TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHIẾU: “ÔM” CỔ PHIẾU RỒI “XÙ”

VI TRẦN

Vì giá cổ phiếu không như kỳ vọng, bên mua từ chối “ôm” dù đã ký hợp đồng, nhận tiền cổ tức… và tòa cũng hủy luôn việc mua bán này.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa tuyên hủy việc mua bán cổ phiếu giữa ông T. với bà Th. vì cho rằng giao dịch giữa hai bên không hợp pháp. Điều đáng nói là trước đó bà Th. đã đồng ý ký hợp đồng mua cổ phiếu, đã nhận tiền lãi hằng năm từ số cổ phiếu này…

Chỉ tại cổ phiếu không tăng

Đầu năm 2007, Công ty Xuất nhập khẩu B. chia cổ phần cho nhân viên để huy động vốn mở rộng kinh doanh. Theo chủ trương chung, công ty sẽ chia cổ phần cho nhân viên của công ty theo thâm niên công tác, mức lương…, sau đó sẽ phát hành ra ngoài. Công ty dự kiến mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 ngàn đồng.

Phán đoán giá cổ phiếu Công ty B. sẽ tăng, ông T. đã thỏa thuận mua hơn 130 cổ phiếu của hai nhân viên công ty với giá 150 ngàn đồng/cổ phiếu. Hai bên chỉ làm thỏa thuận mua bán bằng giấy tay vì Công ty B. chưa cấp sổ cổ đông cho nhân viên.

Có giấy thỏa thuận, ông T. bèn tìm người bán để kiếm lời và bà Th. đã đồng ý mua. Thay vì ông T. trực tiếp mua bán hơn 130 cổ phiếu với bà Th. thì ông lại nhờ một người bạn đứng ra giao dịch. Thế là vào tháng 10-2007, bà Th. đã ký vào tờ hợp đồng do ông T. soạn sẵn rồi giao hơn 400 triệu đồng cho bạn của ông T. mang về.

Sáu tháng sau thời điểm ông T. bán cổ phiếu cho bà Th., Công ty B. cấp sổ cổ đông cho nhân viên. Nhận được sổ, hai nhân viên Công ty B. liền chuyển số cổ phiếu cho ông T. như thỏa thuận ban đầu. Ông T. liền yêu cầu bà Th. đưa giấy tờ để ông chuyển tên sở hữu số cổ phiếu của mình cho bà. Song song đó, ông T. cũng đã chuyển đến bà Th. hơn ba triệu đồng tiền cổ tức mà Công ty B. chia cho số cổ phiếu trên.

Mọi chuyện tưởng xuôi chèo mát mái nhưng lúc này, cổ phiếu của Công ty B. không tăng giá như kỳ vọng nên bà Th. đã yêu cầu ông T. hủy hợp đồng mua bán cổ phiếu, trả lại tiền cho mình.

Tòa: Giao dịch không hợp pháp!

Tại phiên phúc thẩm vừa qua, ông T. nói tại thời điểm mua bán cổ phiếu với bà Th. thì ông có quyền tài sản trên hơn 130 cổ phiếu trên nên ông có quyền định đoạt chúng. Bà Th. đã ký vào thỏa thuận mua quyền của số cổ phiếu này và đã nhận tiền cổ tức của Công ty B. nên không thể nói là không tự nguyện.

Cạnh đó, ông T. cho rằng Luật Doanh nghiệp cũng không cấm chuyện mua bán này nên ông yêu cầu bà Th. phải tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết. Ông T. còn than: “Giả sử cổ phiếu này lên sàn và tăng giá, tôi chắc chắn rằng bà Th. sẽ rượt tôi để đòi sang tên chúng chứ không đòi hủy ngang hợp đồng như thế này”.

Tòa phân tích: Tại thời điểm ông T. mua cổ phiếu của hai nhân viên Công ty B., công ty này chưa cấp sổ cổ đông cho họ nên ông T. không có cổ phiếu tại đó. Nếu có chuyện mua bán giữa ông T. với hai nhân viên thì việc mua bán này là không hợp pháp bởi trong điều lệ, Công ty B. quy định việc mua bán cổ phiếu phải có sự đồng ý của công ty trong khi hai nhân viên kia lại tự ý bán.

Vì ngay từ đầu việc mua bán cổ phiếu giữa ông T. với hai nhân viên của Công ty B. không hợp pháp nên các hợp đồng, giao dịch sau đó sẽ đương nhiên vô hiệu. Do đó, tòa đã tuyên giao dịch giữa ông T. với bà Th. vô hiệu và phía ông T. phải trả lại cho bà Th. hơn 400 triệu đồng.

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: