BÁO CÁO SỐ 2156 BC/UBXH NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 2006 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUỐC HỘI KHÓA XI VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Theo Nghị quyết số 50/2005/QH11 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2006, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về dân số.

Ngay sau khi Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hành, Uỷ ban đã tổ chức khảo sát, đánh giá nhanh tình hình triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật về dân số, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về dân số; khảo sát, giám sát tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Cạn, Ninh Thuận, Bình Phước, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kon Tum, Khánh Hòa, Nam Định, Hải Phòng, Hà Tây, Tuyên Quang, Long An, thành phố Hồ Chí Minh; hội thảo về thực hiện chính sách, pháp luật về dân số tại Tuyên Quang, Thái Bình, Nghệ An, Long An, Nam Định, Hải Phòng; phối hợp với chuyên gia nghiên cứu đánh giá độc lập về vấn đề dân số ở cộng đồng và tổ chức nhiều hội nghị chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi kết quả giám sát về tình hình dân số.

Ngày 25/3/2006, Uỷ ban đã họp để nghe đại diện Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DS, GĐ & TE) báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về dân số. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, khảo sát, giám sát và trên cơ sở ý kiến thảo luận tại các hội nghị, hội thảo, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số vấn đề như sau:

I. KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

1.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Pháp lệnh Dân số đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 9/1/2003, có hiệu lực thi hành từ 01/5/2003. Nội dung Pháp lệnh đã đề cập toàn diện cả 4 yếu tố của vấn đề dân số, đó là quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư; do đó đã khắc phục được sự tản mạn, không thống nhất của văn bản pháp luật về dân số giai đoạn trước (trước đây, các quy định điều chỉnh các khía cạnh của vấn đề dân số được quy định rải rác ở Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình…).

Để triển khai thực hiện Pháp lệnh Dân số, Chính phủ cần ban hành 4 nghị định: Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số; Nghị định về Đăng ký dân số và hệ cơ sở hệ dữ liệu quốc gia về dân cư; Nghị định quy định xử phạt một số hành vi vi phạm hành chính về dân số, gia đình và trẻ em; Nghị định về tổ chức hoạt động của thanh tra dân số, gia đình và trẻ em.

Tuy nhiên, kể từ khi ban hành Pháp lệnh Dân số tới nay, Chính phủ mới ban hành được 2/4 Nghị định cần thiết, đó là Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số (sau 9 tháng kể từ khi Pháp lệnh được ban hành, chậm 4 tháng so với ngày Pháp lệnh có hiệu lực thi hành) và Nghị định số 36/2006/NĐ-CP ngày 03/4/2006 quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra dân số, gia đình và trẻ em. Như vậy, một số vấn đề trong xã hội đang bức xúc như: vấn đề di dân và phân bố dân cư, chất lượng dân số… đã được quy định trong Pháp lệnh nhưng vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể, kịp thời.

1.2. Triển khai chính sách, pháp luật về dân số tại các địa phương

a. Về chỉ đạo, tuyên truyền thực hiện Pháp lệnh Dân số

Trong giai đoạn đầu, khi Pháp lệnh Dân số mới được ban hành, ngành chuyên môn chậm định hướng công tác tuyên truyền, chưa kịp thời xây dựng được kế hoạch tuyên truyền phổ biến thực hiện Pháp lệnh dân số. Chính do sự chậm trễ đó, một số báo, đài, truyền hình lúng túng trong công tác tuyên truyền nên đã xuất hiện một số bài báo nêu không đúng tinh thần của Pháp lệnh Dân số. Có một số tin, bài báo cho rằng Pháp lệnh đã xóa bỏ việc kiểm soát quy mô dân số, người dân muốn sinh bao nhiêu con cũng được, các thông tin đó gây xôn xao, tạo thành dư luận xã hội và kích thích nguyện vọng sinh thêm con của một số cặp vợ chồng sinh con một bề, kể cả công chức, đảng viên.

Trong khi đó các cơ quan chức năng của Đảng và Chính phủ chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo tuyên truyền Pháp lệnh trong đội ngũ cán bộ, Đảng viên; còn tư tưởng đánh đồng, cào bằng vai trò trong việc chấp hành Pháp lệnh giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân. Thực tế tại nhiều địa phương có một số cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3 gây ảnh hưởng xấu tới cộng đồng và đã làm cho công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về chính sách dân số tại địa phương gặp nhiều khó khăn. Trong khi chờ văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số, đa số địa phương rất lúng túng trong việc tuyên truyền và triển khai thực hiện Pháp lệnh.

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn, công tác tuyên truyền, giải thích về Pháp lệnh Dân số đã được các cấp ủy đảng, chính quyền chú trọng chỉ đạo triển khai thực hiện nên tình hình dư luận xã hội đã ổn định, người dân đã dần dần nhận thức đúng về Pháp lệnh Dân số và việc thực hiện đã đi vào nề nếp.

Kết quả giám sát tại các địa phương cho thấy ở nơi nào Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quan tâm chỉ đạo kiên quyết, thống nhất về công tác dân số thì việc truyền thông và thực hiện Pháp lệnh Dân số về cơ bản là thuận lợi và có hiệu quả cao.

b. Kết quả thực hiện giảm sinh

Tỷ lệ sinh: Trong giai đoạn 2000 – 2004, tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục theo xu hướng giảm, nhưng giảm chậm và biến động. Tỷ lệ sinh năm 2001 là 18,6%o, năm 2002 là 19,0%o và 2003 là 17,5%o, vào năm 2004 là 19,2%o và giảm xuống 18,6%o vào năm 2005[1]. Tuy nhiên, chúng ta không thực hiện được chỉ tiêu giảm tỷ lệ sinh là 0,4%o/ năm theo Nghị quyết của Quốc hội (thực tế bình quõn chỉ giảm 0,14%o/ năm).

Hiện nay, mặc dù tỷ lệ sinh tuy đã ở mức khá thấp, song sự khác biệt giữa các vùng là khá lớn. Năm 2005; tỷ lệ sinh ở vùng Đồng bằng sông Hồng là 17,2%o, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 18,1%o; ngược lại ở Tây Nguyên là 23,9%o và Tây Bắc là 22,5%o. Đặc biệt tỷ lệ sinh còn cao ở một số vùng miền núi, một số vùng đồng bào có đạo.

Tổng tỷ suất sinh (số con bình quõn của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) của cả nước vẫn có xu hướng giảm từ 2,28 con năm 2000 xuống còn 2,25 con (năm 2001), 2,28 con (năm 2002) và 2,12 con (năm 2003), 2,23 (năm 2004) và giảm xuống 2,11 con vào năm 2005[2].

Như vậy kết quả cho thấy năm 2005, tỷ lệ sinh của dân số Việt Nam đã tiệm cận mức sinh thay thế, đó là bình quân 2 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam thuộc mức thấp so với các nước khu vực Đông Nam Á (mức bình quân chung của khu vực là 2,7 con), nhưng vẫn cao hơn một số nước (Sinh-ga-po là 1,3 con; Thái Lan là 1,7 con).

Hiện nay, tổng tỷ suất sinh ở nhiều vùng đã đạt mức trung bình là 2 con, như ở vùng Đông Nam Bộ là 1,85 con, Đồng bằng sông Cửu Long là 2,0 con và vùng Đồng bằng sông Hồng 2,06 con.

Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên: Đây là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện kết quả của công tác DS – KHHGĐ trong việc vận động thực hiện quy mô gia đình 1 – 2 con. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên của cả nước vẫn liên tục giảm trong 5 năm qua, tuy nhiên xu hướng giảm chậm hơn giai đoạn trước, tỷ lệ này từ mức 21,7% (năm 2002) giảm xuống 21,5% (năm 2003) và 20,2% (năm 2004) và 20,8% (năm 2005). Như vậy, tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2005 tăng nhẹ so với năm 2004. Năm 2005, tỷ lệ sinh con thứ 3 ở khu vực nông thôn (23,7%) cao gấp 2 lần so với khu vực thành thị (11,6%).

Trong mấy năm qua, tại nhiều tỉnh, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên đã ở mức thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân của cả nước, ví dụ: Bắc Giang là 10,4%, Hưng Yên 9,0% và Hòa Bình 8%…

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm trong hai năm 2003 – 2004 là tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng gia tăng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, song sang năm 2005 thì tỷ lệ này đã giảm so với năm 2004. Xét về mặt số lượng, tuy số cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3 không nhiều so với tổng số người sinh con thứ 3[3] nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến công tác vận động thực hiện DS-KHHGĐ, bởi vì cán bộ và Đảng viên là tấm gương để nhân dân noi theo.

Trong giai đoạn 2000-2005, sau khi Việt Nam nhận giải thưởng dân số của Liên hợp quốc, tỷ lệ giảm sinh có xu hướng chững lại và giảm chậm dần, không đạt chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội là do các nguyên nhân như sau:

* Về mặt chủ quan:

a) Do chưa nhận thức đầy đủ những khó khăn, phức tạp của công tác dân số dẫn đến tư tưởng chủ quan, thỏa mãn với kết quả ban đầu, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về dân số; chậm định hướng tuyên truyền, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số, từ đó dẫn đến khó khăn bất lợi cho công tác dân số như sau:

– Sáp nhập các cơ quan chuyên môn, tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS & KHHGĐ không ổn định. Thời kỳ từ năm 2000 – 2004, do bộ máy làm công tác dân số có biến động, là thời kỳ chờ đợi để sáp nhập, có dư luận cho rằng ghép cơ quan dân số với ngành khác. Do đó, một số cán bộ làm công tác dân số thiếu yên tâm, bỏ bê công việc, nhất là ở tuyến cơ sở, vì vậy không đủ sức để uốn nắn kịp thời các vấn đề dân số phát sinh. Hàng năm, đội ngũ cộng tác viên dân số xã thay đổi tới 20% mà phải làm tất cả các công việc về dân số, gia đình và trẻ em, trong khi chế độ chính sách cho cán bộ chuyên trách ở cơ sở và cộng tác viên dân số chưa phù hợp (cán bộ chuyên trách làm công tác dân số ở xã nhưng lại hưởng chế độ bán chuyên trách) và không có Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; thù lao cho cộng tác viên ở mức 25.000 đ/tháng, từ tháng 3/2006 vừa được điều chỉnh lên nhưng cũng chỉ ở mức 50.000 đồng/tháng.

– Việc phân bổ kinh phí hàng năm còn mang tính bình quân cơ học, cứng nhắc không phù hợp. Ví dụ, đa số các tỉnh miền núi, Tây Nguyên dân số thấp hơn các địa phương khác nhưng địa bàn lại rất rộng so với các địa phương khác. Nhiều tỉnh mong muốn có cơ chế linh hoạt để cho phép tỉnh có thể điều chỉnh việc phân bổ nguồn lực, chế độ phụ cấp cho cán bộ, cộng tác viên dân số từ vùng đã làm tốt cho các vùng mà tỷ lệ sinh còn cao.

– Do nguồn kinh phí hạn hẹp nên kinh phí phục vụ công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về chính sách dân số ở tuyến huyện, xã/phường còn quá ít so với yêu cầu, nhiệm vụ thực tế của công tác này.

– Một số địa phương không những không tăng mà còn cắt giảm kinh phí chương trình mục tiêu DS-KHHGĐ để chuyển cho công việc khác, làm giảm nguồn lực công tác dân số;

– Chưa xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách dân số, kể cả từ khi đã có Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị. Vì vậy, việc xử lý đảng viên sinh con thứ 3 trở lên khác nhau giữa các tỉnh, thậm chí giữa các địa bàn trong cùng một tỉnh. Có tỉnh khai trừ khỏi đảng, có tỉnh chỉ xử lý cảnh cáo, khiển trách song có tỉnh lại không xử lý gì, thậm chí có trường hợp sinh con thứ 3 nhưng vẫn được kết nạp vào đảng, phong hàm, thăng chức…

b) Công tác thông tin truyền thông hiệu quả chưa cao nên rất khó khăn trong việc khắc phục được tư tưởng bất bình đẳng giới cũng như quan niệm muốn có con trai để nối dõi tông đường.

* Về mặt khách quan:

Thời kỳ 2000 – 2005 là giai đoạn có số phụ nữ 20 – 29 tuổi tăng cao, đây là những người sinh ra sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc, đến nay khi bước vào tuổi kết hôn thì phải sinh đẻ nên làm tăng tỷ lệ sinh cho dù họ mới có 1 con.

– Theo quy luật nhân khẩu học và thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy khi tiệm cận mức sinh thay thế, tỷ lệ sinh sẽ dao động sau một số năm mới ổn định.

Riêng năm 2003, tỷ lệ sinh tăng cao còn có thêm một số nguyên nhân sau:

– Do một số tỉnh đề nghị xin được điều chỉnh tăng dân số (để bổ sung tỷ lệ bị bỏ sót trong Tổng điều tra dân số). Cá biệt, có tỉnh dù có đông dân xuất cư nhưng đề nghị không giảm để giữ chỉ tiêu kinh phí. Vì vậy, thực tế tỷ lệ phát triển dân số của cả nước là 1,38%, nhưng do điều chỉnh ở một số tỉnh nên kết quả lên tới 1,47%;

– Năm 2003 là năm Quý Mùi, theo quan niệm của nhân dân thì đây là năm “đẹp” nên nhiều người đã sinh con vào thời gian này…

– Sự chậm trễ trong định hướng tuyên truyền và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số đã làm cho 1 số người có con một bề sinh thêm con thứ 3.

c. Về chất lượng dân số

Trong những năm qua, Đảng và chính quyền các cấp đã quan tâm chỉ đạo các hoạt động nhằm từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 2000 đã tăng lên 71,3 tuổi năm 2005; chỉ số phát triển con người (HDI) từ 0,671 năm 2000 đã tăng lên 0,704 năm 2005; so với các quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người thì kết quả của Việt Nam là rất tiến bộ.

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm liên tục hàng năm, từ 31,9% năm 2001 giảm xuống 25,2% vào năm 2005. Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 35%o năm 1999 xuống còn 18%o vào năm 2005. Tỷ lệ này so với yêu cầu của Tổ chức Y tế thế giới cũng như so với các nước phát triển vẫn ở mức cao, song nếu so với quốc gia có cùng mức thu nhập thì Việt Nam tiến bộ hơn rất nhiều.

Tỷ lệ tử vong mẹ là 85/100.000 trẻ sinh ra còn sống (2004), đó là mức thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực có cùng thu nhập, ví dụ tỷ lệ này ở Phi-lip-pin là 200/100.000, In-đô-nê-sia là 230/100.000.

Theo số liệu chưa đầy đủ của Bộ Y tế, tỷ lệ nạo, hút thai so với tổng số ca đẻ đã giảm trong mấy năm qua, nhưng vẫn ở mức cao: 44,3% (năm 2003) giảm xuống 36,7% (năm 2005). Tỷ lệ nạo hút thai năm 2005 ở một số vùng như Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ tăng hơn so với năm 2004[4].

Dù đã ở mức thấp, song tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi không đồng đều giữa các khu vực. Trong khi nhiều vùng đồng bằng, đô thị các chỉ số này ở mức khá thấp, thì ở vùng miền núi các chỉ số này cao gấp 1,5 – 2 lần. Bên cạnh đó lại xuất hiện tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em, đặc biệt là ở khu vực thành thị.

Uỷ ban chúng tôi đặc biệt hoan nghênh ngành y tế đã tổ chức và phát triển ngày càng rộng rãi các dịch vụ khám và điều trị hiếm muộn, bởi vì hiện nay ở nhiều địa phương tỷ lệ các cặp vợ chồng hiếm muộn lên đến 10%. Kết quả hoạt động khám, chữa hiếm muộn đã mang lại hạnh phúc và niềm vui cho nhiều cặp vợ chồng, đó là bằng chứng sinh động thể hiện sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với tất cả khía cạnh của vấn đề dân số chứ không phải chỉ có công tác giảm sinh.

Qua giám sát thực hiện chính sách dân số, Uỷ ban về các vấn đề xã hội thấy rằng một vấn đề bức xúc đang đặt ra với công tác dân số ở nước ta là dấu hiệu mất cân bằng giới tính khi sinh. Kết quả Tổng điều tra dân số năm 1999 cho thấy 16 tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh ở mức 115 đến 128 bé trai/100 bé gái. Một số nghiên cứu, khảo sát vào năm 2005 trên diện hẹp của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em cho thấy hiện tượng mất cân bằng về giới tính khá nghiêm trọng ở một số địa phương, có nơi lên tới 135 bé trai/100 bé gái (bình thường 106/100).

Nguyên nhân hiện tượng này là do tâm lý bất bình đẳng giới còn tồn tại phổ biến trong nhân dân, trong khi đó các quy định của Pháp lệnh Dân số về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi không được hướng dẫn đầy đủ. Thực tế giám sát tại một số bệnh viện cho thấy các bác sỹ, cán bộ y tế không nhận được chỉ thị hay hướng dẫn nào của lãnh đạo bệnh viện về việc siêu âm chẩn đoán giới tính thai nhi, vì vậy họ vẫn làm siêu âm để phát hiện giới tính thai nhi theo nguyện vọng của thai phụ như từ trước tới nay. Thậm chí ngày 13/5/2006, Báo Thanh niên vẫn còn đăng phụ trương quảng cáo lựa chọn giới tính thai nhi.

Sau nhiều lần nêu vấn đề của Uỷ ban về các vấn đề xã hội, Bộ Y tế đã tiếp thu và đã có công văn số 3698/BYT-SKSS, ngày 17/5/2006 nhắc nhở các bệnh viện trong ngành thực hiện quy định về cấm lựa chọn giới tính thai nhi của Pháp lệnh Dân số. Tuy nhiên, ngành y tế cần sớm ban hành một thông tư hướng dẫn thực hiện quy định này.

d. Về vấn đề phân bố dân cư và di dân

Do tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, những năm vừa qua tình trạng di dân từ khu vực nông thôn đến đô thị và các khu công nghiệp, để tìm việc làm đã diễn ra khá phổ biến và đặt ra nhiều vấn đề đối với quản lý nhà nước cũng như từ phía người dân. Chỉ tính riêng di dân đến t/p Hồ Chí Minh, mỗi năm trung bình có khoảng 150.000 người. Đây là vấn đề tất yếu của quá trình phát triển, góp phần phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế – lao động. Tuy nhiên, việc di dân này đã làm tăng quá nhanh dân số vùng đô thị trong khi cơ sở hạ tầng đô thị phát triển chưa theo kịp nên đã xuất hiện một số vấn đề bức xúc như sau:

– Khó quản lý, tiếp cận người di cư, do họ thường xuyên thay đổi chỗ ở.

– Lao động ở các khu công nghiệp và người di cư nói chung gặp rất nhiều khó khăn về nhà ở (70 – 80% ở nhà tạm), các dịch vụ xã hội, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được yêu cầu, tác động xấu tới chất lượng dân số; đăng ký hộ khẩu, hộ tịch gặp nhiều vướng mắc, trong khi đó các dịch vụ xã hội lại gắn liền với hộ khẩu… Đa số các địa phương còn lúng túng trong việc tổ chức xây dựng nhà ở, cung cấp dịch vụ xã hội cho lao động nhập cư… Bên cạnh đó còn có các luồng di dân tự do đến một số vùng miền núi gây nhiều khó khăn cho địa phương nơi có dân đến nhập cư.

Mặc dù tại Điều 17, 18, 19 của Pháp lệnh Dân số đã có những quy định về phân bố dân cư, di dân và Điều 35 quy định về quản lý dữ liệu dân cư quốc gia, song cho đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các quy định đó như thế nào.

1.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách, pháp luật về dân số

Nhờ sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng và Nhà nước, công tác dân số đã đạt được nhiều thành công, do đó Việt Nam đã được nhận giải thưởng của Liên hợp quốc về công tác dân số. Thực tế, tỷ lệ sinh tuy có dao động và giảm chậm trong 5 năm qua, song vẫn theo xu hướng giảm dần. Điều đáng mừng là kết quả Điều tra biến động dân số năm 2005 cho thấy Việt Nam đã tiệm cận mức sinh trung bình là 2 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Đó là kết quả của sự quan tâm, chỉ đạo, đầu tư liên tục của Đảng, Nhà nước trong nhiều năm qua; sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc nhất là Hội phụ nữ các cấp và toàn thể nhân dân, trong đó vai trò đặc biệt quan trọng là những cán bộ, cộng tác viên trực tiếp làm công tác dân số.

Năm 1989, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong đó quy định về công tác DS-KHHGĐ trên cơ sở vận động gia đình nên có từ 1-2 con. Năm 2003, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Dân số, văn bản pháp lý chuyên ngành cao nhất chỉ đạo công tác dân số một cách toàn diện hơn.

Sau khi ban hành Pháp lệnh dân số, nhất là từ khi có nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ, công tác tuyên truyền về dân số đã được chú trọng, đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, đoàn thể để vận động nhân dân tự nguyện thực hiện quy mô gia đình hạnh phúc, có từ 1 đến 2 con. Đặc biệt ngành dân số đã và đang tiếp tục thực hiện và mở rộng chương trình lồng ghép truyền thông dân số với việc triển khai chiến dịch đưa dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản về vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Nhìn chung công tác dân số và chăm sóc sức khoẻ sinh sản hiện nay đang dần ổn định.

Tuy vậy công tác dân số vẫn đang và sẽ còn gặp nhiều thách thức trong những năm tới:

– Trong nhiều năm qua, công tác dân số mới tập trung hướng dẫn thực hiện các biện pháp để hạn chế quy mô dân số, các yếu tố khác hầu như chưa được quan tâm để ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện, mặc dù đây là vấn đề bức xúc của xã hội (như vấn đề di dân, nâng cao chất lượng dân số, cân bằng giới tính thai nhi…).

– Năm 2005 dù chúng ta đã tiệm cận mức sinh thay thế, song kinh nghiệm thế giới cho thấy đây là giai đoạn tỷ lệ sinh sẽ dao động, vì vậy nếu không tập trung mọi nguồn lực cho công tác dân số thì chúng ta khó có thể giữ mức trung bình 2 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

– Với quy mô dân số 83 triệu người[5], vì vậy dù cho mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con thì dân số Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục gia tăng trong những năm tới. Để đạt được mục tiêu ổn định dân số ở mức 115 – 120 triệu người vào giữa thế kỷ 21 sẽ vẫn là một thách thức lớn với nước ta.

II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

* Đề nghị Ban bí thư – Trung ương Đảng khoá X: Sớm ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất trong toàn quốc việc xử lý cán bộ, Đảng viên vi phạm chính sách dân số theo Nghị quyết 47/BBT-TƯ khoá IX.

* Đề nghị Quốc hội:

– Ủng hộ việc ban hành Luật Dân số thay thế Pháp lệnh Dân số hiện hành.

– Hiện nay khi tỷ lệ sinh đã xuống mức thấp do đó tỷ lệ giảm sẽ chậm hơn những năm trước, vì vậy cần đưa ra chỉ tiêu giảm sinh hợp lý trong Nghị quyết của Quốc hội.

– Khi phân bổ ngân sách cần lưu ý tăng nguồn lực cho công tác dân số, gia đình và trẻ em; đặc biệt nguồn lực cho vùng có tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử vong trẻ em còn cao và những tỉnh, thành phố có mức dân nhập cư cao. Đồng thời chú trọng giám sát việc phân bổ, sử dụng ngân sách, tránh lãng phí và phân tán nguồn lực.

– Ủng hộ dự án Luật Bình đẳng giới để từng bước xoá bỏ bất bình đẳng giới, góp phần làm cân bằng giới tính, duy trì sự phát triển bền vững của dân tộc.

* Đề nghị Chính phủ

– Ban hành Nghị định về Đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Nghị định về xử phạt một số hành vi vi phạm hành chính về dân số, gia đình và trẻ em, hướng dẫn quản lý người di cư.

– Tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành liên quan ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số.

– Chỉ đạo Uỷ ban DS, GĐ & TE, các cơ quan hữu quan và các tổ chức chính trị – xã hội đẩy mạnh công tác truyên truyền về Pháp lệnh dân số, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý kịp thời các hành vi vi phạm chính sách, luật pháp về dân số.

– Tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đoàn thể đưa chỉ tiêu không sinh con thứ 3 trở lên vào điều lệ, hương ước, quy ước làng/bản, xã và làm tiêu chuẩn để xét công nhận cá nhân, gia đình văn hoá, làng, xã, cơ quan, đơn vị có nếp sống văn minh và trong việc xem xét, đánh giá đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.

– Tổng kết việc thực hiện Pháp lệnh Dân số sau 3 năm thi hành và sớm soạn thảo, trình Quốc hội Dự thảo Luật Dân số.

Trên đây là kết quả giám sát của Uỷ ban về các vấn đề xã hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân số, xin trân trọng báo cáo các vị đại biểu Quốc hội./.

T/M UỶ BAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Chủ nhiệm

Nguyễn Thị Hoài Thu


1,2 = Từ số liệu điều tra biến động DS & KHHGĐ vào ngày 1/4 hàng năm; đó là kết quả phản ánh mức sinh của năm trước đó.

[3] Từ năm 1998 đến năm 2004 số Đảng viên sinh con thứ 3 chiếm 2,2% so với tổng số 2,9 triệu đảng viên hiện naycủa cả nước.

[4] Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc SKSS năm 2005 và phương hướng năm 2006 của Bộ Y tế

[5] Gần 50% dân số dưới 25 tuổi, hơn 20% dân số trong độ tuổi vị thành niên, số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ trung bình mỗi năm khoảng 50 vạn người, cao gấp 3 lần số phụ nữ ra khỏi độ tuổi sinh đẻ.

THÔNG TIN VỀ DÂN SỐ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: