Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÁO CÁO SỐ 1346/BC-UBXH12 NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Luật bình đẳng giới được thông qua ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá XI và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Nhằm góp phần đánh giá hiệu quả triển khai thi hành Luật bình đẳng giới sau hơn 1 năm rưỡi tổ chức thực hiện và phục vụ việc thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia bình đẳng giới tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII, Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành một số hoạt động khảo sát, giám sát về tình hình thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới tại một số địa phương (Hậu Giang, Kiên Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bình Định, Quảng Ngãi, Hà Nội, Bình Phước, Đắc Nông) và một số bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội (Bộ lao động – thương binh và xã hội; Bộ văn hóa, thể thao và du lịch; Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ giáo dục và đào tạo; Bộ nội vụ; Bộ y tế; Ủy ban dân tộc; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) vào cuối năm 2008 và trong quý I năm 2009. Đồng thời, Ủy ban về các vấn đề xã hội cũng tiến hành lồng ghép vấn đề này vào nội dung các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm chuyên gia nhằm thu thập thêm các thông tin.

Sau đây, Ủy ban xin báo cáo Quốc hội về kết quả giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới như sau:

I. VỀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật bình đẳng giới

Sau khi Luật bình đẳng giới được Quốc hội thông qua, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới để cụ thể hóa các quy định của Luật đã được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới, trong đó xác định vai trò và trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thi hành Luật. Các bộ, ngành, địa phương cũng đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cho phù hợp với các nguyên tắc của Luật bình đẳng giới và bước đầu triển khai việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Chính phủ dự kiến ban hành 3 nghị định hướng dẫn Luật bình đẳng giới, bao gồm:

Nghị định 1: Về trách nhiệm quản lý nhà nước và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới (dự kiến ban hành trong tháng 5 năm 2007).

Nghị định 2: Về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới (dự kiến ban hành trước ngày 31/5/2007).

Nghị định 3: Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới (dự kiến ban hành vào cuối năm 2007).

Tuy nhiên, trên thực tế cả 3 nghị định này đều không được ban hành đúng tiến độ. Đến nay, Chính phủ mới chỉ ban hành Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Nguyên nhân của sự chậm trễ này chủ yếu là do sự sắp xếp, thay đổi trong bộ máy quản lý nhà nước (Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em – cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bình đẳng giới – bị giải thể và chuyển giao nhiệm vụ này sang Bộ tư pháp). Thêm vào đó, vấn đề giới, bình đẳng giới là một vấn đề mới và khó, trong quá trình soạn thảo còn có những quan điểm khác nhau nên việc cụ thể hóa các quy định của Luật bình đẳng giới gặp nhiều khó khăn. Việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành là một trong các nguyên nhân khiến cho nhiều địa phương bị động, lúng túng trong tổ chức thực hiện và Luật chậm đi vào cuộc sống.

2. Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật bình đẳng giới

Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật bình đẳng giới được các cơ quan, tổ chức quan tâm quán triệt trong đội ngũ cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân. Bộ tư pháp với vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ đã xây dựng Đề cương tuyên truyền Luật bình đẳng giới làm cơ sở cho các báo cáo viên, tuyên truyền viên khi tham gia giới thiệu, phổ biến Luật. Nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã tiến hành tuyên truyền nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới bằng nhiều hình thức phong phú (phát hành tờ rơi, sách, tập huấn, tọa đàm, hội thảo…). Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng khác cũng đã mở các chuyên mục tuyên truyền về bình đẳng giới. Bộ lao động – thương binh và xã hội đã tổ chức tập huấn cho lãnh đạo các sở, cán bộ phụ trách về bình đẳng giới trong ngành lao động. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến Luật bình đẳng giới với nhiều hình thực phong phú và đa dạng, tổ chức tập huấn cho đội ngũ báo cáo viên chủ chốt của các tỉnh, thành phố, bộ, ngành… Nhìn chung, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về bình đẳng giới, tư tưởng trọng nam hơn nữ trong xã hội đã bước đầu được khắc phục.

Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới cũng cho thấy có một số tồn tại:

– Nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số còn có những hạn chế, định kiến giới còn nhiều; bản thân một bộ phận phụ nữ cũng còn có tư tưởng an phận, không muốn phấn đấu vươn lên trong cuộc sống và sự nghiệp.

– Công tác tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức về Luật bình đẳng giới tại một số địa phương, bộ, ngành còn mang tính hình thức. Hội liên hiệp phụ nữ các cấp vẫn là đơn vị chủ lực chính trong việc tuyên truyền Luật bình đẳng giới; còn thiếu vắng sự chủ động, tích cực từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

3. Tổ chức, bộ máy thực hiện bình đẳng giới

Sau khi Luật bình đẳng giới có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 186/NĐ-CP ngày 25/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ lao động – thương binh và xã hội, trong đó thống nhất giao cho ngành lao động – xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Ở Trung ương, Bộ lao động – thương binh và xã hội đã thành lập Vụ bình đẳng giới và nhanh chóng kiên toàn bộ máy cán bộ để tham mưu giúp Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước và triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới. Các địa phương đã tiến hành sắp xếp lại tổ chức, bộ máy và hình thành đơn vị và cán bộ làm công tác bình đẳng giới trong các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, huyện, xã theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10/7/2008. Hiện nay, hầu hết các Sở lao động – thương binh và xã hội đã phân công cán bộ chuyên trách làm công tác này.

Ngày 22/8/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 114/2008/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Theo đó, Bộ trưởng Bộ lao động – thương binh và xã hội là Chủ tịch Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và Văn phòng giúp việc Ủy ban được đặt tại Bộ lao động – thương binh và xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, ở cấp tỉnh, huyện và bộ, ngành vẫn còn lúng túng về mô hình tổ chức Ban vì sự tiến bộ phụ nữ do chưa có hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.

Qua thực tế giám sát cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới còn thiếu và chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn về giới, bình đẳng giới để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Một số địa phương chưa phân công cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới, do vậy việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở một số nơi vẫn còn mang tính hình thức và vẫn do Hội phụ nữ thực hiện là chủ yếu.

4. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến bình đẳng giới

Một trong các nguyên nhân dẫn tới khoảng cách giới còn tồn tại trong thực tế là do sự thiếu đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về bình đẳng giới mà chưa được rà soát, bổ sung, sửa đổi kịp thời; một số văn bản pháp luật mới được xây dựng, ban hành chưa tuân thủ quy trình lồng ghép giới, nhất là chưa đánh giá đầy đủ dự báo tác động của văn bản đến nam và nữ.

Qua giám sát của Ủy ban về các vấn đề xã hội cho thấy, nhiều bộ, ngành, địa phương, tổ chức thực hiện nhiệm vụ này còn lúng túng, mang tính hình thức, do vậy chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống các quy định pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Đa số các địa phương và bộ, ngành được giám sát đều báo cáo hầu như chưa thực hiện việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật nên không có báo cáo đánh giá kết quả rà soát liên quan đến bình đẳng giới trong phạm vi quản lý của mình.

5. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và trong ngân sách nhà nước hằng năm

Luật bình đẳng giới đã xác định trách nhiệm của Chính phủ trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, hầu hết các dự án văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội thông qua, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành đều do Chính phủ chủ trì soạn thảo, do vậy việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở giai đoạn soạn thảo, thẩm định là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian vừa qua cho thấy một số các bộ, ban ngành – cơ quan chủ trì soạn thảo còn thiếu tích cực, chủ động trong việc thực hiện quy trình, thủ tục lồng ghép giới cũng như việc phân tích, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật tới nam và nữ nên hiệu quả lồng ghép giới chưa đạt được như mong muốn.

Ngoài ra, thúc đẩy bình đẳng giới và đảm bảo phân bổ nguồn lực bình đẳng đối với cả nam và nữ trong quá trình tham gia cũng như thụ hưởng thành quả của phát triển thì lồng ghép giới vào trong quy trình ngân sách nhà nước là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, qua thực tế giám sát cho thấy, ở cả trung ương và địa phương việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong ngân sách nhà nước trên các lĩnh vực còn rất lúng túng và chưa được triển khai. Đây là một hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI

Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, do vậy các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới[1] cũng nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) của Việt Nam, Luật bình đẳng giới…

Những thành quả Việt Nam đạt được trong sự nghiệp phát triển con người và bình đẳng giới là rất đáng tự hào, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hợp quốc cho thấy, Việt Nam hiện có chỉ số phát triển con người (HDI)[2] là 0,733, xếp ở vị trí 105 trong tổng số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 4 bậc so với năm 2006/2007). Với chỉ số phát triển giới (GDI)[3] là 0,732 – bằng 99,9% giá trị của HDI, Việt Nam cũng được Liên hợp quốc đánh giá là nước có nhiều tiến bộ trong cải thiện công bằng giới.

Tuy nhiên, trong thực tiễn thì bên cạnh những thành tựu đạt được cũng đang tồn tại những khoảng cách giới đòi hỏi cần phải được sự quan tâm, nỗ lực phấn đấu thực hiện của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước có vai trò trung tâm.

1. Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và trong quá trình hoạch định chính sách luôn được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận trong các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trong hơn 60 năm trưởng thành và phát triển, vai trò, vị trí của phụ nữ trong Quốc hội Việt Nam đã được khẳng định và có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của đất nước. Mặc dù tỷ lệ tham gia Quốc hội của phụ nữ còn chưa tương xứng với tỷ lệ nữ trong dân số, trong lực lượng lao động và có sự phát triển không đồng đều qua 12 nhiệm kỳ của Quốc hội, tuy nhiên, Việt Nam vẫn là quốc gia đạt tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao trong nhiều năm qua (xem Phụ lục 1). Điều này phản ánh cam kết mang tính chất truyền thống về mặt pháp luật của Nhà nước và chủ trương, đường lối của Đảng về việc khuyến khích sự tham gia của phụ nữ vào các cơ quan lãnh đạo nói chung và cơ quan dân cử nói riêng ở Việt Nam.

Quốc hội khoá XI (2002-2007) của Việt Nam có tỷ lệ nữ đại biểu đạt 27,3% trong tổng số đại biểu Quốc hội, đứng thứ hai ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, cao hơn hẳn so với nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. Đến nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, tuy tỷ lệ nữ đại biểu chỉ còn 25,76% và không đạt chỉ tiêu đề ra (30%) trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, nhưng Việt Nam vẫn là nước xếp thứ 33 trên thế giới và dẫn đầu trong 8 nước ASEAN có nghị viện và đứng thứ 4 ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Ở cấp địa phương, có 27/64 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội trên 30% như Hà Nội đạt 42,86%[4], tỉnh Bình Định đạt 37,5%… Nhìn chung, các nữ đại biểu Quốc hội mới chủ yếu tham gia vào trong các cơ quan của Quốc hội hoạt động trong lĩnh vực văn hoá – xã hội như: Uỷ ban về các vấn đề xã hội, Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường, Hội đồng dân tộc của Quốc hội, tỷ lệ này chiếm khoảng từ 20-40% trong tổng số thành viên Uỷ ban. Các Uỷ ban khác của Quốc hội (Uỷ ban tài chính-ngân sách, Uỷ ban quốc phòng và an ninh…) số thành viên là nữ đều chiếm tỷ lệ không cao (xem Phụ lục 2).

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011), trình độ của nữ đại biểu Quốc hội ngày càng được nâng lên: tỷ lệ nữ đại biểu có trình độ đại học và trên đại học chiếm 91,4%, số nữ đại biểu trẻ dưới 40 tuổi chiếm 38,6% và nữ đại biểu là người dân tộc thiểu số chiếm một phần không nhỏ (32,3%) trong tổng số nữ đại biểu Quốc hội. Vai trò của phụ nữ ngày càng được phát huy, trong điều kiện đa số là đại biểu mới (77,2% tham gia lần đầu) và kiêm nhiệm, mặc dù vừa phải đảm nhiệm vai trò là người đại biểu của nhân dân, vừa gánh vác công việc chuyên môn trong các cơ quan, tổ chức của mình nhưng các nữ đại biểu đã có nhiều nỗ lực trong việc tham gia vào các hoạt động lập pháp, giám sát, cũng như tham gia các hoạt động khác của Quốc hội một cách có hiệu quả.

Trong khi tỷ lệ nữ đại biểu tham gia cơ quan lập pháp đạt tương đối cao thì trong cơ quan dân cử ở địa phương, tỷ lệ phụ nữ lại thấp hơn. Đặc biệt, ở Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã, mặc dù tỷ lệ này trong nhiệm kỳ 2004-2009 (và được kéo dài đến năm 2011)[5] có cao hơn so với nhiệm kỳ trước (1999-2004). Trong nhiệm kỳ 2004-2009, tỷ lệ nữ tham gia HĐND ở cấp tỉnh chỉ đạt 23,8%, cấp huyện đạt 23,22% và cấp xã đạt 20,1%.

Tỷ lệ lãnh đạo nữ trong hội đồng nhân dân các cấp cũng thấp, đặc biệt, đa số lãnh đạo nữ đều giữ các vị trí Phó chủ tịch, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ phụ nữ giữ các vị trí Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Trong nhiệm kỳ 2004-2009, tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí chủ tịch ở cấp tỉnh chỉ có 1,56%, cấp huyện là 3,92% và cấp xã là 4,09%; trong khi tỷ lệ này ở cấp phó tương ứng là 26,56%; 19,64% và 10,61%.

So với các cơ quan dân cử thì tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan hành pháp tại trung ương và địa phương lại thấp hơn rất nhiều. Trong nhiệm kỳ 2007-2011, tỷ lệ phụ nữ được bổ nhiệm ở các vị trí lãnh đạo từ cấp bộ trưởng đến các cấp thấp hơn (vụ phó) đều không bằng nhiệm kỳ trước. Ví dụ, tỷ lệ nữ là Bộ trưởng và tương đương từ 12% nhiệm kỳ 2002-2007 giảm xuống còn 4,5% nhiệm kỳ 2007-2011, nữ Thứ trưởng và tương đương giảm từ 9,0% xuống còn 8,4%, Vụ trưởng và tương đương giảm từ 6% xuống còn 5,5%, Vụ phó và tương đương giảm từ 14% xuống còn 13,9%[6].

Theo báo cáo của Bộ nội vụ[7], khối cơ quan Bộ, ngang bộ, số lượng nữ được bổ nhiệm, đề bạt các vị trí lãnh đạo, quản lý có 436 người, chiếm 23,49%; khối cơ quan thuộc Chính phủ có 64 người, chiếm 24,81%; khối Tổng cục thuộc Bộ và tương đương có 141 người, chiếm 24,61%; khối cơ quan Cục thuộc Bộ và tương đương có 249 người, chiếm 22,55%. Ở khối cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ giữ chức vụ lãnh đạo bình quân đạt 18,95%; khối cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp huyện, nữ giữ chức vụ lãnh đạo chiếm tỷ lệ bình quân 15,59%; các chi cục thuộc Sở, nữ giữ chức vụ lãnh đạo chiếm tỷ lệ bình quân 12,84%.

Số lượng nữ là thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 cũng được cải thiện hơn. Tỷ lệ phụ nữ tham gia UBND cấp tỉnh chiếm 8,61%, UBND cấp huyện 6,4%, UBND cấp xã chiếm 3,99%.

Trong nhiệm kỳ 2004-2009, ở cấp địa phương, phụ nữ làm chủ tịch UBND tỉnh chiếm 3,12%, phó chủ tịch UBND tỉnh chiếm 16,8%; chủ tịch UBND huyện chiếm 3,62%, phó chủ tịch UBND huyện 14,48% và chủ tịch UBND xã 3,42% và phó chủ tịch UBND xã chiếm 8,84%.

Qua giám sát cũng phát hiện thấy, việc theo dõi tổng hợp các số liệu trong một số ngành và lĩnh vực còn chưa được cập nhật. Chẳng hạn, số liệu về tỷ lệ nam, nữ trong ngành tư pháp (kiểm sát, tòa án), tỷ lệ nam, nữ Đảng viên được kết nạp mới trong các ngành, lĩnh vực, trung ương và địa phương…

Nhìn chung, tỷ lệ nữ tham gia bộ máy hành pháp, tư pháp và dân cử ở địa phương không đồng đều và không đạt mục tiêu nêu ra trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010.

2. Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động – việc làm

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức cao (83% so với nam giới 85%). Phụ nữ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân; tham gia ngày càng nhiều hơn trong khu vực phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành và lĩnh vực kinh tế có yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao. Theo Điều tra lao động – việc làm ngày 18/2007 của Tổng cục thống kê, tỷ lệ lao động nữ đã chiếm 46% trong số người làm công ăn lương từ các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh; số chủ cơ sở sản xuất – kinh doanh là nữ chiếm 41,12%; tỷ lệ lao động nữ làm kinh tế hộ gia đình chiếm 49,42%. Mặc dù các số liệu thống kê cũng chỉ ra có một tỷ lệ lớn lao động nữ còn làm các công việc giản đơn (53,64%), nhưng tỷ lệ phụ nữ đang tham gia vào các lĩnh vực vốn được coi là “truyền thống” (công việc kỹ thuật, quản lý) của nam giới cũng đang dần tăng lên (xem bảng 6 của Phụ lục). Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên làm công việc khai khoáng chỉ chiếm 31,1%, trong khi đó nam giới chiếm 68,9%; tham gia hoạt động khoa học và công nghệ thì nữ chiếm 34% và nam chiếm 66%; quản lý nhà nước về an ninh, quốc phòng, bảo đảm xã hội thì nữ chiếm 24,7% và nam chiếm 75%. Tuy vậy, có một số công việc vốn được coi là “truyền thống” của phụ nữ thì tỷ lệ nữ tham gia vẫn còn rất cao. Chẳng hạn, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng chiếm 71,6%, trong khi nam giới chỉ chiếm 28,4%; giáo dục đào tạo, nữ chiếm 69,2% và nam chiếm 30,8%; y tế và cứu trợ xã hội, nữ chiếm 59,6%, nam chiếm 40,4% (xem bảng 7 của Phụ lục).

Nhìn chung, phân bố cơ cấu nam, nữ trong các ngành nghề cho thấy, nam giới vẫn thường chiếm tỷ lệ cao hơn ở những nhóm việc như công nhân, lãnh đạo, dịch vụ cá nhân, công việc chuyên môn kỹ thuật và lực lượng vũ trang. Phụ nữ thường chiếm tỷ lệ cao ở một số nhóm nghề khác như nông nghiệp, buôn bán nhỏ, nhân viên văn phòng.

Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức, phụ nữ cũng tham gia rất nhiều vào lực lượng lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, ước tính khoảng 70% đến 80%. Tuy nhiên, điều kiện lao động, thu nhập và an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế) đối với lao động nữ làm việc trong khu vực này còn rất nhiều hạn chế.

Vị thế việc làm của lao động nữ cũng có sự thay đổi tích cực. Trong 10 năm từ 1997 đến 2007, nhóm lao động làm công ăn lương tăng rất mạnh trong cơ cấu phân bố lao động, từ 18,6% (1997) lên tới 30% (2007), trong đó lao động nam chiếm 59,8% và lao động nữ chiếm 40,2% (2007). Nếu so sánh với năm 2005 thì có sự thay đổi rõ rệt. Năm 2005, tỷ trọng lao động làm công ăn lương chiếm 25,6%, trong đó lao động nam chiếm 78,7% và lao động nữ chiếm 21,3%. Tỷ trọng lao động nữ trong số người làm công ăn lương tăng mạnh (19%), thể hiện sự thay đổi theo hướng giảm sự bất bình đẳng giới về việc làm có thu nhập ổn định giữa nam và nữ. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình bình đẳng giới của Việt Nam có nhiều tiến bộ.

Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị cũng có xu hướng giảm nhẹ, từ 4,82% năm 2006, xuống còn 4,64% năm 2007, ước tính năm 2008 là 4,65%, tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ ở khu vực thành thị là 5,25%; 5,10% và 5,10%. Nhìn chung, kết quả này đều thực hiện đạt chỉ tiêu phấn đấu đề ra trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010[8] (xem bảng 8 của Phụ lục).

3. Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo

Giáo dục là một trong những chính sách được ưu tiên ở Việt Nam và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục qua các năm không ngừng tăng lên: năm 2002 chiếm 16,7%; năm 2005 chiếm 18%; năm 2008 chiếm 20% so với tổng ngân sách. Mức chi cho giáo dục của Việt Nam cao ngang bằng với một số nước phát triển. Kết quả của những ưu tiên này đã thu hẹp khoảng cách giới và việc đầu tư vào con người đã góp phần làm cho Việt Nam đạt được chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) khá cao.

Qua giám sát cũng cho thấy, việc theo dõi, tổng hợp số liệu bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục cũng chưa được thường xuyên. Ví dụ như Báo cáo của Bộ giáo dục – đào tạo số 123/BC-BGDĐT, ngày 27 tháng 2 năm 2009 về tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục còn có những số liệu từ năm 2005-2006.

Mặc dù còn thiếu các số liệu cập nhật, nhưng về cơ bản, trong lĩnh vực giáo dục đã đạt được nhiều thành tựu về bình đẳng giới. Kết quả này thể hiện ở tỷ lệ biết đọc, biết viết của người lớn cho cả nam và nữ (2006 đạt 93%), số liệu học sinh nhập học cho thấy sự khác biệt không nhiều giữa bé trai và bé gái đặc biệt là trong các cấp học giáo dục cơ bản (Tiểu học, THCS và THPT). Tuy nhiên, nhìn tổng thế tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ ngày càng tăng lên với cả nam và nữ nhưng tỷ lệ nam giới vẫn cao hơn so với nữ giới (nữ 90,5% và nam 96,0%) và có một sự tăng lên về tỷ lệ dân số 10 tuổi trở lên biết chữ không đồng đều giữa nông thôn và đô thị, khoảng cách này càng lớn nếu đó là các vùng sâu, vùng xa, trong đó khu vực Tây Bắc luôn đạt tỷ lệ thấp nhất (2002: 80,0% 2004: 71,3%; 2006: 73,1%) (xem bảng 9 của Phụ lục).

Ở bậc đại học và cao đẳng, tỷ lệ sinh viên, học sinh là nữ đang có xu hướng tăng dần đều qua các năm 2004-2007 (47,79%, 48,49%, 53,32%), trong đó năm học 2006-2007 tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ còn cao hơn tỷ lệ nam học sinh, sinh viên (nữ 53,32%, nam 46,68) (xem bảng 10 của Phụ lục).

Ở trình độ đại học trở lên, tỷ lệ lao động này chiếm 4,7% trong tổng số lao động, trong đó nam 5,4% và nữ 4% (tương đương khoảng 21% nữ trong tổng số đào tạo từ đại học trở lên).

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo cũng có những hạn chế như: việc tiếp cận với giáo dục của trẻ em gái và phụ nữ dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn và trở ngại hơn so với các em trai và nam giới; Tỷ lệ nữ có học hàm, học vị cao còn quá thấp so với nam giới.

Báo cáo của Bộ giáo dục và đào tạo cho thấy, số trẻ em gái đến trường ở các tỉnh miền núi còn thấp, có nơi chỉ chiếm khoảng 10-15% tổng số. Nguyên nhân chủ yếu vì các em phải lao động giúp đỡ gia đình, trường nội trú ở quá xa nhà và ở một số nơi vẫn còn có tập quán lấy chồng sớm. Vì vậy, có khoảng cách giới tồn tại về cơ hội đi học ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng kinh tế khó khăn. Tây Bắc là khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại Việt Nam. Chỉ số cân bằng giới trong giáo dục (GPI)[9] tại vùng Tây Bắc thấp hơn so với bình quân chung của cả nước đã thể hiện khoảng cách chênh lệch giới tại đây[10].

Trên bình diện cả nước, khoảng cách bất bình đẳng giới giữa nam và nữ đang dãn rộng hơn ở các bậc học sau đại học. Mặc dù tỷ lệ nữ có trình độ sau đại học của Việt Nam đã cao hơn 30%, nhưng vẫn chỉ bằng 1/2 so với nam giới. Đặc biệt, càng ở trình độ học vấn cao thì mức độ bất bình đẳng giới lại càng lớn. Tỷ lệ phụ nữ đạt học vị tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, giáo sư thấp hơn khoảng từ 5 – 18 lần so với nam giới. Năm 2007, tỷ lệ phụ nữ được phong học hàm phó giáo sư chỉ chiếm 11,67%, trong khi tỷ lệ này của nam giới là 88,33%. Đối với học hàm giáo sư, phụ nữ chỉ chiếm 5,1%, nam giới chiếm 94,9%. Học vị tiến sĩ khoa học, nam giới chiếm 90,22%, phụ nữ chiếm 9,78%; học vị tiến sĩ, nam giới chiếm 82,98% và phụ nữ chỉ chiếm 17,02% (xem bảng 11 của Phụ lục). Điều này cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng thăng tiến và đóng góp của phụ nữ vào trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội, cũng như trong con đường chức nghiệp, đặc biệt là việc vươn lên trở thành những người đứng đầu trong bộ máy nghiên cứu khoa học, quản lý của đất nước.

– Về đào tạo nghề:

Nhìn chung, so với giai đoạn trước 2005, hiện nay chương trình đào tạo nghề đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Các ngành nghề đào tạo được mở rộng, trong đó có nhiều ngành nghề phù hợp với nữ. Chất lượng dạy nghề có nhiều tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Một số nghề đạt trên 90% học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm (như nghề bưu chính viễn thông, giao thông, may mặc), trong đó nữ chiếm tỷ lệ khá cao. Số lượng lao động nữ qua đào tạo đã tăng lên và thu hẹp khoảng cách so với nam giới.

Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 đặt ra chỉ tiêu tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo lên 35%, trong đó đào tạo nghề là 21% nhằm tạo cơ hội về việc làm ổn định, có thu nhập đảm bảo đối với lao động nữ. Tuy nhiên, thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực đào tạo nghề cũng nhiều hạn chế. Mặc dù trình độ văn hoá phổ thông, chất lượng lao động năm 2007 so với 2005 đã có cải thiện nhưng tỷ trọng lao động (nam, nữ) qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật đều giảm xuống. Nếu như năm 2005, tỷ trọng lao động qua đào tạo chuyên môn, kỹ thuật là 24,8%, trong đó lao động nam là 28,9% và lao động nữ là 20,5%, thì năm 2007 tỷ trọng lao động này đã giảm xuống còn 23,8%, trong đó lao động nam là 28,4% và lao động nữ là 19,1%. Lao động nữ có chứng chỉ nghề từ 11,03% năm 2005 tăng lên 14,62% năm 2007. Số tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp từ 4,3% năm 2005 tăng lên 5,37% năm 2007. Nhìn chung, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của Việt Nam thấp, trong đó nữ qua đào tạo nghề vẫn thấp hơn so với nam giới, do đó đã làm hạn chế các cơ hội lựa chọn việc làm có chuyên môn kỹ thuật, có thu nhập cao của lao động nữ.

4. Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao mức sống, cơ sở vật chất khám bệnh, chữa bệnh thì sự quan tâm của người dân tới chăm sóc sức khoẻ cũng ngày càng được nâng cao. Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình qua các năm 2002, 2004 và 2006 cho thấy tỷ lệ người khám bệnh, chữa bệnh trong 12 tháng qua trên cả nước liên tục tăng. Năm 2002 có 18,9% người dân đi khám, chữa bệnh, đến năm 2004, tỷ lệ này là 34,3% và đến năm 2006 đã tăng lên 35,2%. Nhìn chung, việc quan tâm chăm sóc sức khỏe luôn tăng đều ở cả nam, nữ và không có sự khác biệt giới trong việc khám bệnh, chữa bệnh nội trú, ngoại trú giữa nam và nữ (xem bảng 12 của Phụ lục).

Theo kết quả đánh giá sơ kết tình hình thực hiện Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ từ 2006 đến 2010 thì mục tiêu 3 về sức khoẻ của phụ nữ với 7 chỉ tiêu cụ thể về cơ bản hoàn thành kế hoạch đề ra, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu 1: phấn đấu đến 2010 tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt nam đạt 72 tuổi.

Kết quả thực hiện trên thực tế cho thấy: tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam ngày càng tăng: năm 2005 là 71 tuổi; năm 2006 là 71,3 tuổi; năm 2008 đạt 71,8 tuổi; ước đến năm 2010 là 72 tuổi (Nguồn: Niên giám thống kê y tế 2007).

Chỉ tiêu 2: Tăng tỷ lệ phụ nữ có thai được khám đủ 3 lần trở lên 60%; từ 90% trở lên phụ nữ có thai được khám trước khi sinh.

Theo đánh giá của Bộ y tế, trong những năm qua, tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được khám thai trên 3 lần đạt tỷ lệ khá cao. Năm 2005 là 84,3%; năm 2006 là 84,5% và năm 2007 là 86,2% (vượt kế hoạch 26,2%). Tỷ lệ các bà mẹ khi sinh đẻ được cán bộ y tế chăm sóc không ngừng được tăng lên và ở mức khá cao: năm 2005 là 93,4%; năm 2006 là 92,92%; năm 2007 là 94,3%. Như vậy, chỉ tiêu 2 đã thực hiện đạt kế hoạch từ năm 2005.

Chỉ tiêu 3: Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 60/100.000 trẻ đẻ sống và giảm 25% số ca nạo phá thai.

Kết quả thực hiện chỉ tiêu này chưa đạt kế hoạch đề ra, mặc dù ngành y tế đã có nhiều nỗ lực trong việc chăm sóc trước, trong và sau sinh cho các bà mẹ mang thai và sinh con. Tỷ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản cũng đã giảm dần qua các năm. Năm 2006 là 75,1/100.000; năm 2007 là 75/100.000; ước tính đến 2010 giảm xuống còn 70/100.000 trẻ đẻ sống. Số ca nạo phá thai cũng giảm dần. Năm 2006 có 143.594 ca (giảm 20,12% so với năm 2005); năm 2007 có 115.510 ca (giảm 19,55% so với năm 2006); ước tính đến năm 2010 có thể thực hiện đạt chỉ tiêu giảm 25% số ca nạo phá thai trong chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Chỉ tiêu 4: Tăng tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế

Chưa có số liệu đánh giá được kết quả thực hiện chỉ tiêu này do trong hệ thống chỉ tiêu báo cáo của ngành y tế chưa đưa vào. Tuy nhiên, qua báo cáo của các Sở y tế thì có khả năng chỉ tiêu này không đạt kế hoạch đề ra (ước tính năm 2006 là 85,3%; năm 2007: 86,5%).

Chỉ tiêu 5: Khống chế tỷ lệ phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV/AIDS ở mức 0,5%.

Theo báo cáo của ngành y tế, tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS đang được khống chế dần. Năm 2006, cả nước có 26,9 nghìn người nhiễm; năm 2007 có 20,7 nghìn người nhiễm. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ bị lây nhiễm HIV lại có xu hướng tăng lên qua các năm. Năm 2006, tỷ lệ nữ nhiễm HIV chiếm 20,2%; năm 2007 chiếm 23,5% trong tổng số người bị nhiễm. Tỷ lệ phụ nữ mang thai trong toàn quốc bị nhiễm HIV lại có xu hướng giảm dần qua các năm: năm 2006 là 0,38% và năm 2007 là 0,34%. Nhìn chung, việc thực hiện chỉ tiêu 5 có khả năng đạt và vượt mức kế hoạch đề ra. Một số địa phương trọng điểm có tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV khá cao như Quảng Ninh 1,31%, Điện Biên 1,13%, thành phố Hồ Chí Minh là 1,0%.

Chỉ tiêu 6: 100% các trạm y tế có nữ hộ sinh và 80% trạm y tế có bác sĩ.

Theo báo cáo của ngành y tế, tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ năm 2006 là 65,05%; năm 2007 tăng lên 67,38%; ước tính đến 2010 đạt 70%. Như vậy chỉ tiêu này không đạt kế hoạch đề ra.

Tỷ lệ trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y bác sĩ sản nhi năm 2006 là 93,62%; năm 2007 là 93,6%. Theo đánh giá của Bộ y tế để đạt được chỉ tiêu này đến năm 2010 thì ngành y tế phải có nỗ lực rất lớn.

Chỉ tiêu 7: 97% cơ sở y tế đảm bảo cung cấp thuốc, vật tư thường xuyên cho làm mẹ an toàn, chăm sóc thai sản an toàn; 90% cơ sở có đủ trang bị kỹ thuật, trang thiết bị phù hợp phục vụ làm mẹ an toàn; 90% cán bộ y tế thôn, bản có đủ thuốc, dụng cụ thiết yếu phục vụ đỡ đẻ sạch, an toàn.

Kết quả thực hiện chỉ tiêu này cho thấy: tỷ lệ trạm y tế xã có sẵn tài liệu truyền thông về sức khoẻ sinh sản và thực hiện tư vấn, giáo dục sức khoẻ ngày một tăng. Năm 2006 có 96,3% và đến tháng 6/2008 đạt 97,9% (vượt chỉ tiêu đề ra 7,9%). Có 90,1% trạm y tế đảm bảo cung cấp thuốc, vật tư thường xuyên cho làm mẹ an toàn (chỉ tiêu đến năm 2010 là 95%). Có 94,4% trạm y tế có đủ trang thiết bị kỹ thuật, trang thiết bị phù hợp phụ vụ làm mẹ an toàn (vượt chỉ tiêu đề ra 4,4%). Có 81,1% cán bộ y tế thôn, bản có đủ thuốc, dụng cụ thiết yếu phục vụ đỡ đẻ sạch, an toàn (chỉ tiêu đến năm 2010 là 90%). Nhìn chung, theo đánh giá của Bộ y tế về cơ bản các chỉ số trong chỉ tiêu 7 thực hiện đều đạt trước năm 2010.

5. Bình đẳng giới trong gia đình

Gia đình là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội. Cùng với tiến bộ xã hội, ngày càng có nhiều công cụ và các điều kiện giúp con người giảm nhẹ sức lao động, công việc trong gia đình. Mặc dù, tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ đã dần dần mất đi, nhưng có một nghịch lý vẫn đang tồn tại là việc nội trợ, nuôi dưỡng con cái, chăm sóc các thành viên trong gia đình vẫn được coi là công việc của phụ nữ và vẫn có quan niệm cho rằng các hoạt động này không mang lại giá trị kinh tế.

Định kiến giới và tư tưởng trọng nam giới hơn phụ nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở trong gia đình và một bộ phận dân cư trong xã hội với các biểu hiện như thích đẻ con trai hơn con gái, coi việc nội trợ, chăm sóc con cái là của phụ nữ, khi chia tài sản thừa kế thường dành cho con trai nhiều hơn, ưu tiên đầu tư vào con trai, quan niệm nam giới là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và đóng vai trò chính trong các quan hệ xã hội bên ngoài gia đình.

Thời gian làm việc của phụ nữ thường dài hơn nam giới: Mặc dù, pháp luật quy định trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng với nhau về mọi mặt, cùng nhau bàn bạc, quyết định mọi vấn đề chung, cùng chia sẻ mọi công việc cũng như chăm lo cho con cái, cha mẹ… nhưng trên thực tế, nam giới vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng. Còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình thường được coi là “thiên chức” của phụ nữ. Tính chất bảo thủ của sự phân công lao động truyền thống theo giới ở các mức độ khác nhau vẫn còn được bảo lưu trong một bộ phận gia đình Việt Nam đã làm hạn chế các cơ hội học hành của trẻ em gái, cản trở phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội và có địa vị, thu nhập bình đẳng như nam giới. Các kết quả thống kê cho thấy, trung bình thời gian làm việc một ngày của phụ nữ là 13 giờ, trong khi của nam giới là khoảng 9 giờ. Sự chênh lệch này chủ yếu do phụ nữ còn đảm nhiệm chính công việc nội trợ, chăm sóc con cái… ngoài vai trò sản xuất và công tác như nam giới.

Phân công lao động trong gia đình ở nhiều vùng miền trên cả nước còn mang tính chất phân biệt theo giới rõ rệt. Công việc gia đình vẫn tập trung vào vai người phụ nữ là chủ yếu[11]. Do đó, phụ nữ ít có cơ hội để học tập nâng cao trình độ, nghỉ ngơi giải trí hay tham gia các hoạt động xã hội. Ở một số vùng theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ không chỉ gánh vác hầu hết mọi công việc gia đình, chăm sóc con cái, mà đồng thời còn là lao động chính trong gia đình. Đây thực sự là gánh nặng quá tải, gây ảnh hưởng xấu tới tình trạng sức khoẻ của phụ nữ.

Trong gia đình, phụ nữ tham gia vào việc ra quyết định thấp hơn nam giới: Mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhưng nhìn chung phụ nữ ít đựơc quyền quyết định công việc gia đình so với nam giới. Quyền lực cao hơn của một người chồng thể hiện ở quyền quyết định ở một số việc như mua sắm, sản xuất kinh doanh, quan hệ họ hàng, còn người vợ thường chỉ có tiếng nói ở những việc như sử dụng biện pháp tranh thai, việc học của con hay các công việc nội trợ của gia đình…

6. Bạo lực gia đình và các vấn đề xã hội khác

– Tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam: Mặc dù chưa có dữ liệu quốc gia về tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam, tuy nhiên, qua các cuộc điều tra chọn mẫu và báo cáo của các địa phương cũng phản ánh hiện trạng sơ bộ về bạo lực gia đình, phụ nữ thường là nạn nhân của bạo lực gia đình. Hình thức của bạo lực có thể là bạo lực nhìn thấy được (bạo lực thân thể và ngược đãi) và bạo lực không nhìn thấy được (sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong phân công lao động, ra quyết định trong gia đình, khả năng tiếp cận các nguồn lực của gia đình). Qua giám sát các địa phương đều nêu lên tình trạng bạo lực này nhưng số liệu thống kê chưa được cập nhật và các biện pháp khắc phục chưa được quan tâm và xử lý.

– Về tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em: Theo Tổng cục Cảnh sát, Bộ công an, tình hình buôn bán phụ nữ và trẻ em từ năm 2005 đến nay có diễn biến phức tạp, tính chất và quy mô phạm tội có chiều hướng gia tăng, có tổ chức chặt chẽ. Năm 2007 tăng so với năm 2006 là 11%; 6 tháng đầu năm 2008 tăng so với cùng kỳ năm 2007 là 2%. Từ năm 2005 đến nay đã phát hiện được trên toàn quốc: 880 vụ buôn bán phụ nữ với 1563 đối tượng; 81 vụ buôn bán trẻ em với 131 đối tượng và buôn bán phụ nữ, trẻ em có 45 vụ với 110 đối tượng; đã phát hiện một số đường dây buôn bán phụ nữ và trẻ em sang Trung Quốc, Campuchia để bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động; hoặc đưa sang Lào, Thái Lan, CHLB Nga để đưa vào con đường mại dâm, các cơ sở kinh doanh dịch vụ. Từ đầu năm 2008 đã xuất hiện một số đối tượng trong nước câu kết với đối tượng người nước ngoài mua bán trẻ sơ sinh bán ra nước ngoài. Tình trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài đang có diễn biến phức tạp. Hệ quả của các cuộc hôn nhân với người nước ngoài còn chưa được nghiên cứu và kết luận, tuy nhiên, một bộ phận phụ nữ Việt Nam do các nguyên nhân kinh tế kết hôn, thiếu hiểu biết về ngôn ngữ, văn hoá và pháp luật của nước có người kết hôn nên chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh.

Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Định kiến giới và tư tưởng thích con trai cùng với việc tiếp cận dễ dàng đến các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán sớm giới tính thai nhi và dịch vụ nạo phá thai là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng tỷ số giới tính[12] tại một số địa phương gia tăng một cách bất thường. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy nếu tỷ số giới tính khi sinh quá cao sẽ gây ra những hậu quả về kinh tế – xã hội và nhân khẩu học hết sức nghiêm trọng.

Theo kết quả điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình của Tổng cục thống kê năm 2006 và 2007 cho thấy, trên phạm vi cả nước, tỷ số giới tính khi sinh đã có sự gia tăng. Năm 2007 là 112 bé trai được sinh ra trên 100 bé gái, cao hơn so với năm 2006 (110). Tỷ lệ này cũng cao hơn so với giá trị bình thường của tỷ số giới tính tại nhiều quốc gia trên thế giới (103-107). Theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2006 trong số 64 tỉnh/thành phố có 19 tỉnh/thành phố có tỷ số giới tính khi sinh từ 110 trở lên. Báo cáo của Bộ y tế, đến năm 2007, con số này đã tăng lên 35 tỉnh/thành phố. Đáng chú ý là có 8 tỉnh/thành phố có tỷ số giới tính khi sinh ở mức rất cao trong cả 2 năm 2006 và 2007 (từ 110 trở lên). Đó là các tỉnh Điện Biên, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Đắk Lắk và Ninh Thuận[13] (xem bảng 13, 14 của Phụ lục). Theo báo cáo của một huyện ở tỉnh Bình Phước, tỷ lệ giới tính (nam/nữ) khi sinh tăng đột biến lên tới 131/100 (năm 2007) và 141/100 (2008).

Mặc dù Chính phủ đã tiến hành một số biện pháp giảm mất cân đối giới tính khi sinh song tình trạng này vẫn chưa được được cải thiện nhiều. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải có sự quan tâm đặc biệt và tiếp tục truyền thông mạnh mẽ hơn nữa về hậu quả của lựa chọn giới tính thai nhi, xóa bỏ quan niệm trọng nam hơn nữ, tư tưởng thích con trai và cần khẳng định vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.

III. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN

Việc thực hiện bình đẳng giới và thi hành Luật bình đẳng giới còn một số tồn tại là do:

– Hoàn cảnh kinh tế – xã hội của đất nước còn có nhiều khó khăn đã hạn chế các điều kiện đầu tư cho công tác bình đẳng giới, các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới.

– Tư tưởng gia trưởng, trọng nam, khinh nữ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi; mặt khác nhận thức về vấn đề bình đẳng giới tuy đã có chuyển biến, nhưng chưa cao, do vậy, việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội còn có những hạn chế. Nhận thức của các cấp, các ngành còn nhiều bất cập; chưa tích cực, chủ động triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới và còn có tư tưởng coi công tác bình đẳng giới là của phụ nữ và cho phụ nữ nên nhiều hoạt động thực hiện còn mang tính hình thức.

– Một số quy định trong các lĩnh vực có liên quan đến bình đẳng giới còn chưa phù hợp đã dẫn tới những hạn chế điều kiện và cơ hội tham gia bình đẳng của phụ nữ như vấn đề tuổi nghỉ hưu[14]; tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm… của cán bộ, công chức nữ. Thiếu chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới; một số chính sách khuyến khích sử dụng lao động nữ không được thi hành như chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ban hành đã lâu nhưng chậm và khó thực hiện, do vậy không tạo động lực cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ và nâng cao các điều kiện bảo hộ lao động, chế độ đãi ngộ đối với lao động nữ.

– Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội chưa được quan tâm đúng mức nên việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật đảm bảo lồng ghép bình đẳng giới cũng còn lúng túng và có hạn chế nhất định.

– Trách nhiệm quá nặng đối với công việc gia đình[15] là một trong những cản trở phụ nữ được hưởng sự bình đẳng với nam giới trong mọi hoạt động nhất là tham gia quản lý, lãnh đạo, do vậy ảnh hưởng tới thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, quản lý.

– Luật bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007. Tuy nhiên, 3 nghị định hướng dẫn thi hành đều không được Chính phủ ban hành đúng tiến độ. Tính đến tháng 4/2009, mới chỉ có Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành là một trong các nguyên nhân khiến cho nhiều địa phương bị động, lúng túng trong tổ chức thực hiện và Luật chậm đi vào cuộc sống.

– Tổ chức, bộ máy về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ chậm được kiện toàn. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới, đặc biệt ở cấp địa phương còn mỏng và chưa được đào tạo đầy đủ kiến thức, kỹ năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

– Công tác thống kê số liệu có tách biệt giới chưa được các cơ quan, tổ chức quan tâm đúng mức, kể cả đối với cơ quan thống kê. Điều này đã hạn chế việc phân tích giới và lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật cũng như các chương trình phát triển kinh tế – xã hội khác.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

1. Về xây dựng chính sách, pháp luật

– Cần sớm nghiên cứu, ban hành chiến lược, chính sách và mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và báo cáo Quốc hội như quy định của Điều 25 Luật bình đẳng giới. Trên cơ sở đó, hằng năm báo cáo với Quốc hội việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

– Cần có tổng kết, đánh giá việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ các văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực không phù hợp với các nguyên tắc bình đẳng giới theo quy định tại Điều 6 của Luật bình đẳng giới.

– Cần quan tâm chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan soạn thảo thực hiện nghiêm túc quy trình lồng ghép giới, việc phân tích giới, báo cáo đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với nam và nữ trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

2. Về tổ chức thực hiện

– Cần sớm tiến hành việc phân bổ kinh phí cho các hoạt động về bình đẳng giới; cần thực hiện lồng ghép giới vào trong quy trình dự toán ngân sách nhà nước hằng năm trình Quốc hội.

– Tiếp tục tiến hành lồng ghép giới, đánh giá tác động giới trong các chính sách, chương trình, đề án về an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, đào tạo nghề… nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong quá trình tổ chức thực hiện.

– Sớm xây dựng và ban hành bộ chỉ số đánh giá bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm tiến hành thống kê, theo dõi hằng năm để đánh giá sát thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam và tạo cơ sở cho việc xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật và dự toán ngân sách nhà nước.

3. Về tổ chức bộ máy

– Sớm kiện toàn và phân công cán bộ (chuyên trách, kiêm nhiệm) làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại các bộ, ngành, địa phương.

– Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về giới, phân tích giới, lồng ghép giới cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở trung ương và địa phương.

– Nghiên cứu đưa nội dung về giới, lồng ghép giới vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Chính phủ để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về vấn đề này.

Trên đây là báo cáo giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và pháp luật bình đẳng giới của Uỷ ban về các vấn đề xã hội, xin trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

TM. UỶ BAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

KT. CHỦ NHIỆM

PHÓ CHỦ NHIỆM

(đã ký)

Lương Phan Cừ

PHỤ LỤC

Bảng 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam qua các kỳ bầu cử

1

Bảng 2: Tỷ lệ phân bố nữ đại biểu trong một số cơ quan của Quốc hội

2

Bảng 3: Tỷ lệ phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp

3

Nguồn: Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004.

Bảng 4: Tỷ lệ nữ Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp (%)

4

Bảng 5: Tỷ lệ nữ cán bộ trong UBND các cấp chia theo giới tính (%)

5

Nguồn: Báo cáo tình hình bình đẳng giới trong quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, Bộ nội vụ.

Bảng 6: Tỷ lệ nghề nghiệp của lao động nữ so với tổng số lao động (%)

6

Nguồn: Điều tra lao động – việc làm, ngày 1/8/2007, Tổng cục Thống kê.

Bảng 7: Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên có việc làm (%)

7

Nguồn: Điều tra lao động – việc làm ngày 1/8/2007 của Tổng cục thống kê

Bảng 8: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ tại khu vực thành thị (%)

9

Bảng 9: Dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ chia theo giới tính và vùng

9

Nguồn: Tổng cục thống kê

Bảng 10: Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ trong các trường cao đẳng, đại học (%)

10

Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo

Bảng 11: Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học

11

Nguồn: Hội đồng chức danh giáo sư, Bộ Giáo dục-Đào tạo qua các năm

Bảng 12: Tỷ lệ người khám/chữa bệnh trong 12 tháng qua chia theo giới tính

12

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình qua các năm, Tổng cục thống kê

Bảng 13: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng ở Việt Nam năm 2007

13

Nguồn: Số liệu thu thập từ hệ thống báo cáo của Bộ y tế, tháng 5/2008.

Bảng 14: Tỷ số giới tính khi sinh theo tỉnh/thành phố ở Việt Nam năm 2007

14

Nguồn: Số liệu thu thập từ hệ thống báo cáo của Bộ y tế, tháng 5/2008[18].


[1] Luật bình đẳng giới đã định nghĩa về “các mục tiêu bình đẳng giới” (Điều 4) và các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới do Chính phủ ban hành (Điều 25), tuy nhiên cho đến nay, phụ nữ vẫn là đối tượng chủ yếu để thúc đẩy bình đẳng giới, do vậy, các mục tiêu vì sự tiến bộ phụ nữ cũng được xem là một ưu tiên quan trọng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam.

[2] Chỉ số phát triển con người (HDI) là trung bình số học của 3 chỉ số cơ bản về năng lực của con người (tuổi thọ, học vấn và thu nhập thực tế). HDI bằng 1 là tốt nhất.

[3] Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ” (khoản 9, Điều 5, Luật bình đẳng giới). Cũng như HDI, GDI bằng 1 là tốt nhất.

[4] Tính đến thời điểm đầu nhiệm kỳ khóa XII (2007).

[5] Nghị quyết số 25/2008/NQ-QH12 của Quốc hội ngày 14/11/2008 quy định về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp đến năm 2011.

[6]Báo cáo của Bộ lao động – thương binh và xã hội số 1229/LĐTBXH-BĐG ngày 17/4/2009 về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

[7] Báo cáo của Bộ nội vụ gửi UBCVĐHX kèm theo công văn số 506/BC-BNV ngày 27/2/2009 về tình hình bình đẳng giới trong tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công chức.

[8] Hiện nay, có các ý kiến khác nhau về số liệu về tỷ lệ thất nghiệp, nhưng trong Báo cáo này dựa trên các số liệu do Tổng cục thống kê tính toán.

[9] GPI: là chỉ số cân bằng giới phản ánh mức độ tiếp cận giáo dục của nữ so với nam. GPI nhỏ hơn 1 nghĩa là nữ được tiếp cận giáo dục ít hơn so với nam giới.

[10] Bộ Giáo dục và Đào tạo: Báo cáo số 123/BC-BGDĐT gửi UBCVĐXH ngày 27/2/2009 về tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, tr.10.

[11] Chẳng hạn trong việc đi chợ mua thức ăn, tỉ lệ phụ nữ là 88,6%, nam là 5,5%, việc nấu cơm, tỉ lệ tương ứng là 79,9% và 3,3%, việc giặt giũ, tỉ lệ tương ứng là 77,3% và 2,8%. Đáng chú ý là ở những việc này, số người cho biết cả hai vợ chồng làm ngang nhau là rất thấp, tương ứng là 1,7%, 4,3% và 6,4%. Trong khi đó, đối với việc chăm sóc người ốm và chăm sóc con cái, tỉ lệ vợ chồng làm ngang nhau là cao hơn, tương ứng là 33,3% và 38,2% (Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Bình đẳng giới ở Việt Nam, Hà Nội 2007).

[12] Tỷ số giới tính khi sinh là số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ em gái. Bình thường tỷ số này là 105 (dao động từ 103-107).

[13] UNFPA: Thực trạng dân số Việt Nam 2007. Hà Nội 6-2008, tr. 19-20.

[14] Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về quy định của Bộ luật lao động đối với tuổi nghỉ hưu của nam và nữ chênh nhau 5 năm (nam: 60 tuổi, nữ: 55 tuổi). Một số ý kiến cho rằng, đây là biện pháp “đặc biệt tạm thời”/biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm tạo ưu tiên cho phụ nữ trong lao động, một số ý kiến khác cho rằng, xét dưới góc độ quyền bình đẳng nam, nữ thì tuổi nghỉ hưu của nam và nữ phải được quy định như nhau về phương diện pháp lý, trường hợp có ưu tiên cho phụ nữ thì cho phụ nữ có quyền lựa chọn về hưu sớm từ 1-5 năm.

[15] Sau khi lập gia đình, người phụ nữ có thiên chức là mang thai và sinh con nên thời gian dành cho công việc và sự nghiệp cũng bị ảnh hưởng hơn so với nam giới. Hơn nữa, phụ nữ chịu trách nhiệm chính trong tham gia vào các công việc gia đình như nấu nướng, dọn dẹp, chăm sóc con cái… Do vậy, thời gian và sức lực dành cho công viêc chuyên môn, thăng tiến trong nghề nghiệp và tham gia công tác xã hội cũng có hạn chế hơn so với nam giới.

[16] Đến nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII tách Uỷ ban pháp luật thành Uỷ ban pháp luật và Uỷ ban tư pháp.

[17] Đến nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, tách Uỷ ban kinh tế-ngân sách thành Uỷ ban tài chính-ngân sách và Uỷ ban kinh tế.

[18] Trích lại từ Thực trạng dân số Việt Nam năm 2007. UNFPA. Hà Nội 6-2008, tr. 21-22.

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: