn định đời sống của các chủ đầu tư đối với người dân trong vùng bị thu hồi đất canh tác là khá rõ ràng, nhưng việc xác định trách nhiệm hỗ trợ đào tạo nghề và trách nhiệm hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho người lao động sau khi đào tạo nghề đối với doanh nghiệp chủ đầu tư còn chưa thực sự minh bạch. Nếu như xác định rõ ràng trách nhiệm này và kêu gọi đầu tư từ chủ đầu tư các dự án sẽ là một nguồn tài chính đáng kể để phát triển đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất canh tác trên địa bàn thành phố.

Đặc biệt, cần quan tâm đa dạng hoá nguồn và phương thức trả học phí đối với người dân học nghề để thu hút huy động thêm nguồn vốn cho các cơ sở đào tạo nghề, cũng như để nâng cao trách nhiệm học tập đối với người dân học nghề. Trong thời gian tới, có thể nghiên cứu chuyển từ phương thức hỗ trợ một lần, hình thức chi trả trực tiếp, sang hình thức hỗ trợ nhiều lần theo suốt quá trình đào tạo. Đây là một cách thức làm mới và hiệu quả hơn đối với phương thức thanh toán một lần. Như vậy, chính quyền địa phương sẽ kiểm soát được việc sử dụng tiền tệ trong việc hỗ trợ người dân bị thu hồi đất canh tác, gắn với kết quả của quá trình đào tạo nghề. Có thể phân ra làm các giai đoạn chi trả khác nhau. Người dân tham gia học nghề phải đưa được minh chứng kết quả học nghề qua các giai đoạn làm căn cứ để thanh toán.

Thứ năm, Thành phố cần tăng mức hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất canh tác tham gia học nghề. Mức tăng thêm, phải tính toán đến sự cân đối của ngân sách đồng thời phát triển nguồn thu từ các nguồn ngoài ngân sách tùy theo tình hình thực tế. Hỗ trợ cho người dân thông qua thẻ học nghề, để đảm bảo sử dụng đúng mục đích của các khoản tài chính hỗ trợ dạy nghề ở các khu vực nói trên, chủ dự án sẽ lập danh sách nhu cầu học nghề của các hộ bị thu hồi đất, sau đó gửi họ đến các cơ sở dạy nghề phù hợp. Khi đó cả người dạy và người học nghề đều được thụ hưởng đúng ưu đãi tài chính cho người lao động tại các vùng đô thị hoá nhanh ở ngoại thành.

Chế độ miễn giảm học phí cũng cần thực hiện công bằng giữa trường công và trường tư, đồng thời cần có lộ trình cụ thể với chủ trương này. Trước mắt, Nhà nước, thành phố có thể hỗ trợ 50% đối với đối tượng diện chính sách học tại các cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập.

Thứ sáu, tiếp tục đổi mới phương thức cho vay vốn nhằm đơn giản hơn thủ tục cho vay, song vẫn đảm bảo khả năng thu hồi vốn, đảm bảo đúng đối tượng và công bằng; nâng cao ý thức, trách nhiệm vay và hoàn trả nợ vay đối với người được vay; khuyến khích học viên hoàn trả các khoản vay đúng hạn; thủ tục thanh toán đơn giản, dễ thực hiện… đồng thời, cần khuyến khích mô hình đào tạo nghề và tạo việc làm trực tiếp do doanh nghiệp thực hiện từ A đến Z: Doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo nghề cho người lao động và sau đó tuyển dụng họ vào làm việc cho doanh nghiệp. Ngoài ra cũng có thể đào tạo để sau đó người lao động tự đi tìm việc ở doanh nghiệp khác. Điển hình của mô hình này là các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp may mặc, ngành xây dựng.

Thứ bảy, Thành phố cần phải đẩy mạnh thông tin tuyên truyền và nâng cao hơn nữa vai trò của các đơn vị đoàn, hội tại địa phương nhằm thông tin, phổ biến các chính sách ưu đãi của Nhà nước, thành phố đối với công tác hỗ trợ người dân học nghề, để người dân nằm trong diện bị thu hồi đất canh tác hiểu rõ được ý nghĩa của công tác đào tạo nghề nhằm chuyển đổi nghề nghiệp, giúp người dân yên tâm với cuộc sống mới. Việc phát triển các kênh giao dịch trên thị trường lao động chính thức chuyên nghiệp có tổ chức như: các trung tâm dịch vụ việc làm, giao dịch lao động thông qua tuyển dụng, các chợ lao động cố định và “ảo”, các cơ quan xuất – nhập khẩu lao động… cũng đã, đang và tiếp tục sẽ vẫn là những hoạt động đồng bộ cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề và tạo việc làm cho nông dân trong diện bị thu hồi đát canh tác trên địa bàn Hà Nội./.

Ngày 13/8/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP qui định bổ sung về qui hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư với mục tiêu khắc phục một phần thực trạng nêu trên KHÔNG CHỈ  Ở HÀ NỘI MÀ CÒN HẦU HẾT CÁC ĐỊA PHƯƠNG KHÁC. Các bạn có thể tra cứu tính khả thi của văn bản này tại đây – CIVILLAWINFOR

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 13, THÁNG 7 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: