ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số 12/2009/L – CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ.

I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

1. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ:

Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản pháp luật cũng đã được ban hành kịp thời bao gồm 06 Nghị định của Chính phủ, 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 04 Thông tư cùng 04 Quyết định của các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Về cơ bản, đã kế thừa được các giá trị của các văn bản pháp luật được thể nghiệm trong thực tiễn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, gồm người sáng tạo, nhà sử dụng, công chúng hưởng thụ, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia, góp phần quan trọng kết thúc quá trình đàm phán để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ đã thực sự đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng trong hơn hai năm thi hành. Có trên 100 hội nghị, lớp tập huấn, hội thảo đã được tổ chức cho các đối tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan, từ giới sáng tạo đến nhà sử dụng, các cơ quan quản lý và thực thi với trên 10.000 lượt người tham dự. Nhận thức của công chúng, đặc biệt là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được nâng lên thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật.

Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn diễn ra đối với hầu hết các đối tượng được bảo hộ từ quyền tác giả, quyền liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống cây trồng. Nạn sao chép tác phẩm, vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa đã gây thiệt hại không nhỏ đối với các nhà đầu tư. Hầu hết các bản ghi âm, ghi hình, chương trình máy tính có giá trị bị sao chép lậu, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng bị làm giả, làm nhái. Môi trường kỹ thuật số nói chung, mạng thông tin điện tử nói riêng đã được khai thác với động cơ vụ lợi, xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả đối với các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Một số vụ việc đã được các tổ chức quốc tế, các quốc gia, doanh nghiệp nước ngoài yêu cầu các cơ quan nhà nước Việt Nam xem xét, xử lý.

Tình trạng vi phạm trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật. Năng lực, kinh nghiệm và hệ thống thực thi pháp luật có nhiều hạn chế, bất cập. Pháp Luật Sở hữu trí tuệ vẫn còn những quy định chưa phù hợp trong hoạt động thực thi bảo vệ quyền, một số điều khoản chưa tương thích với pháp luật quốc tế.

2. Những tồn tại chính của Luật Sở hữu trí tuệ:

– Có một số điều khoản chưa tương thích với luật pháp quốc tế như: quy định về giới hạn quyền tác giả tại Điều 26, giới hạn quyền liên quan tại Điều 33, chưa phù hợp với Công ước Berne. Nội dung quyền đối với giống cây trồng quy định tại các Điều 157, 160, 163, 165, 178, 186, 187, 188, 190, 194 chưa tương thích với Công ước UPOV, .

Có một số điều khoản có lỗi về kỹ thuật dẫn đến chưa tương thích với Công ước Berne tại các Điều 42 khoản 1 điểm a về tác phẩm “khuyết danh”; về loại hình tác phẩm tại Điều 14 khoản 1 điểm k thiếu tác phẩm “kiến trúc” chưa thực sự phù hợp với Công ước Berne.

– Có một số quy định qua thực tế thi hành bộc lộ những hạn chế, bất cập như các quy định về thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tại các Điều 87, 90, 119, 134, 154; các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các Điều 201, 211, 214, 216, 218.

– Một số vấn đề mới phát sinh trong quá trình hội nhập phải đáp ứng nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với pháp nhân và công dân nước ngoài, như vấn đề thời hạn bảo hộ quyền tác giả (Điều 27) cần được kéo dài hơn so với quy định hiện hành.

Nguyên nhân của các tồn tại của Luật Sở hữu trí tuệ:

– Về khách quan: bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề mới và phức tạp đối với Việt Nam, vì vậy, không tránh khỏi các khiếm khuyết và lỗi về kỹ thuật lập pháp trong quá trình chuẩn bị và phê duyệt.

– Về chủ quan: có một số điều luật được quy định nhằm đáp ứng yêu cầu đối với hoạt động của các phương tiện phát sóng phục vụ cộng đồng, nhưng chưa phù hợp với luật pháp quốc tế (Điều 26, 33). Quy định này đã trở thành vấn đề tại các diễn đàn quốc tế liên quan, tại các vòng đàm phán về việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam, đã quy định áp dụng trực tiếp các Điều 26, 33 của Luật Sở hữu trí tuệ tại phụ lục kèm theo Nghị định thư: “Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm, bản ghi âm ghi hình đã công bố để thực hiện chương trình phát sóng không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan”.

3. Để giải quyết các tồn tại, bất cập trên về pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần thiết phải thể chế hóa Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11, đồng thời sửa đổi một số điều khoản khác hiện đang chưa tương thích với luật pháp quốc tế, một số điều khoản chưa phù hợp gây khó khăn cho hoạt động thực thi, cũng như những vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện. Việc sửa đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội nhập, khắc phục các tồn tại bất cập, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức Việt Nam bình đẳng với công dân và pháp nhân của các quốc gia, thúc đẩy các hoạt động thực thi tại Việt Nam và hội nhập quốc tế. Việc sửa đổi đồng thời sẽ góp phần quan trọng phát huy năng lực sáng tạo, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển thị trường công nghệ, từ đó nâng cao hiệu lực của pháp luật, hiệu quả thực thi, góp phần phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

II. Quan điểm chỉ đạo sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

Năm quan điểm xây dựng, trình và phê duyệt Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 tiếp tục được quán triệt để triển khai thực hiện, bao gồm: thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, quy phạm hóa nội dung Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam; bảo vệ lợi ích quốc gia; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ; kế thừa các giá trị pháp luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Từ các quan điểm trên, 3 hướng chính cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ gồm:

– Sửa đổi một số điều khoản có nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế đa phương, các điều khoản khác phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập;

– Sửa đổi một số điều khoản đang nảy sinh các vướng mắc trong thực thi;

– Chỉnh sửa các lỗi kỹ thuật về nội dung văn bản và các từ ngữ phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Từ các quan điểm chỉ đạo và hướng sửa đổi, bổ sung nêu trên, Dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đã được Ban soạn thảo chuẩn bị, tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan. Có 4 nhóm vấn đề được đề cập đến trong việc sửa đổi, bổ sung gồm:

a) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới nội dung quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng, thuộc Phần thứ hai và Phần thứ tư Luật hiện hành;

§iÒu 1. b) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thuộc Phần thứ ba và Phần thứ sáu Luật hiện hành;

c) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thuộc Phần thứ nhất và Phần thứ năm Luật hiện hành;

d) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các quy định pháp luật liên quan.

III. Nội dung cơ bản của các điều khoản sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

1. Những nội dung cơ bản của các điều khoản sửa đổi, bổ sung

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ gồm 3 Điều. Điều 1, sửa đổi, bổ sung một số khoản, điểm tại 30 Điều của Luật sở hữu trí tuệ, gồm các Điều 3, 4, 7, 8, 14, 25, 26, 27, 30, 33, 41, 42, 87, 90, 119, 134, 154, 157, 160, 163, 165, 186, 187, 190, 194, 201, 211, 214, 218 và Điều 220. Điều 2, thay cụm từ “Bộ Văn hóa – Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại Điều 11, Điều 50, và Điều 51 của Luật Sở hữu trí tuệ. Luật sửa đổi lần này tiếp tục khẳng định việc duy trì thẩm quyền của Bộ Văn hóa, Thông tin trước kia, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan như đã được quy định tại Điều 11 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Điều 3 quy định hiệu lực thi hành Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Tại phần thứ nhất: sửa đổi, bổ sung 5 Điều, gồm các Điều 3, 4, 7, 8, 11

Điều 3: bổ sung cụm từ “vật liệu thu hoạch” để phù hợp Công ước UPOV về giống cây trồng

Điều 4: bổ sung 2 thuật ngữ để quy định rõ và đầy đủ nội hàm của vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

Điều 7: bổ sung quy định về bảo hộ sáng chế mật. Đây là vấn đề mới và phức tạp, vì vậy Quốc hội giao Chính phủ quy định cụ thể để thực hiện và sẽ được luật hoá sau một thời gian kiểm nghiệm qua thực tiễn thi hành.

Điều 8: để thực hiện được những chính sách đã quy định tại Điều này phải có sự đầu tư các nguồn lực khác nhau, trong đó có nguồn từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, bổ sung khoản 5 về đẩy mạnh đầu tư và huy động các nguồn lực xã hội nhằm nâng cao năng lực của hệ thống bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Tại phần thứ hai: sửa đổi, bổ sung 10 Điều, gồm các Điều 14, 25, 26, 27, 30, 33, 41, 42, 50, 51

Điều 14: bổ sung 2 từ “kiến trúc” vào điểm k khoản 1 để phù hợp với Công ước Berne.

Điều 25: Sửa khoản 3 theo hướng không áp dụng điểm a, đ khoản 1 đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.

Điều 30: Bổ sung cụm từ “nhập khẩu” để phù hợp với Điều 2 Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ. Việc bổ sung này cũng phù hợp với Điều 4 khoản 6 BTA. Đồng thời nó cũng phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tài sản thuộc quyền tác giả.

Điều 26, 33: sửa để phù hợp với Điều 11bis Công ước Berne, quy phạm hoá Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư thành lập WTO về việc áp dụng trực tiếp nội dung quy định tại Phụ lục kèm theo.

Việc sửa đổi có phân biệt việc trả tiền nhuận bút, thù lao trong trường hợp sử dụng để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào và việc sử dụng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất cứ hình thức nào. Quy định này phù hợp với thực tiễn của Việt Nam vì trong nhiều năm qua, phần lớn tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, kể cả nguồn nhân lực sáng tạo chung đều được hình thành bởi sự đầu tư, bao cấp của Nhà nước và xã hội. Do đó, phải tính đến lợi ích của Nhà nước và cộng đồng xã hội. Đồng thời, cũng phù hợp với khoản 2 Điều 11bis Công ước Berne cho phép quốc gia thành viên được quy định điều kiện áp dụng quyền tác giả, bảo đảm không vi phạm quyền tinh thần cũng như quyền được nhận thù lao hợp lý của tác giả. Quy định như vậy cũng không mâu thuẫn với Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội. Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự đã được quy định trong Bộ Luật dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, trước hết cần thực hiện theo nguyên tắc thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì giao Chính phủ quy định về mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán để thực hiện; đồng thời làm căn cứ để Toà án giải quyết khi đương sự khởi kiện tại Toà án.

Điều 27: loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh, được kéo dài thời hạn bảo hộ tới 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Quy định này vừa nhằm khuyến khích tác giả, chủ sở hữu công bố tác phẩm phục vụ xã hội, vừa nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích giữa loại hình tác phẩm tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc đời người và loại hình tác phẩm tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc định hình hoặc công bố; đồng thời để bảo đảm sự công bằng cho người Việt Nam với người nước ngoài khi áp dụng thời hạn bảo hộ này theo cam kết tại BTA và thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Hiệp định TRIPS.

Như vậy, các loại hình tác phẩm còn lại bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo khoa, giáo trình, bài giảng, bài phát biểu, báo chí, kiến trúc, tạo hình, âm nhạc, chương trình máy tính v.v… quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 27 vẫn giữ nguyên thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết.

Đối với tác phẩm sân khấu, theo Công ước Berne, Hiệp định TRIPs và phù hợp với BTA thì thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết. Do đó, nó đã được chuyển sang bảo hộ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27.

Điều 41: Bổ sung khoản 2 để khuyến khích người quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định, phù hợp với điều 15 Công ước Berne. Theo đó, tại điểm a khoản 1 Điều 42 bổ sung quy định loại trừ khoản 2 điều 41 về Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước.

Tại phần thứ ba: sửa đổi, bổ sung 5 Điều, gồm các Điều 87, 90, 119, 134, 154.

Điều 87: bổ sung quy định về đăng ký nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm, để thống nhất quyền quản lý chỉ dẫn địa lý đối với đối tượng được coi là tài sản quốc gia.

Điều 90: sửa đổi nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, để bảo đảm không cấp nhiều văn bằng bảo hộ cùng loại đối với cùng một đối tượng hoặc đối với các đối tượng không khác biệt nhau.

Điều 119: sửa đổi điểm a, b khoản 2 Điều 119 để giãn thời hạn thẩm định nội dung đơn: đối với đơn sáng chế, từ 12 tháng thành 18 tháng và đối với đơn nhãn hiệu từ 6 tháng thành 9 tháng, và kiểu dáng công nghiệp từ 6 tháng thành 7 tháng, nhằm đảm bảo tính khả thi, cấp văn bằng chính xác, tránh tồn đọng hồ sơ đăng ký, cũng như tránh phải hủy bỏ văn bằng bảo hộ phù hợp với quyền ưu tiên theo Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.

Điều 134: sửa mốc thời gian xác lập quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp để bảo đảm tương thích với Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.

Điều 154: bổ sung điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, trừ tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam, phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Tại phần thứ tư: sửa đổi, bổ sung 8 Điều, gồm các Điều 157, 160, 163, 165, 186, 187, 190, 194.

Điều 157: sửa để phù hợp với Công ước UPOV về tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

Điều 160: loại bỏ điểm d khoản 2 quy định về giống cây trồng mà bản mô tả chi tiết của giống đó đã được công bố, để phù hợp với Công ước UPOV.

Điều 163: loại bỏ điểm e khoản 3, quy định về tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các trường hợp trùng hoặc tương tự với tên của sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng đó, bổ sung khoản 6 quy định về công khai tên giống cây trồng để phù hợp với Điều 20 Công ước UPOV.

Điều 165: Bổ sung các khoản 2, 3, 4, 5 về điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.

Điều 186: bổ sung khoản 2 quy định về quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 14 Công ước UPOV.

Điều 187: sửa đổi quy định về mở rộng quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 14 Công ước UPOV.

Điều 190: sửa đổi quy định về hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV.

Điều 194: bổ sung khoản 4 quy định về việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng được tạo ra từ ngân sách nhà nước.

Tại phần thứ năm: sửa đổi, bổ sung 4 Điều, gồm các Điều 201, 211, 214, 218

Điều 201: sửa để cho phép các tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện theo quy định pháp luật được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ. Quy định này phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay, đồng thời đảm bảo chủ trương xã hội hoá của hoạt động này. Các Bộ liên quan có thể thành lập các đơn vị sự nghiệp, để tham gia thực hiện hoạt động giám định.

Điều 211: mở rộng phạm vi xử lý hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, để các cơ quan có thẩm quyền chủ động kiểm tra xử lý vi phạm.

Điều 214: bỏ quy định về mức phạt tiền theo giá trị hàng hóa xâm phạm để áp dụng quy định chung của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt tối đa 500 triệu đồng.

Điều 218: sửa thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan, để phù hợp Điều 55 Hiệp định TRIPS, Điều 15.5 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tại phần thứ sáu: sửa đổi Điều 220

Điều 220: sửa lời văn của quy định chuyển tiếp liên quan đến văn bằng bảo hộ cấp theo quy định pháp luật có hiệu lực trước Luật Sở hữu trí tuệ tại khoản 3 để tránh gây hiểu và áp dụng sai trong thực tiễn; bổ sung quy định áp dụng quy định chuyển tiếp cho tên gọi xuất xứ hàng hóa – đối tượng được xác lập quyền mà không cấp văn bằng bảo hộ.

2. Tác động của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ:

Với việc sửa đổi như trên, sự tác động tích cực của nó sẽ thể hiện trên các khía cạnh chính sau:

– Tạo ra sự phù hợp hơn của Luật Sở hữu trí tuệ với các chuẩn mực quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO

Các Điều, khoản được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các Điều ước quốc tế đa phương, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc sửa đổi này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế với các chuẩn mực chung, phù hợp.

Khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam với cơ chế pháp luật rõ ràng, mang tính quốc tế.

Hạn chế tối đa tranh chấp về việc hiểu và thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trong các quan hệ quốc tế. Loại trừ ý kiến của các quốc gia tại các diễn đàn quốc tế liên quan về những hạn chế của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

– Lợi ích quốc gia được bảo vệ trong quá trình hội nhập; tạo ra sự bình đẳng về lợi ích giữa công dân, pháp nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước ngoài

Các sửa đổi, bổ sung sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam, đảm bảo sự hài hoà về lợi ích giữa các chủ thể quyền trong và ngoài nước, khắc phục các hạn chế trong các cam kết quốc tế, tạo vị thế và thuận lợi cho các chủ thể quyền trong các giao dịch quốc tế liên quan.

Việc sửa để kéo dài thời hạn bảo hộ tới 75 năm đối với loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh; để cân bằng lợi ích giữa các loại hình, phù hợp với xu thế chung trên thế giới, vì tuổi thọ bình quân của con người đã được nâng lên (người Việt Nam có tuổi thọ bình quân là 73 tuổi); đồng thời khắc phục sự đối xử bất bình đẳng về thời hạn bảo hộ đã cam kết tại BTA. Sửa đổi này cũng nhằm để công dân, pháp nhân Việt Nam được hưởng các lợi ích như công dân, pháp nhân các nước thành viên WTO khi Việt Nam thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Hiệp định Trips.

Việc bổ sung quy định về sáng chế mật để có thể bảo vệ được bí mật quốc phòng, bí mật quốc gia; quy định về chỉ dẫn địa lý đối với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận sẽ bảo vệ được tài sản quốc gia trong hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nó hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Công dân, doanh nghiệp được tiếp cận các quy định rõ ràng và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xác lập quyền

Các sửa đổi, bổ sung tạo điều kiện cho công dân, doanh nghiệp tiếp cận các thủ tục rõ ràng, minh bạch trong việc tiến hành xác lập quyền, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính. Giảm các chi phí về tài chính cũng như thời gian vật chất liên quan đến việc lập hồ sơ, thủ tục nộp đơn, xin cấp văn bằng bảo hộ. Khuyến khích các chủ sở hữu nộp đơn đăng ký xác lập quyền để được bảo hộ. Ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà có thể xảy ra tại các cơ quan có thẩm quyền.

– Các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ được hưởng các chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt động thực thi có hiệu quả

Bổ sung quy định chính sách nhằm bảo đảm các điều kiện vật chất phù hợp với đặc thù của lĩnh vực sở hữu trí tuệ, để hỗ trợ các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ còn non trẻ, đang gặp nhiều khó khăn trong cơ chế chung hiện nay. Góp phần thúc đẩy các hoạt động thực thi đạt hiệu quả.

Theo đó, các bộ, ngành có thẩm quyền quan tâm xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính, cũng như các điều kiện vật chất khác, để các cơ quan quản lý, thực thi sở hữu trí tuệ hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật.

Việc các bộ, ngành liên quan thành lập các tổ chức sự nghiệp để tham gia hoạt động giám định sẽ khắc phục tình trạng bất cập về chuyên môn sở hữu trí tuệ trong lực lượng thực thi thuộc bộ máy nhà nước, các tổ chức hỗ trợ thực thi như tổ chức tư vấn, dịch vụ sở hữu trí tuệ, tổ chức đại diện tập thể. Chủ trương này còn nhằm tận dụng năng lực chuyên môn của đội ngũ chuyên gia trong các cơ quan nhà nước, để hỗ trợ hoạt động của các cơ quan thực thi trong điều kiện chưa đủ năng lực chuyên môn về sở hữu trí tuệ.

– Nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho công chúng, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ lần này tạo ra dư luận xã hội quan tâm hơn nữa tới vấn đề sở hữu trí tuệ còn mới mẻ và rất phức tạp tại Việt Nam. Là dịp củng cố, tiếp tục nâng cao nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng. Các văn nghệ sỹ, trí thức phấn khởi, yên tâm hơn trong các hoạt động sáng tạo để có được các sản phẩm có giá trị tư tưởng, văn học, nghệ thuật và khoa học phục vụ công chúng, vì có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.

Các cơ quan bảo vệ pháp luật được trang bị thêm kiến thức mới, đầy đủ, cụ thể hơn để có thể thực thi pháp luật có hiệu quả. Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuận lợi hơn trong việc áp dụng khung hình phạt phù hợp với thẩm quyền. Cơ quan hải quan có điều kiện chủ động hơn trong việc xử lý hàng hoá xuất, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu biên giới.

Như vậy việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức, cá nhân tiếp cận được hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiện đại, phù hợp với thực tiễn; tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, thực thi, các cơ quan hỗ trợ thực thi, góp phần tạo ra chuyển biến tích cực, có hiệu quả của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia và hội nhập quốc tế./.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện

1.1. Các Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và công nghệ và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn dự kiến trong Quý IV/2009 trình Chính phủ 04 Nghị định sau:

– Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan;

– Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;

– Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về giống cây trồng;

Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đối với các quy định chung cho 3 đối tượng sở hữu trí tuệ.

1.2. Theo thẩm quyền của mình, các Bộ có thể có các thông tư, hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn những vấn đề cụ thể do Chính phủ giao, hoặc có nhu cầu từ thực tiễn. Riêng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có kế hoạch phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu xây dựng thông tư liên tịch về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ internet.

2. Về tuyên truyền, phổ biến pháp luật

2.1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có kế hoạch ban hành kèm theo quyết định số 2651/QĐ-BVHTTDL ngày 30/7/2009 về việc tổ chức giới thiệu Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Theo đó, có 6 chương trình được tổ chức cho các đối tượng khác nhau từ giới báo chí, đến các đối tượng của cơ quan quản lý văn hóa, thể thao và du lịch ở Trung ương và địa phương, các cơ quan thực thi trên phạm vi cả nước.

2.2. Website “Quyền tác giả Việt Nam” truyền phát toàn bộ hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quốc tế, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; các hoạt động liên quan đến việc triển khai thi hành, kiểm tra xử lý vi phạm.

2.3. Tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, sau khi Chính phủ ban hành (Quý I/2010).

2.4. Tổ chức các hội thảo quốc tế, quốc gia:

– Tổ chức Hội thảo quốc tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với sự phối hợp của WIPO và Cục Bản quyền tác giả về quyền tác giả trong công nghệ thông tin – truyền thông vào các ngày 29, 30, 31/7/2009.

– Tổ chức Hội thảo về truyền hình trả tiền với sự phối hợp giữa Cục Bản quyền tác giả với CASABAA (dự kiến trong năm 2009)

– Tổ chức Hội thảo về thu tiền đền bù từ các thiết bị ghi và vật ghi, trong đó có đĩa quang, với sự phối hợp giữa Cục Bản quyền tác giả và Viện Sở hữu trí tuệ của Liên bang Thụy Sĩ (tháng 10/2009)

2.5. Tổ chức hội nghị tổng kết 01 năm thi hành Chỉ thị 36 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan (Quý I/2010).

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: