Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỔI MỚI QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

PHẠM THÚY HẠNH

Ở tất cả các quốc gia theo chế độ nhà nước pháp quyền, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là tiền đề cho việc hình thành và phát triển hệ thống pháp luật.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế thị trường, việc xác lập và hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật không chỉ đưa hoạt động ban hành văn bản pháp luật vào khuôn khổ quy phạm chung mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn ở Việt Nam và phù hợp với xu hướng phát triển lập pháp quốc tế, cũng như thúc đẩy kinh tế – xã hội của Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn. Bài viết này xin đề cập đến một số khuyến nghị đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong bối cảnh Việt Nam cũng đang tiến hành cải cách lập pháp.

Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần bảo đảm thực hiện nhất quán nguyên tắc Nhà nước pháp quyền trong toàn bộ quy trình từ giai đoạn sáng kiến lập pháp, ban hành theo thẩm quyền và uỷ quyền, soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo trước khi ban hành cho đến ký ban hành, công bố, đăng công báo, kiểm tra, giám sát văn bản sau khi ban hành. Nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đã được khẳng định trong Điều 2 và Điều 12 của Hiến pháp hiện hành và nguyên tắc này phải được thể hiện trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đều tuân thủ nguyên tắc thống nhất của Nhà nước pháp quyền: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Một trong những yêu cầu cơ bản nhất của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định, điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước thấy cần phải có để phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính bắt buộc thực hiện của quy định quy phạm pháp luật, bảo đảm tính công bằng, tính nhất quán và tính ổn định của hệ thống pháp luật.

Tuy nhiên, dự thảo sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội khoá 12 năm 2008 vẫn chưa thể hiện được các yêu cầu này. Quy định nguyên tắc này là rất quan trọng, đó là định hướng cho việc phát triển các điều khoản cụ thể của luật. Ngay trong Điều 3 dự thảo về nguyên tắc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa thể hiện nguyên tắc Nhà nước pháp quyền. Một số quy định trong luật cũng chưa thể hiễn rõ ràng nguyên tắc này và bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của công dân, ví dụ công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước trong các hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật (ở mức độ nhất định). Thực tế hiện nay là công dân chưa được tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận vào các hoạt động này của Nhà nước, dù Nhà nước có ban hành văn bản sai, công dân rất khó đề nghị thay đổi.

Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần phải đáp ứng yêu cầu đơn giản hoá hệ thống pháp luật nhất quán với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và phù hợp với thông lệ lập pháp quốc tế. Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam quá phức tạp, có tới 23 loại văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành từ trung ương đến địa phương, một hình thức văn bản quy phạm pháp luật có thể do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành và một cơ quan có thẩm quyền ban hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật. Các quy định về vấn đề này của Hiến pháp và của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành dẫn đến tình trạng chồng chéo về thẩm quyền ban hành, về phạm vi và nội dung giữa các loại văn bản quy phạm pháp luật, kết quả là không có cơ quan nào từ trung ương đến địa phương kiểm soát nổi tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thực tế. Nếu không giải quyết được tình trạng này thì không chỉ tiếp tục làm chậm tiến độ ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà vẫn kéo dài tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, gián tiếp hạn chế việc huy động các nguồn nội lực và ngoại lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Mặc dù các dự kiến sửa đổi của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có phương án giải quyết vấn đề này, giảm bớt một số loại văn bản quy phạm pháp luật nhưng vẫn chưa triệt để, vẫn còn tới 16 loại văn bản quy phạm pháp luật (chưa kể các văn bản quy phạm pháp lụât do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ban hành).

Vấn đề phân biệt văn bản pháp luật và văn bản quy phạm hành chính cũng chưa được dự thảo luật lần này đề cập đến. Việc phân biệt văn bản pháp luật và văn bản pháp quy hành chính đã được hầu hết các nước phát triển trên thế giới áp dụng theo các tiêu chí của một Nhà nước pháp quyền và ngay cả Trung Quốc khi tiến hành cải cách lập pháp cũng đã thực hiện khá thành công theo hướng này. Vì vậy, trong thời điểm Việt Nam sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần xác định rõ định hướng cải cách lập pháp để có thể tiến hành các bước tiếp theo một cách nhất quán: xây dựng Luật ban hành văn bản pháp quy hành chính thay thế Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Nhân dân; xây dựng Luật Ban hành quy trình, thủ tục ban hành văn bản hành chính; Luật Thủ tục hành chính,…

Cần tăng cường trách nhiệm ban hành thể chế, chính sách của cơ quan hành pháp, bảo đảm các văn bản được ban hành theo định hướng chính sách phù hợp với chủ trương của Đảng và chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn của Quốc hội và điều hành, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, giảm gánh nặng (số lượng) việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý hành chính, việc này phụ thuộc vào thẩm quyền và uỷ quyền được ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Theo đó, Chính phủ cần tách bạch giữa chức năng xây dựng chính sách, thể chế phục vụ quản lý nhà nước và chức năng quản lý nhà nước bằng các công cụ hành chính (trong đó có việc ban hành các văn bản hành chính và mệnh lệnh hành chính). Đây là xu hướng tiếp cận hiện đại mà nhiều nước phát triển đã thực hiện được để xây dựng một nền tảng pháp luật vững chắc và tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước gọn nhẹ, hiệu quả. Bất cập của Việt Nam là chưa phân định rõ ràng giữa chức năng hoạch định chính sách, xây dựng thể chế với quản lý nhà nước bằng các công cụ hành chính và cũng chưa xác định được các yêu cầu cụ thể cho các cơ quan hành pháp khi thực hiện các chức năng này. Chính vì lẽ đó, trách nhiệm của các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay chưa rõ ràng, chưa đầy đủ các nguyên tắc, tiêu chí để các cơ quan ban hành văn bản căn cứ vào đó xác định được ranh giới vấn đề cần quy phạm hoá, đối tượng cần điều chỉnh dẫn đến nhiều vấn đề được điều chỉnh quá mức cần thiết, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan ban hành văn bản hoặc có vấn đề cần sự điều chỉnh của pháp luật nhưng lại không được ban hành với hình thức văn bản cần phải có. Ví dụ như vấn đề tiêu chuẩn đạo đức đối với cán bộ công chức nhà nước là vấn đề của chính sách cán bộ thì lại được đưa vào Pháp lệnh Cán bộ công chức (đang dự kiến nâng lên thành Luật Cán bộ, công chức); hoặc vấn đề đăng ký bất động sản chỉ cần  quy định chung trong Luật Giao dịch bảo đảm lại được ban hành riêng Luật Đăng ký bất động sản; nhiều Chương trình, Đề án của các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện Chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ lại được thể chế hoá thành văn bản quy phạm pháp luật.

Thực hiện chủ trương cải cách nền hành chính của Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ này là xây dựng một nền hành chính thông suốt và hiệu quả, tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo trước Chính phủ. Bởi vì người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo vừa có vị trí là người lãnh đạo cao nhất của cơ quan chủ trì soạn thảo, hầu hết vừa là Thành viên Chính phủ nên sẽ là người hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung dự thảo khi trình lên Chính phủ và thay mặt Chính phủ trình Quốc hội. Cần quy trách nhiệm rõ ràng đối với người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo thậm chí cả chế tài nếu không thực hiện đúng quy trình và chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Cơ quan có trách nhiệm quản lý việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cần kiên quyết không chấp nhận cho cơ quan chủ trì soạn thảo trình hồ sơ dự thảo nếu thấy dự thảo chưa đạt yêu cầu, cho dù đã có trong chương trình. Bất cập hiện nay là để đạt yêu cầu về tiến độ trong chương trình đã đề ra, nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chuẩn bị chưa tốt, chưa hoàn thiện vẫn được trình cơ quan có thẩm quyền ban hành nên nhiều văn bản quy phạm pháp luật chất lượng thấp, sau đó phải sửa đổi trong thời gian ngắn. Đặc biệt, cần thận trọng khi ban hành luật, vì luật do Quốc hội ban hành, có hiệu lực pháp lý cao, đối tượng chịu sự tác động rộng nên nếu chất lượng luật không tốt, không khả thi thì không chỉ gây bất lợi cho các đối tượng liên quan thi hành luật đó mà còn sẽ phải sửa đổi luật sau thời gian thực thi ngắn, làm cho hệ thống pháp luật không ổn định, giảm tính cạnh tranh của quốc gia so với khu vực và quốc tế.

Quy định trong dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trình tự soạn thảo và thành phần, trách nhiệm ban soạn thảo chưa thể hiện đúng vai trò, trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo. Trong thực tế, thành phần ban soạn thảo đến từ nhiều cơ quan khác nhau, cơ quan chủ trì thường mời các chuyên gia của Quốc hội và Chính phủ, Bộ Tư pháp là những cơ quan sẽ có ý kiến thẩm tra, thẩm định sau khi hoàn thành giai đoạn soạn thảo thì có thuận lợi là các cơ quan thẩm định, thẩm tra sẽ theo dõi được quá trình soạn thảo và nắm bắt được ý đồ của ban soạn thảo, tham gia ý kiến sớm; nhưng mặt khác cũng sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của ý kiến thẩm định, thẩm tra. Việc thành lập ban soạn thảo do cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định thành phần và số lượng nên cơ quan chủ trì soạn thảo (nếu chủ định) có thể khống chế được các ý kiến khác với quan điểm của mình và việc tham gia của các cơ quan, tổ chức khác vào ban soạn thảo chỉ có tính hình thức, không thực chất, ý kiến chuyên gia không được coi trọng. Vì vậy, quyết định về nội dung dự thảo cuối cùng của ban soạn thảo thường là quan điểm của cơ quan chủ trì soạn thảo chứ không phải ý kiến đã thống nhất của các thành viên ban soạn thảo. Trên thực tế đã có một số Dự án luật, pháp lệnh đã trình ra Quốc hội nhưng ý kiến của các thành viên Ban soạn thảo đại diện cho các bộ ngành vẫn chưa thống nhất, thậm chí trái ngược nhau. Đây là điều tối kỵ vì khi trình dự thảo luật ra Quốc hội thì đó là dự thảo của Chính phủ trình chứ không phải là dự thảo do Bộ chủ trì soạn thảo trình, nên các quan điểm trình dự án luật phải là quan điểm đã thống nhất của Chính phủ.

Thực tiễn cho thấy để nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản cần phải tạo ra sức ép lớn về chịu trách nhiệm toàn bộ việc soạn thảo đối với các người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo thì việc tổ chức soạn thảo. Để thực hiện yêu cầu này không cần quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chỉ nên quy định các nguyên tắc chung cho các ban soạn thảo hoạt động và chịu trách nhiệm cuối cùng là người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo. Bên cạnh đó cần có các quy định quy trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo tại các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Quy chế làm việc của Chính phủ, quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức, người đứng đầu cơ quan hành chính (Luật Cán bộ công chức),…Ngay trong nội bộ cơ quan soạn thảo cũng cần tách biệt bộ phận xây dựng thể chế với bộ phận thực hiện quản lý hành chính nhà nước. Cơ chế này sẽ hạn chế được tình trạng cơ quan chủ trì soạn thảo thường bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành và tăng thêm quyền lực không cần thiết của cơ quan mình thông qua soạn thảo các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật.

Cần xây dựng một quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, gọn nhẹ, áp dụng chung cho tất cả các loại văn bản quy phạm pháp luật để có thể ban hành nhanh, đáp ứng yêu cầu về tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, mà vẫn bảo đảm yêu cầu về chất lượng do Quốc hội, Chính phủ đặt ra. Dự thảo sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ về quy định về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở các cơ quan trung ương, chưa hợp nhất được quy trình ban hành tất cả các loại văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (vẫn tồn tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân) nên chưa giải quyết được triệt để và toàn diện các vấn đề của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngay trong điều 1 dự thảo Luật này, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa chuẩn xác, nên quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa thể hiện được yêu cầu trên. Hiểu theo khái niệm tại điều này thì vẫn tồn tại các loại văn bản quy phạm pháp luật có quy trình ban hành khác nhau do 2 luật khác nhau điều chỉnh (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân). Như vậy là ngay nội hàm của khái niệm văn bản quy phạm pháp luật này đã chứa đựng mâu thuẫn. Dự thảo luật sửa đổi lần này lại có thêm quy định về văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (Điều 21) là không đúng về nguyên tắc điều chỉnh luật: một điều của luật này lại điều chỉnh phạm vi của một luật khác. Hơn nữa, cần tiếp tục nghiên cứu các quy định về tiêu chí xác định thẩm quyền, phạm vi, nội dung, đối tượng điều chỉnh để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác. Có thể chỉ xác định các nguyên tắc, thẩm quyền chung trong luật, còn các quy định cụ thể sẽ do văn bản hướng dẫn luật ban hành.

Về bố cục dự thảo sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nhiều quy định cụ thể không cần thiết, cần viết gọn lại, tập trung vào các yêu cầu của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các quy định về tổ chức thực hiện thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào thì sẽ do văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó quy định. Các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia vào quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ do Quốc hội, Chính phủ quyết định theo chủ trương đổi mới trong từng nhiệm kỳ, không nên quy định ở luật này, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các các chủ thể chủ động quyết định tổ chức thực hiện việc ban hành văn bản cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đạt hiệu quả cao nhất. Các quy định về hồ sơ thủ tục trình văn bản cần thể hiện tinh thần cải cách thủ tục hành chính của Quốc hội, Chính phủ, cần giảm bớt các loại giấy tờ không cần thiết để tiết kiệm chi phí, nhân lực và thời gian mà vẫn bảo đảm chất lượng. Ví dụ như quy định về hồ sơ dự thảo trình luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình cần tổng hợp các loại văn bản là: Tờ trình Chính phủ về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; Bản thuyết minh chi tiết và báo cáo đánh giá tác động của dự án lụât, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; Báo cáo tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo; Bản tổng hợp ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan và các chuyên gia, nhà khoa học về nội dung dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết thành một Bản thuyết minh tổng hợp toàn bộ nội dung của các báo cáo trên để bảo đảm tính logic, nhất quán, khoa học trong khi thể hiện các nội dung của dự thảo.

Cần bảo đảm chuẩn hóa, thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Không chỉ sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành mà cần nghiên cứu sửa đổi toàn diện tất cả các quy định hiện hành về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của quy định pháp luật về cùng một vấn đề, cùng loại văn bản quy phạm pháp luật, để tránh sự “khập khiễng” giữa các văn bản đã ban hành và các văn bản sẽ ban hành theo quy trình mới. Muốn sửa đổi toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cần sử dụng các biện pháp nhằm chuẩn hoá, thống nhất văn bản quy phạm pháp luật là kiểm tra, giám sát, rà soát, hợp nhất, hệ thống hoá, pháp điển hoá. Đây là các biện pháp, kỹ thuật lập pháp không thể thiếu trong một quy trình lập pháp hiện đại, nhưng rất khó được thực hiện tốt trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, bởi vì để thực hiện được các biện pháp này cần rất nhiều thời gian, công sức nghiên cứu khoa học và khảo sát thực tiễn công phu thì mới có thể đưa ra các kết quả khách quan, đáng tin cậy, làm cơ sở cho việc chuẩn hoá, thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Cần quy định các nguyên tắc, thẩm quyền, tiêu chí chung khi thực hiện các biện pháp này, nếu không các cơ quan sẽ thực hiện không thống nhất, vì đây là các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ quy trình lập pháp mà Việt Nam đang rất yếu và chưa hiểu đúng tầm quan trọng của nó. Để hoàn thiện hệ thống pháp luật, Việt Nam cần tiếp cận nhiều hơn với quy trình, kỹ thuật lập pháp hiện đại của quốc tế bảo đảm tính bền vững của văn bản vì Luật này là luật về quy trình, sẽ tác động có tính quyết định đến chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật.

Để có thêm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cần tiến hành nghiên cứu tổng kết việc thực hiện các quy định hiện hành về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở tất cả các lĩnh vực, từ trung ương đến địa phương và rà soát các quy định liên quan đến quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở tất cả các văn bản pháp luật hiện hành để nghiên cứu các bất cập, vướng mắc trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở các cấp độ khác nhau. Việc tổng kết thực tiễn và rút ra những bài học, kiến nghị các phương án giải quyết bất cập là rất cấp thiết, song chưa được các cơ quan liên quan coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Trên thực tế, các báo cáo tổng kết này thường có chất lượng thấp, không đưa ra được các kết quả nghiên cứu khoa học, khách quan, đáng tin cậy để làm căn cứ cho việc kiến nghị, đề xuất.

Bảo đảm thực hiện cam kết WTO về minh bạch hoá pháp luật trong suốt quy trình xây dựng pháp luật. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và dự thảo sửa đổi có quy định về việc lấy ý kiến của các đối tượng liên quan, song các quy định này chưa đủ rõ, mặc dù đã bổ sung quy định phải đăng tải dự thảo trước ít nhất 60 ngày trên website của Chính phủ (Điều 31). Thực tế hiện nay là ban soạn thảo chủ động lấy ý kiến các đối tượng thấy cần thiết, chủ yếu coi trọng việc lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan, mà chưa chú trọng lấy ý kiến đại diện các nhóm đối tượng có lợi ích liên quan trong xã hội. Các quy định hiện hành về việc lấy ý kiến chưa tạo ra môi trường cho các đối tượng có khả năng và mong muốn phản biện xã hội tham gia thường xuyên vào quy trình xây dựng pháp luật, như các luật sư, các chuyên gia pháp luật và các nhà khoa học,… Cần tiếp tục nghiên cứu thêm các quy định về việc đóng góp ý kiến trong suốt quy trình từ khi lập chương trình đến soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua, ban hành. Bởi vì mỗi giai đoạn trong quy trình ban hành văn bản có đặc điểm khác nhau nên việc góp ý kiến cũng cần những yêu cầu khác nhau, cần xác định ở mỗi giai đoạn đối tượng nào được góp ý, giá trị của ý kiến góp ý, hình thức góp ý và trách nhiệm, phạm vi tiếp thu, giải trình.

Thực hiện cam kết WTO về minh bạch hoá pháp luật cũng là tăng cường công khai, dân chủ theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm các quy định pháp luật thể hiện nguyện vọng của nhân dân và nhân dân có quyền tham gia xây dựng pháp luật. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần có những quy định về chế tài đối với việc thực thi công khai, dân chủ trong quy trình ban hành văn bản. Cân nhắc có nên cho phép các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia vào một số công đoạn trong quy trình ban hành hay không. Thực tế hiện nay, việc xây dựng nhiều luật, pháp lệnh và một số nghị định không còn khép kín mà đã có sự tham gia của một số tổ chức, cá nhân nhưng dưới hình thức đóng góp ý kiến của chuyên gia, chứ không trực tiếp thực hiện một công đoạn nào. Song nhu cầu thực tế hiện nay và xu hướng trong tương lai là một số đối tượng trong xã hội (không phải các cơ quan Nhà nước) mong muốn tham gia sâu vào quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khi vận động để ban hành chính sách đến trực tiếp tham gia soạn thảo, góp ý trực tiếp vào dự thảo và phát hiện các bất cập trong quá trình thực thi văn bản đã ban hành. Đây cũng là một xu hướng tích cực vì nếu văn bản quy phạm pháp luật xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, phản ánh khách quan các mối quan hệ xã hội thì sẽ khả thi hơn, điều chỉnh tốt hơn.

Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật theo một quy trình chặt chẽ, thống nhất, phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu phát triển của xã hội./.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Trích dẫn từ:

http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=497,29738947&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id=29736812&item

_id=29862211&p_details=1

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: