Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – VẤN ĐỀ CƠ BẢN NHẤT CỦA TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. NĂM 2009

Người thực hiện: Quách Mạnh Quyết 

Giới tính: Nam   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS31B 

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Trần Phương Thảo

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1. Tính cấp thiết của đề tài

Luật tố tụng dân sự (TTDS) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Là luật hình thức độc lập mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật nội dung khác nhau như: Luật Dân Sự, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Thương Mại, Luật Lao Động… Nhưng những luật nội dung này đều mang những đặc trưng cơ bản của Luật Dân Sự như tính bình đẳng, tự quyết và thoả thuận giữa các bên… đòi hỏi Luật tố tụng dân sự cũng phải thể hiện được bản chất tương ứng trong việc đánh giá và xác định vai trò quan trọng của các đương sự, đặt họ vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra trong giai đoạn hiện nay.

Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt (bãi nại) tranh chấp. Trong đó, hoạt động chứng minh là hoạt động cơ bản, trước tiên và quan trọng nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới. Hoạt động này là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như là căn cứ để toà án đưa ra các phán quyết của mình. Có thể nói mục đích của hoạt động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của toà án chính là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó.

Kế thừa có chọn lọc các quy của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996) không thể phủ nhận về tính hoàn thiện và phát triển đúng đắn của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Mặc dù vậy, là một ngành luật còn non trẻ, kinh nghiệm lập pháp còn thiếu trong khi các quan hệ xã hội lại phát sinh và thay đổi một cách nhanh chóng nên qua một thời gian áp dụng Bộ luật đã bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý nói chung và cách nhìn nhận về vai trò, vị trí của đương sự trong hoạt động chứng minh nói riêng. Một mặt không phản ánh được đúng đắn bản chất của tố tụng dân sự, không phát huy được vai trò chủ động và tích cực của đương sự trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình, mặt khác đã tạo gánh nặng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi phải làm thay nhiều nhiệm vụ của đương sự. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng tồn đọng các vụ việc dân sự tại toà án ngày càng nhiều, tính minh bạch và thiếu khách quan còn phổ biến thể hiện ở việc các toà án cấp trên huỷ, sửa bản án của các toà cấp dưới với số lượng lớn.

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, các quy định của nhà nước qua từng thời kỳ, tham khảo luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới để hoàn thiện đề tài “ Vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự – vấn đề cơ bản nhất của tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay” với mong muốn góp phần hoàn thiện các vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với chế định quan trọng này.

2. Đối tượng nghiên cứu

Là một vấn đề khó trong tố tụng dân sự, hoạt động chứng minh còn nhiều điểm đang tranh luận cũng như chưa thống nhất nên trong phạm vi còn hạn chế về kỹ năng cũng như kinh nghiệm nghiên cứu, tác giả không có tham vọng nghiên cứu tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề chứng minh nói chung. Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể là những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về hoạt động chứng minh của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, từ đó chỉ rõ vai trò trung tâm và quan trọng nhất của đương sự.

Trong thực tiễn, khái niệm về đương sự trong tố tụng dân sự còn có nhiều tranh luận về mặt nội hàm (như ngoài nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn có người yêu cầu, người bị yêu cầu, người liên quan trong việc dân sự, người kế thừa quyền và nghĩa vụ…) [1]. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Tố Tụng Dân Sự 2005 thì đương sự là nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – những tư cách tố tụng chỉ được xác lập khi có vụ án dân sự xảy ra. Mặt khác, trong thủ tục “phi tụng” – giải quyết yêu cầu trong tố tụng dân sự, trong nhiều trường hợp người bị yêu cầu không xuất hiện (yêu cầu tuyên bố một người chết, mất tích…) nên tính chất đối lập trong tố tụng (đối tụng) giữa các bên không được thể hiện rõ ràng cũng như vai trò chứng minh của đương sự rất mờ nhạt. Vì lẽ đó, đề tài đi vào nghiên cứu, đánh giá những vấn đề liên quan đến hoạt động chứng minh trong việc giải quyết vụ án dân sự chứ không phải toàn bộ vụ việc dân sự (bao gồm yêu cầu về việc dân sự và vụ án dân sự )

Để làm nền tảng cho việc đánh giá, nhận xét được khách quan, đề tài tìm hiểu các quy định của hoạt động tố tụng về lĩnh vực dân sự của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, đối chiếu, so sánh các quy định trong luật tố tụng của một số nước có nền lập pháp tiên tiến trên thế giới trong cùng lĩnh vực.

Khảo sát những số liệu thực tế nhằm bổ trợ cho những vấn đề lý luận.

3. Mục đích nghiên cứu

Đề tài đi xây dựng, phân tích những khái niệm cơ bản như tố tụng dân sự, đương sự, đặc điểm, bản chất của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự… từ đó, chỉ rõ vai trò quan trọng, trung tâm của đương sự trong hoạt động này dựa trên sự so sánh, đối chiếu với các chủ thể khác của hoạt động chứng minh. Phân tích rõ những tác động của xu thế thời đại ảnh hưởng đến vai trò chứng minh của đương, đồng thời đưa ra những luận điểm để giải thích về vai trò quan trọng nhất của đương sự.

Đề tài hướng đến giải quyết tính thực tế của vấn đề. Sau khi xây dựng và đánh giá về vấn đề lý luận chung, chỉ rõ vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất và ngày càng quan trọng hơn, khái quát những mặt được và những mặt hạn chế của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã mạnh dạn đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của đương sự cũng như tạo cơ chế để họ có thể thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình, giảm gánh nặng cho hệ thống tòa án.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, thống kê…

5. Tình hình nghiên cứu

Pháp luật tố tụng liên quan đến việc giải quyết các vấn đề dân sự đã được xây dựng và áp dụng từ lâu nhưng mới chính thức được pháp điển hóa một cách có hệ thống và đồng bộ trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 nên các đề tài nghiên cứu còn rất hạn chế. Những bài viết, công trình mang tính toàn diện và có hệ thống trước đây như “Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” – Luận văn thạc sĩ của Vũ Trọng Hiếu (1998), “Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự” – Phạm Hữu Thư, tạp chí Dân chủ và pháp luật (số 9/1998)… xây dựng trên Pháp lệnh TTGQVADS (1989), TTGQVAKT (1994) và TTGQTCLĐ (1996) đã hết hiệu lực nên chỉ còn mang tính chất tham khảo. Trong những năm gần đây, có một số bài viết, công trình liên quan như “Các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Công Bình, tạp chí Luật học năm 2005, “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh, Tạp chí Luật học năm 2004, “Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Nguyễn Thị Minh Hằng, luận án tiến sĩ luật học năm 2007… Mặc dù đây là những công trình nhìn nhận các vấn đề về chứng minh ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau nhưng là cơ sở tham khảo quan trọng để tác giả có thể hoàn thành tốt phần nghiên cứu của mình.

6. Khả năng phát triển của đề tài

Đề tài là công trình nghiên cứu nhìn nhận đầy đủ về vai trò tính chất quan trọng của đương sự trong quá trình chứng minh, phản ánh đầy đủ bản chất của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Việc nghiên cứu một cách toàn diện và quy mô sẽ tạo ra những cơ chế mới phát huy toàn diện tính tích cực của đương sự trong tố tụng dân sự, cán bộ tòa án sẽ không phải mất quá nhiều thời gian cho một vụ việc mà vẫn đảm bảo được sự “tâm phục khẩu phục” của đương sự, giảm đi sự tồn đọng các vụ án dân sự ngày càng nhiều, tăng thêm lòng tin của nhân dân và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, theo đề án về việc cải cách cơ cấu của ngành tòa án tại Nghị Quyết số 49- NQ/TW của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong thời gian tới sẽ có 4 cấp tòa án được thành lập là tòa sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm, tòa thượng thẩm và tòa án nhân dân tối cao. Việc thành lập thêm một cấp tòa án đồng nghĩa với việc phát sinh nhiều hơn các cơ quan, cán bộ, thêm nhiều gánh nặng cho ngân sách nhà nước vốn đã ngày càng eo hẹp. Khi hệ thống tòa án phát triển theo chiều cao thì đề tài đi vào giải quyết vấn đề theo chiều rộng, giảm bớt công việc cho ngành tòa án trao trả về cho phía đương sự. Như vậy, cho dù có thêm cấp tòa thì cũng vẫn đảm bảo được về vấn đề nhân sự, cơ cấu.

7. Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần danh mục chữ viết tắt, giới thiệu chung, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3 phần:

Phần thứ nhất là những vấn đề lý luận chung. Trong phần này tác giả xây dựng các khái niệm cơ bản như: tố tụng dân sự, đương sự, hoạt động chứng minh… chỉ rõ nghĩa vụ chứng minh của đương sự là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự cũng như khái lược một số nét cơ bản về quy định của pháp luật qua từng thời kỳ về vai trò chứng minh của đương sự.

Phần thứ hai với tiêu mục là “Xác định vai trò chứng minh của đương sự – một vấn đề cơ bản nhất của tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay” là nội dung chính của đề tài. Tác giả đi vào giải quyết các vấn đề liên quan để chỉ rõ vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất trong sự so sánh với các chủ thể khác của họat động chứng minh, khẳng định vai trò này ngày càng quan trọng hơn trong bối cảnh hiện nay.

Phần thứ ba, sau khi đi nghiên cứu một cách toàn diện và chặt chẽ các vấn đề lý luận ở hai phần trên, tác giả đi vào phân tích những bất cập, tồn tại của Bộ luật TTDS hiện hành và đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục, giải quyết, hiện thực hóa những quy định của pháp luật còn chưa có cơ chế cụ thể đảm bảo.

1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Tố tụng dân sự

Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án và thi hành án được giải thích là “tố tụng dân sự”[2]. Tuy nhiên, cần xem xét một cách chính xác hơn về cụm từ được sử dụng lâu đời và có nhiều tranh luận này mới có thể đặt nền tảng nghiên cứu các vấn đề liên quan trong đó. Được ghép từ danh từ “tố tụng” là kiện thưa tại tòa án nói chung[3] có gốc từ tiếng la tinh procedere có nghĩa là tiến bước, gợi nên một cách thức cần thiết phải thực hiện để đạt được mục đích, “tố tụng” thường được sử dụng một cách lẫn lộn với danh từ “thủ tục” bởi tính chất định trước buộc phải tuân theo trong một việc nhất định. Mặc dù cũng dùng để chỉ định một cách thức tiến hành bắt buộc nhưng danh từ “thủ tục” bao hàm trong đó nghĩa rộng hơn trên nhiều mặt vượt ra ngoài nghĩa của trình tự giải quyết vụ việc tại tòa án (như thủ tục nhập học, thủ tục đi xuất khẩu lao động…). Tố tụng khác biệt với thủ tục ở chỗ nó được dùng một cách triệt để và chỉ xuất hiện ở trong các trình tự tại cơ quan tư pháp đồng thời gợi ra một cách nhìn nhận trong đó có sự tranh tụng – mâu thẫn yêu cầu tài phán. Trong một thời gian dài của quá trình phát triển, danh từ thủ tục đã được sử dụng thay cho danh từ tố tụng như: Thủ tục giải quyết vụ án dân sự, Thủ tục giải quyết vụ án kinh tế hay Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động… đã không thể hiện rõ được bản chất của hoạt động tư pháp. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã sử dụng triệt để danh từ tố tụng và thống nhất các thủ tục giải quyết thành một trình tự tố tụng chung.

Thứ hai là danh từ “dân sự” – civil đôi khi được dùng tương đồng với danh từ prive – lĩnh vực luật tư, bởi bản chất thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ. Theo quy định của Bộ luật TTDS về phạm vi giải quyết các tranh chấp tại Điều 1 thì các ngành luật nội dung có tranh chấp được giải quyết theo trình tự này bao gồm Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Luật lao động thì danh từ “dân sự” trong “tố tụng dân sự” đang được dùng như một bộ phận của lĩnh vực tư luật (bởi luật tư bao gồm nhiều ngành luật khác như luật bảo hiểm xã hội…).

Chính bởi sự phức tạp trong cách định nghĩa và xác định chính xác thuật ngữ tố tụng dân sự mà đã có nhiều học giả đề nghị thay thế cụm từ này bằng một số cụm từ khác như: Luật tư pháp – vì liên quan đến lĩnh vực tư pháp, Tư luật – luật điều chỉnh việc giải quyết việc “riêng tư” giữa các bên, Luật tư pháp dân sự – nhằm phân biệt phạm vi của ngành luật này với tố tụng hành chính và tố tụng hình sự, Luật tư pháp tư hay Dân sự – tố tụng… đồng thời đưa ra một số các định nghĩa khác nhau về tố tụng dân sự [4]. Các cách định danh này đều có cơ sở nhất định nhưng chưa giải quyết được triệt để vấn đề, gây khó khăn cho cách tiếp cận của những nhà nghiên cứu pháp luật cũng như không rõ nghĩa.

Việc sử dụng cụm từ tố tụng dân sự khi xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự còn mang đến một thắc mắc từ phía các Đại biểu quốc hội bởi sự hoài nghi luật “ba trong một” liệu có đáp ứng được yêu cầu hay không khi đối tượng điều chỉnh rộng trong hoàn cảnh các tòa án vẫn được chia thành tòa dân sự, tòa kinh tế, tòa lao động sẽ dễ gây nhầm lẫn khi các tòa kinh tế, lao động lại áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự? [5]. Tuy nhiên, có thể thấy việc sử dụng cụm từ tố tụng dân sự là sát nghĩa và có tính chất triệt để hơn cả trong giai đoạn hiện nay. Bởi 3 nguyên nhân:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam không phân chia thành công pháp – tư pháp như một số nước trên thế giới mà đây chỉ là vấn đề lý luận của những nhà nghiên cứu pháp luật. Định nghĩa dựa trên sự thừa nhận không chính thức sẽ gây khó khăn cho việc tiếp cận một ngành luật thực định của đông đảo quần chúng. Vì vậy, cần thiết phải định nghĩa rõ ràng dựa trên sự thừa nhận chính thức về vị trí và vai trò của ngành luật trong hệ thống pháp luật.

Thứ hai, việc định nghĩa với cụm từ “tố tụng dân sự” một mặt phản ánh được tính chất “nệ thức” – phụ thuộc yếu tố hình thức, thủ tục trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự bảo đảm hạn chế tính độc đoán của các thẩm phán cũng như giúp các chủ thể tham gia có thể bảo vệ được mình thông qua những quy định mang tính chất thủ tục. Mặt khác phản ánh được đối tượng điều chỉnh về mặt nội dung của ngành luật hình thức tổng hợp này là các ngành luật mang yếu tố “riêng tư” giữa các bên không có sự tham gia của nhà nước ở một bên chủ thể tranh chấp và gợi được tính tranh tụng, đối lập một cách bình đẳng giữa các bên đương sự.

Thứ ba, hiệu quả mang lại từ tố tụng không phải là ở việc tạo ra nhiều thủ tục khác nhau mà nằm ở việc giải quyết nhanh chóng, chính xác, khách quan vụ việc, giảm thiểu được gánh nặng về cơ cấu, tổ chức cũng như trong cách thức áp dụng pháp luật. Khi các đối tượng điều chỉnh là thống nhất về mặt bản chất thì có thể quy nạp chúng về một thủ tục chung để giải quyết không cần thiết phải có nhiều thủ tục khác nhau. Hiệu quả của tố tụng dân sự trong những năm qua đã minh chứng cụ thể cho điều đó.

Như vây, tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới góc độ pháp lý là một ngành luật tố tụng cụ thể còn dưới góc độ thực tiễn là những hình thức thực tiễn do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng tiến hành.

Dưới góc độ pháp lý:

Tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại tòa án đảm bảo sự nhanh chóng, chính xác trong quá trình giải quyết và thi hành án, đặt ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của nhà nước, của công dân.

Dưới góc độ thực tiễn:

Tố tụng dân sự là một quy trình, thủ tục do pháp luật quy định buộc mọi chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng phải tuân theo nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án dân sự và thi hành án, bảo vệ quyền lợi của nhà nước và của công dân.

Nhiều học giả trên thế giới đã nhìn nhận tố tụng dân sự như là “nô tì”, là “khúc ruột thừa”, là luật “yểm trợ” cho luật hình thức… các cách nhìn nhận này là sai lầm và không đánh giá được vai trò quan trọng của luật tố tụng. Bởi lẽ, pháp luật được đặt ra không phải chỉ để cho các bên xác lập các quyền và nghĩa vụ một cách chung chung mà còn đặt ra những chế định nhằm đảm bảo cho các quyền đó thành thực tế. Khi lợi ích của một bên bị tổn thương cũng là lúc họ cầu cứu đến vai trò của nhà nước. Nhà nước với vị trí trung lập, thông qua thủ tục tố tụng xác định một cách rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của các bên và đảm bảo thực hiện trên thực tế. Hay nói cách khác, luật tố tụng đảm bảo quyền lợi của các bên ở thế “động” – có phát sinh tranh chấp (khác với quyền lợi ở thể “tĩnh” – được các bên xác lập tôn trọng thực hiện). Nói chung, luật nội dung và luật tố tụng là hai mặt không thể tách rời để chủ thể đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của mình.

1.1.2 Đương sự trong vụ án dân sự

Đương sự là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận ngành luật tố tụng. Việc xác định không đúng tư cách đương sự sẽ là căn cứ để hủy các bản án, quyết định của tòa án. Trong những năm gần đây, các bản án, quyết định của tòa án bị tuyên hủy bởi các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm với l?ý do xác định không đúng tư cách đương sự tăng lên khá nhiều [6]. Đồng thời với đó thì việc xác định đúng tư cách đương sự sẽ xác định đúng đắn quyền và nghĩa vụ tố tụng cũng như giới hạn được hoạt động chứng minh trong tố tụng (sẽ được làm rõ ở phần sau). Đã có nhiều khái niệm về đương sự được đưa ra như theo Đại từ điển tiếng việt thì “Đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết”[7], “là người có liên quan trực tiếp đến một việc” – Từ điển từ và ngữ Hán Việt. Trong khoa học pháp l?ý thì đương sự được hiểu “là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc một vụ án” [8] hoặc như theo Bryan A.Garner trong cuốn từ điển pháp l?ý xuất bản năm 2001 thì khái niệm đương sự được hiểu là “người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện”[9].

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, “Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”[10] và được liệt kê cụ thể tại khoản 1 Điều 56 BLTTDS 2004 “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Đương sự có thể là cá nhân, có thể là cơ quan, tổ chức (khi cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách). Luật tố tụng dân sự có quy định về trường hợp các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác thì có các quyền và nghĩa vụ như đương sự nhưng những cơ quan tổ chức này không được coi là đương sự trong vụ án bởi họ không liên quan trực tiếp đến vụ án. những chủ thể này khởi kiện bởi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật trao cho, các quyền và lợi ích của họ không phát sinh từ chính bản án do họ khởi kiện.

Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án nhưng dù là ai thì họ phải có năng lực hành vi và năng lực tố tụng. Trong trường hợp không có hoặc có nhưng không đầy đủ thì họ phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của mình (Điều 57 – BLTTDS 2004)

Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức đi kiện hoặc được cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền lợi công cộng. Nguyên đơn tham gia tố tụng với sự chủ động cao thể hiện ở việc họ có thể lựa chọn thời điểm khởi đầu vụ án dân sự (thời điểm khởi kiện), giới hạn phạm vi xét xử của tòa án thông qua đơn khởi kiện vì “tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện”(Điều 5 BLTTDS) (mặc dù sau này còn có thể có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu của những người có quyền lợi liên quan nhưng những yêu cầu này phải có quan hệ gần gũi với việc khởi kiện ban đầu), có quyền lựa chọn tòa án trong một số trường hợp (Điều 36 BLTTDS). Nguyên đơn là người cho rằng quyền và lợi ích của mình, của xã hội đang bị xâm phạm, thông thường họ là một phần trong quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp.

Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bị kiện. Trong tranh chấp, họ bị suy đoán là đã có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc của xã hội. Bị đơn tham gia tố tụng một cách bị động, tư cách của họ chỉ được xác lập sau khi nguyên đơn xác định tư cách của mình, họ có thể nới rộng phạm vi giải quyết vụ kiện nhưng vẫn bị phụ thuộc vào đơn khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.

Đương sự thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đây không phải là một bên trong quan hệ pháp luật nội dung nhưng quyền hay nghĩa vụ của họ phát sinh khi có tranh chấp sảy ra. Do vậy, họ bị lôi kéo vào vụ kiện, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Họ có thể có yêu cầu độc lập (không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn) hoặc không độc lập (phụ thuộc vào nguyên đơn hay bị đơn). Yêu cầu của họ có thể chống lại nguyên đơn, bị đơn hoặc có thể chống lại cả hai bên. Những chủ thể này không đi kiện (hoặc được khởi kiện) như nguyên đơn và cũng không bị kiện như bị đơn nhưng có thể nhận biết được khi thấy họ có quyền lợi hoặc nghĩa vụ phát sinh từ tranh chấp.

Khi tham gia quan hệ tố tụng dân sự, vai trò của các chủ thể của pháp luật nội dung vẫn được duy trì, có nghĩa là quan hệ mới phát sinh cách biệt hẳn với quan hệ nguyên thủy đã được xác lập. Các bên, không thống nhất được vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ nên họ yêu cầu tòa án giải quyết – phát sinh tư cách mới là đương sự, đồng thời với đó là phát sinh các quyền và nghĩa vụ mới được điều chỉnh bởi Luật TTDS. Đơn kiện được thụ lý cũng là lúc tư cách được xác lập mà các bên đương sự không thể thay đổi được tư cách đó trong suốt quá trình tố tụng: người đi kiện (hoặc được khởi kiện) là nguyên đơn, người bị kiện là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây chính là nguyên tắc bất cải, bất di bất dịch trong tố tụng dân sự[11].

Có thể nhận thấy rằng việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dựa trên vấn đề lợi ích. Giải quyết tranh chấp dân sự cũng chính là việc giải quyết vấn đề về lợi ích nên tất cả các chủ thể có liên quan đến vấn đề lợi ích đều phải đưa vào và được xác định tư cách là đương sự. Qua đó sẽ giải quyết được triệt để các tranh chấp phát sinh cũng như giảm thiểu được các khiếu kiện kéo dài trong cùng một vụ việc.

1.1.3 Chứng minh và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự

Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá. Trong mỗi sự vật, hiện tượng lại có nhiều đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan nhưng cũng tồn tại những đặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tư duy, giải thích, móc nối các sự kiện để có thể đi đến được kết luận và việc đầu tiên là phải đưa ra những giả thuyết để định hướng tư duy. Như việc một cái cây bị gãy người ta có thể nhận thấy ngay sự đứt gãy, không toàn vẹn của cái cây đó bằng thị giác hoặc bằng xúc giác nhưng không thể nhận biết được ngay rằng tại sao cái cây đó bị gãy? nó đã gãy lâu chưa?… mà phải đặt ra giả thuyết, sau đó tổng hợp các sự kiện khách quan để có thể đi đến kết luận cuối cùng. Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tư duy, móc nối các sự kiện đó chính là chứng minh. Chứng minh được hiểu “là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ”[12]. Quá trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi mặt của đời sống xã hội và nó là động lực cho sự phát triển, khám phá tìm tòi.

Hoạt động chứng minh trong TTDS là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi luật tố tụng dân sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa vụ cụ thể và kết quả của hoạt động này sẽ là một bản án, quyết định của tòa án mang tính chất bắt buộc áp dụng. Nó là công cụ để tòa án có thể nhận thức được chính xác sự việc đã sảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan. Đối với các đương sự, chứng minh là phương tiện duy nhất để họ có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình. Khi vụ việc dân sự được tòa án thụ lý và giải quyết cũng đồng nghĩa với việc bên nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, bên bị đơn không thừa nhận các quyền và lợi ích đó của nguyên đơn nên yêu cầu tòa án phân xử. Trong quá trình tố tụng có thể phát sinh nhiều chủ thể khác, khi họ đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì họ cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình là đúng, là có thật. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sự là chứng minh giả thuyết do các bên đưa ra. Cho dù giả thuyết đó có được công nhận là đúng, là có thật hay không thì toàn bộ quá trình đó vẫn được coi là hoạt động chứng minh.

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật.

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự có ba đặc điểm cơ bản:

– Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn ra suyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi tòa án ra phán quyết. Khởi đầu là việc chứng minh của nguyên đơn cho yêu cầu của mình thông qua đơn khởi kiện, tiếp đến là hoạt động chứng minh của bị đơn bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có), hoạt động chứng minh của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của Viện kiểm sát (nếu có)… và kết thúc khi tòa án chứng minh cho phán quyết của mình thông qua một bản án có giá trị bắt buộc thi hành.

– Bản chất của chứng minh chính là việc sử dụng chứng cứ.

Hai yếu tố cấu thành vụ án dân sự là yếu tố chủ quan (đương sự) và yếu tố khách quan (bao gồm đối tượng – mục đích khởi kiện và nguyên nhân – cách thức bảo vệ quyền của các chủ thể trước tòa án). Hoạt động chứng minh được xếp vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vụ án. Điều này có nghĩa là yếu tố cấu thành vụ án đã vốn có, vốn đã tồn tại, nay chỉ đi tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất. Hay nói cách khác, hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án.

Là một yếu tố quan trọng nên khái niệm chứng cứ được luật tố tụng dân sự của nhiều nước đề cập đến. Cá biệt còn có một số nước xây dựng luật về chứng cứ thể hiện sự quan trọng của vấn đề này. Luật tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không?” hoặc theo điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa “Chứng cứ là những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém hơn”. Trong Luật TTDS 2004, khái niệm chứng cứ lần đầu tiên được ghi nhận một cách tương đối đầy đủ tại Điều 81, theo đó:

“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”.

Quá trình chứng minh không có gì khác ngoài việc sử dụng chứng cứ đúng đắn (thỏa mãn ba yêu cầu về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp) bao gồm bốn giai đoạn khác nhau là cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Các giai đoạn này có mối liên hệ mật thiết với nhau, chỉ có giai đoạn trước mới có giai đoạn sau, và giai đoạn sau sẽ là cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và triệt để của giai đoạn trước. Phải có hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và kết quả của họat động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ vụ án dân sự, nhận thức này có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ và đúng hay không. Bốn giai đoạn này kéo dài, nối tiếp và đan xen nhau, không thể tách bạch cơ học từ thời điểm nào đến thời điểm nào là giai đoạn cung cấp, thu thập, nghiên cứu hay đánh giá chứng cứ. Nhưng có thể nhận thấy rằng những giai đoạn này kéo dài suyên suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, nó chỉ kết thúc khi tòa án ra phán quyết. Mặc dù có thể tòa án cấp dưới đã ra quyết định giải quyết vụ án nhưng bản án này lại được giải quyết tiếp theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì lại phát sinh hoạt động chứng minh mới độc lập với hoạt động chứng minh trước đây.

– Chủ thể của hoạt động chứng minh rất đa dạng

Như đã phân tích ở trên, chứng minh là làm cho rõ là đúng, là có thật. Trong một vụ án cụ thể có rất nhiều ý kiến cần phải được chứng minh là đúng, là có thật đồng nghĩa với việc chủ thể thực hiện hoạt động chứng minh là đa dạng. Nguyên đơn chứng minh cho yêu cầu của mình, bị đơn chứng minh cho bác yêu cầu, yêu cầu phản tố (nếu có) tòa án chứng minh cho phán quyết của mình, Viện kiểm sát chứng minh cho kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của mình… Ngoài ra, khi đương sự không đủ khả năng tham gia tố tụng hoặc không hiểu biết về pháp luật, không có kinh nghiệm tố tụng họ có thể nhờ người khác thay mình tham gia tố tụng từ đó phát sinh ra các chủ thể khác tham gia tố tụng như người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… họ có quyền và nghĩa vụ không giống nhau xuất phát từ vị trí tố tụng cũng như thỏa thuận giữa họ và đương sự nhưng đây cũng là những chủ thể của họat động chứng minh.

1.2 Nghĩa vụ chứng minh của đương sự – một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự

Thuật ngữ nguyên tắc (principium ) được sử dụng lần đầu dưới thời La Mã cổ đại là có nghĩa là cơ sở, cốt lõi nền tảng. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc “là những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm chỗ dựa để xem xét, làm việc”[13]. Khi thực hiện một công việc nhất định cần tuân thủ một cách triệt để các nguyên tắc thì mới có thể đạt được những mục đích mong muốn. Quan điểm của chủ nghĩa Mác LêNin nguyên tắc là kết quả cuối cùng trong sự nghiên cứu “không phải giới tự nhiên và lịch sử loài người thích ứng với các nguyên tắc mà ngược lại, nguyên tắc chỉ đúng khi nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử loài người”[14]. Nguyên tắc được đúc rút ra từ hoạt động thực tiễn và chỉ đúng khi phù hợp với thực tiễn. Trong hệ thống khoa học pháp lý hiện đại nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cơ bản trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Các nguyên tắc trong pháp luật nói chung và luật tố tụng dân sự nói riêng chỉ đúng khi nó phù hợp với bản chất của ngành luật, với thực tế các quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh.

Nhận thức được vai trò quan trọng mang tính chất chỉ đạo, Bộ luật tố tụng dân sự đã dành chương II với 21 điều để liệt kê các nguyên tắc của hoạt động tố tụng dân sự. Các nguyên tắc này được xây dựng trên tính chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như tính chất của luật tố tụng dân sự cùng với quá trình đúc rút kinh nghiệm thực tế, xây dựng, áp dụng và hoàn thiện pháp luật tố tụng trong những năm qua. Một trong số đó là nguyên tắc về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự “các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự” (khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2004).

Nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong BLTTDS năm 2004 được kế thừa từ các quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Điều 3), Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994 (Điều 3) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 (Điều 2). Tuy nhiên, nếu đi vào cụ thể từng điều luật có thể thấy các pháp lệnh trước đây đã đồng nhất nghĩa vụ chứng minh với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Việc đồng nhất hai nghĩa vụ này với nhau là không có cơ sở bởi việc cung cấp chứng cứ chỉ là một phần trong hoạt động chứng minh bao gồm nhiều giai đoạn từ thu thập, cung cấp đến nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Từ đó sẽ không nhận thức được đầy đủ về vai trò chứng minh của đương sự cũng như không thể tạo ra những cơ chế hữu hiệu để đương sự có thể hoàn thành được nghĩa vụ của mình, ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp. Nguyên nhân là lúc đó vẫn tồn tại giai đoạn điều tra của tòa án đối với mỗi vụ án cụ thể. Từ việc điều tra, thu thập chứng cứ tòa án sẽ phân tích, đánh giá và quyết định. Chính vì vậy mà trong một thời gian dài vai trò chứng minh của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự không được quan tâm và đề cao.

Khắc phục những hạn chế trước đây và phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện tại, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã bỏ đi hẳn phần điều tra trong tố tụng dân sự, quy định nghĩa vụ chứng minh của đương sự thành một nguyên tắc và cụ thể hóa tại điều 79 – BLTTDS:

“1. Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh

3. Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.”

Nội dung nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự được thể hiện ở hai mặt:

Thứ nhất, nghĩa vụ là việc phải làm. Đương sự có nghĩa vụ chứng minh có nghĩa là đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh. Điều này không có nghĩa là tất cả các đương sự đều phải thực hiện hoạt động chứng minh. Như khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân khác thì tư cách đương sự thuộc về người được khởi kiện nhưng họ không bắt buộc phải chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình là có căn cứ mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan, tổ chức đã khởi kiện, bị đơn cũng không bắt buộc phải chứng minh… nghĩa vụ chứng minh nói một cách tổng quát nhất là thuộc về phía đương sự đã đưa ra yêu cầu. Thuật ngữ “yêu cầu” ở đây đã được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng minh. Nội dung đối tượng chứng minh thuộc về phía đương sự bao gồm thỉnh cầu và kháng biện. Trong thỉnh cầu có thỉnh cầu ban đầu (đơn khởi tố), thỉnh cầu bổ xung (bổ xung yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ việc), thỉnh cầu phản tố (đòi hỏi công nhận lợi ích của bị đơn) và thỉnh cầu dự sự (đòi hỏi của người thứ ba về việc tham gia vụ án). Kháng biện bao gồm kháng biện về nội dung (là sự phủ nhận của bị đơn), khước biện (bị đơn cho rằng không đúng thủ tục) và kháng chấp (bị đơn cho rằng nguyên đơn không có quyền kiện họ: ví dụ như không có tư cách hoặc kiện ở tòa không có thẩm quyền).[15]

Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bị đơn đưa ra yêu cầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ có nghĩa vụ chứng minh cho việc bác bỏ đó là có căn cứ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đưa ra yêu cầu cũng phải chứng minh… nguyên tắc này thống nhất với nguyên tắc về quyền tự định đoạt của đương sự, quyền và lợi ích của họ phải do chính họ quyết định.

Thứ hai, đồng thời với việc phải làm thì nghĩa vụ còn mang lại một hậu quả pháp lý. Hậu quả pháp lý này là việc được tòa án công nhận các quyền và lợi ích hợp pháp khi đương sự thực hiện một cách đầy đủ và chính xác nghĩa vụ chứng minh. Ngược lại, khi đương sự không thực hiện hoặc thực hiện một cách không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh thì yêu cầu đưa ra sẽ không được chấp nhận và sẽ phải chịu “hậu quả”. Không loại trừ trường hợp người đưa ra yêu cầu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh nhưng hậu quả pháp lý mang lại không phải là một hậu quả bất lợi như khi bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn lại không thực hiện nghĩa vụ chứng minh mà chỉ “chối dài” nhưng phản đối đó vẫn được chấp nhận, trường hợp này phải thấy được rằng hậu quả bất lợi ở đây đã thuộc về phía nguyên đơn vì họ đã không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình nên đã không được công nhận quyền và lợi ích.

Nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh của đương sự là một nguyên tắc cơ bản và có tính chỉ đạo xuyên suốt vì xuất phát từ bản chất của tố tụng dân sự là giải quyết các tranh chấp giữa các bên trên cơ sở pháp luật, mục đích là để bảo vệ các quyền và lợi ích của mọi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. ở đó, không có sự can thiệp của quyền lực nhà nước, các bên hoàn toàn bình đẳng trong các mối quan hệ. Đương sự là trung tâm của hoạt động tố tụng, là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp. Quyền và lợi ích của họ sẽ do chính họ quyết định thông qua hoạt động của mình. Nhà nước không can thiệp mà chỉ công nhận các quyền lợi khi xét thấy có căn cứ và hợp pháp thông qua hoạt động chứng minh của đương sự.

Trong luật tố tụng dân sự tồn tại hai hệ thống các nguyên tắc. Hệ thống thứ nhất bao gồm các nguyên tắc thể hiện vị trí tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng (gồm người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng) như nguyên tắc tòa án xét xử tập thể, xét xử công khai, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật… Hệ thống thứ hai bao gồm những nguyên tắc thể hiện vị trí tố tụng của các chủ thể tham gia như nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc hòa giải… Các nguyên tắc có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong đó nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự là nguyên tắc cơ bản nhất. Chỉ khi đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình thì mới xuất hiện các nguyên tắc tố tụng khác. Đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh thông qua việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp thì mới là một trong những điều kiện để tòa án tiến hành thụ lý đơn khởi kiện – thời điểm bắt đầu của hoạt động tố tụng dân sự. Không thể có một đơn khởi kiện nào được thụ lý mà không có chứng cứ để chứng minh (Điều 164). Các nguyên tắc khác theo đó mới có thể phát sinh và áp dụng.

1.3 Sơ lược quy định về vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự qua từng thời kỳ

Luật pháp là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng được hình thành trên cơ sở hạ tầng xã hội tương ứng. Pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu nhất để giai cấp thống trị thực hiện quyền làm chủ của mình, định hướng và duy trì sự ổn định xã hội. Vì vậy, qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau với sự hình thành, tồn tại và suy vong của nhiều chế độ chính trị, bản chất của nhà nước là khác nhau nên các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người dân nói chung và quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong hoạt động tố tụng dân sự nói riêng cũng không giống nhau.

1.3.1. Giai đoạn trước năm 1945

Năm 1884, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta, chấm dứt thời kỳ xã hội Việt Nam “thuần” phong kiến chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến. Chế độ phong kiến qua đi nhưng vẫn để lại những dấu vết đậm nét về hoạt động lập pháp với nhiều bộ luật khác nhau nhưng có quy mô và hoàn thiện nhất vào lúc bấy giờ phải kể đến ba bộ luật lớn là Quốc Triều Hình Luật (nhà Lê thế kỷ XV), Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ (thế kỷ XV – XVIII), Hoàng Việt Luật Lệ (luật Gia Long). Do mang ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến nên các bộ luật này mang tính chất hà khắc, vai trò của con người, của công dân, của đương sự không được đề cao, thủ tục xét hỏi, thẩm vấn được quy định phổ biến, các chế tài áp dụng mang tính chất hình sự. Vai trò chứng minh của đương sự trong vụ kiện dân sự được quy định một cách tản mạn và không rõ ràng. Tuy vậy, đây cũng là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc quy định vai trò chứng minh của đương sự sau này. Lần đầu tiên trong bộ Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ quy định:

“Những người kiện tụng có đơn cáo trạng khiếu nại về: ruộng đất không xuất trình văn khế, cưới xin không sính lễ, treo hỏi, tài sản không có trúc thư, tiền nợ không có văn tự, đánh nhau không có biên bản thương tích, án mạng không có nghiệm án, trộm cướp không có tang vật, cờ bạc không có tang chứng, ức hiếp không phải là người hiền quý danh vọng thì các nha môn không được khám tụng. Nếu nhận bừa thì gom xét sự việc trước sau luận bác đi”

Vai trò của đương sự lần đầu tiên được nhắc đến một cách rõ ràng trong việc chứng minh yêu cầu của mình bằng cách cung cấp chứng cứ trong những vụ việc cụ thể, nếu khi yêu cầu giải quyết mà đương sự không đưa ra được bằng chứng thì quan xét xử sẽ bác bỏ đơn kiện.

Trong tập V bộ Hoàng Việt Luật Lệ có quy định “phàm đơn gửi tòa án chỉ cho phép một đơn thưa một việc thưa việc phạm tội thật có bằng chứng. Thừa thẩm quan lúc xử kiện cung chứng đã xác thực mà có 1, 2 người không đến hầu tòa thì không liên quan đến bản án”.

Đây là hai quy định được áp dụng phổ biến khi có việc thưa kiện. Nó được áp dụng rộng rãi khi giải quyết các vấn đề kiện tụng thuộc cả luật hình sự, dân sự và hôn nhân gia đình.

Bằng hai bản thỏa ước ngày 5/6/1882 cắt đứt miền nam bao gồm 6 tỉnh để sát nhập vào lãnh thổ pháp gọi là Nam Kỳ, thỏa ước ngày 6/6/1884 biến miền Bắc và miền Trung thành lãnh thổ bảo hộ của Pháp và đạo dụ năm 1898 của Hoàng đế Đồng Khánh nhượng 3 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng thành đất nhượng địa cho Pháp, Việt Nam chính thức bị thực dân Pháp đô hộ. Khi đến nước ta chúng thiết lập một chế độ đô hộ hà khắc nhằm bóc lộ và vơ vét của cải đặc biệt thông qua hai cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn. Nhằm phục vụ cho mưu đồ của mình chúng thay đổi nước ta thành một nước thực dân nửa phong kiến. Việc đầu tiên là ban hành các bộ luật nhằm ổn định tình hình trong nước, thiết lập sự đô hộ. Liên quan đến hoạt động tố tụng dân sự, trong giai đoạn này chúng ban hành một số bộ luật khác nhau như Bộ dân sự tố tụng Nam Kỳ năm 1910, Bộ dân sự tố tụng Bắc kỳ năm 1917, Bắc kỳ pháp viện biên chế năm 1921, Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng bắc kỳ năm 1921, và Bộ Hộ sự và thương sự Trung Kỳ năm 1942… Các bộ luật này mang tư tưởng phong kiến và dựa trên khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Pháp 1807. Trong giai đoạn này, quyền con người, quyền công dân không được để ý đến các quy định tố tụng chủ yếu là tạo điều kiện cho hoạt động bóc lột của thực dân nên vai trò chứng minh của đương sự không được quan tâm nhằm duy trì sự bất bình đẳng. chỉ tồn tại vài quy định nhỏ như “Về phương diện dẫn chứng… buộc bên đương sự nào nại ra phải có nghĩa vụ dẫn chứng..”“Các đương sự trong một vụ kiện phải dẫn chứng. Mỗi người muốn viện dẫn một sự kiện hay một hành vi pháp lý phải chứng minh sự kiện, hành vi đó” [16]. Đây là một quy định hiếm hoi có thể tiếp cận được bởi các văn bản thời kỳ này được viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp, không dịch ra chữ Quốc Ngữ cũng như không có các công trình nghiên cứu chi tiết. Mặt khác, giai đoạn này sử dụng một cách đồng loạt các án lệ nơi tòa án nên các quy tắc thành văn “chủ yếu vạch sẵn tỷ mỉ những lề lối phải theo như một thông tư hành chính chứ ít có điều khoản chính xác định thức một nguyên tắc pháp lý tổng quát” – mang tính chất thủ tục.[17]

Đồng thời với đó là việc duy trì hai hệ thống tòa án khác nhau với việc phân chia hai loại đương sự khác nhau. Tòa án do Pháp lập xét xử các công dân của Pháp hoặc những người được biệt đãi như người pháp, tòa án của Việt Nam xét xử những đương sự là người Việt nhưng vẫn bị những nhà cầm quyền người Pháp thâu tóm và thống trị, Việt Nam trong giai đoạn này “không có một nền tư pháp thuần túy bởi vì tất cả các quyền hành hư hay thực đều do nhà cầm quyền Pháp nắm giữ”[18]. Giai đoạn này qua đi mà không có sự tiến bộ nào của pháp luật tố tụng liên quan đến vai trò chứng minh của đương sự. [19]

1.3.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở khu vực Đông Nam á được thành lập. Đánh dấu sự thay đổi toàn diện về mọi mặt trong đời sống xã hội, trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng.

Ngày 10/10/1945 nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ mà không trái với bản chất của nhà nước cách mạng. Tuy nhiên, sắc lệnh trên chỉ đề cập đến việc cho áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung của chế độ cũ mà không không đề cập đến việc có cho tiếp tục áp dụng các quy định về hoạt động tố tụng hay không. Tiếp theo đó, nhà nước ban hành nhiều quy định khác nhau liên quan đến hoạt động tố tụng dân sự ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Sắc Lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán, Sắc Lệnh 15/SL ngày 17/4/1946 quy định về thẩm quyền của tòa án các cấp, Sắc Lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ xung sắc lệnh số 15, Sắc Lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Sắc Lệnh 159/SL ngày 7/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn … các quy định về vai trò chứng minh của đương sự được quy định khá nhiều thể hiện sự quan tâm của nhà nước và vai trò của nhân dân ngày càng được chú trọng. Tại Thông tư số 2386 – NCPL ngày 19/12/1961 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:

“Trong bản án sơ thẩm phải chỉ ra: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết những vấn đề cụ thể gì và nêu ra những bằng chứng gì làm căn cứ – ý kiến của bị đơn đối với những lời thỉnh cầu của nguyên đơn: có chấp nhận hay không lời thỉnh cầu đó hoặc chỉ chấp nhận đến mức nào thôi, dẫn những bằng chứng gì làm căn cứ cho những ý kiến đó”. Khi đương sự có yêu cầu giải quyết thì buộc phải dẫn ra những chứng cứ bảo vệ cho yêu cầu của mình, nguyên đơn phải nêu rõ những vấn đề yêu cầu, bị đơn phải nêu rõ mình có chấp nhận hay không hoặc chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đến mức nào và cũng có nghĩa vụ dẫn chứng.

Theo đề án năm 1964 của tòa án nhân dân tối cao về chuyển hướng tổ chức các tòa án địa phương có hướng dẫn: “Trong các vụ kiện về dân sự, các bên đương sự có trách nhiệm chứng minh các yêu cầu của mình và đề xuất các chứng cứ. Nếu các chứng cứ do các bên đương sự xuất trình chưa đầy đủ thì tòa án sẽ yêu cầu họ xuất trình các chứng cứ bổ xung…”“ Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.” Đương sự có quyền và nghĩa cụ xuất trình chứng cứ. Tòa án sẽ yêu cầu, hướng dẫn họ xuất trình chứng cứ trong trường hợp chứng cứ chưa đầy đủ. Đương sự nào có yêu cầu thì có trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu đó.

Tại thông tư số 06 – TATC ngày 25/2/1974 hướng dẫn điều tra trong tố tụng dân sự quy định “Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình …trong điều kiện hiện nay, trình độ hiểu biết pháp luật và trình độ văn hóa của đại đa số các đương sự còn thấp, các đơn kiện và lời trình bày của họ không rõ ràng và đầy đủ, cho nên các tòa án phải tích cực giúp đỡ cho các đương sự hiểu rõ những quyền lợi hợp pháp của họ để họ có thể đề xuất được những yêu cầu và giúp cho họ biết đề xuất những chứng cứ để chứng minh.” Quy định này đã đưa đương sự về vị trí trung tâm của hoạt động tố tụng, tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu, giúp đỡ đương sự hiểu biết pháp luật và có thể đưa ra được những yêu cầu chính đáng cũng như hỗ trợ họ thu thập chứng cứ để chứng minh.

Trong bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo thông tư số 96 – NC/PL ngày 8/2/1977 của tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Để bảo vệ quyền lợi của mình các đương sự có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ nhưng tòa án nhân dân không được phép chỉ dựa vào lời khai của đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.” Mặc dù đương sự có quyền đề xuất những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng tòa án với vị trí của cơ quan xét xử không được thiên vị bất cứ bên nào mà phải xem xét một cách toàn diện cũng như tìm mọi biện pháp để có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án bảo vệ quyền lợi của các bên.

1.3.3 Giai đoạn từ 1990 đến 2004

Năm 1989 được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, tiếp theo đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996. Đây là ba pháp lệnh tiền thân của bộ luật tố tụng dân sự hiện nay, nó đã bước đầu khắc phục được tính chất tản mạn của các quy phạm pháp luật, thu trình tự giải quyết vụ việc về những văn bản thống nhất và có giá trị cao. Tuy nhiên, ba pháp lệnh này lại mang tính chất chung chung định hướng, các quy định còn chưa thực sự rõ ràng, vẫn chưa thể thống nhất các vụ việc đân sự về một trình tự thủ tục chung gây khó khăn cho đương sự và tòa án. Về vai trò chứng minh của đương sự trong các vụ việc dân sự được quy định trong ba pháp lệnh này còn chưa nhiều và thiếu đi cơ chế bảo đảm do vẫn tồn tại thủ tục điều tra giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án – hay nói cách khác, trong giai đoạn này, vai trò chứng minh vẫn chủ yếu thuộc về tòa án.

Nghĩa vụ chứng minh của đương sự đã được quy định thành một nguyên tắc cụ thể “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình” (Điều 3 PLTTGQVAKT) nguyên tắc này đã tạo cơ sở quan trọng để đương sự chủ động thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình. Các quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động chứng minh của đương sự đã được cụ thể hóa:

“Điều 20. Quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự

2- Các đương sự có quyền:

a) đưa ra tài liệu, chứng cứ, được đọc, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ do bên đương sự khác cung cấp;

e) tranh luận tại phiên tòa

3- Đương sự có nghĩa vụ

a) cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng từ có liên quan theo yêu cầu của tòa án.” (Điều 20 PLTTGQTCLĐ)

Như vậy, đương sự có quyền thu thập chứng cứ, có quyền cung cấp những chứng cứ đó cho tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, có quyền được biết về các tài liệu, chứng của của đương sự khác cũng như được sao chép các tài liệu đó. Đồng thời là quyền thì đây cũng là nghĩa vụ của đương sự.

Khi tiến hành khởi kiện, “Đơn kiện phải do nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn ký. Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh yêu cầu của nguyên đơn” (khoản 2 Điều 32 PLTTGQTCLĐ). Đơn kiện của nguyên đơn phải có đầy đủ các nội dung theo quy định cũng như nội dung các tài liệu chứng cứ để làm cơ sở cho yêu cầu của mình. Nếu không đầy đủ sẽ là một trong những căn cứ để trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 33 PLTTGQTCLĐ. Bị đơn có quyền được biết nội dung đơn kiện của nguyên đơn cũng như có quyền được đưa ra ý kiến của mình về đơn kiện đó, nếu không đồng ý thì có nghĩa vụ chứng minh phản yêu cầu đó (Điều 34 PLTTGQVAKT ).

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có thể tự mình hoặc nhờ người khác thay mặt mình tham gia quá trình giải quyết “Đương sự là công dân, người đại diện của đương sự theo quy định tại Điều 21 của pháp lệnh này có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người khác thay mặt mình trong tố tụng, trừ việc ly hôn và hủy việc kết hôn trái pháp luật” (Điều 22 PLTTGQVADS). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hạn chế về khả năng tố tụng của đương sự, giúp họ có thể bảo vệ được tốt nhất các quyền và nghĩa vụ của mình trong điều kiện còn hạn chế nhiều về hiểu biết.

Quá trình nghiên cứu, đánh giá chứng cứ diễn ra chủ yếu tại phiên tòa, các bên đương sự có quyền tham gia phiên tòa, được quyền trình bày quan điểm của mình và nghe trình bày của phía bên kia, được quyền đề xuất các câu hỏi thông qua hội đồng xét xử, được quyền tranh luận tại phiên tòa[20]…Quá trình xét xử sơ thẩm kết thúc, đương sự có quyền kháng cáo. Đơn kháng cáo phải ghi rõ nội dung kháng cáo và lý do. Các bên đương sự có quyền cung cấp, bổ xung chứng cứ ở giai đoạn phúc thẩm, có quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm, nghe trình bày, tham gia hỏi, tranh luận như phiên tòa sơ thẩm[21]… tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm “Nếu tòa án đó triệu tập người tham gia tố tụng thì họ được trình bày ý kiến trước khi kiểm sát viên trình bày ý kiến về kháng nghị” (khoản 3 Điều 76 PLTTGQCVADS)

Nói tóm lại, Như tác giả Phan Hữu Thư đã nhận xét: “Các quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thiếu hoàn toàn các quy định về chứng cứ, quy trình chứng minh, phân loại chứng cứ, phân định giá trị chứng minh của từng chứng cứ”[22]. Vấn đề chứng minh trong giai đoạn từ 1989 đến trước khi bộ luật TTDS 2004 có hiệu lực còn có nhiều hạn chế do sự nhận thức chưa đúng đắn trên cơ sở của một nền kinh tế, xã hội kém phát triển, các giao lưu dân sự còn đơn giản, tranh chấp diễn ra không nhiều với độ phức tạp không cao. Với những hạn chế chung về chứng minh, ba pháp lệnh không đề cao vai trò chứng minh của đương sự cũng như không tạo điều kiện để đương sự có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình.

Tổng kết phần 1

Trong phần 1 tác giả đã đi vào nghiên cứu, xây dựng những khái niệm cơ bản nhất liên quan đến hoạt động chứng minh của đương sự như khái niệm tố tụng dân sự, khái niệm đương sự, khái niệm và đặc điểm của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự… làm cơ sở cho việc nghiên cứu cụ thể về vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự. Có thể thấy rằng tố tụng dân sự luôn bao gồm những trình tự thủ tục luật định nhằm giải quyết những tranh chấp, bất đồng về các quan hệ pháp luật nội dung giữa những chủ thể tham gia. Khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác bị xâm hại và trong phạm vi quyền hạn pháp luật trao cho họ có thể thực hiện việc tự bảo vệ bằng một trình tự tố tụng, trình tự này được gọi là tố tụng dân sự. Khi tự bảo vệ, đương sự không còn cách nào khác ngoài việc thực hiện bằng hoạt động chứng minh – một quyền và nghĩa vụ tố tụng đặc thù đã được quy định thành một nguyên tắc trong BLTTDS 2004. Qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau dưới ảnh hưởng của những chế độ chính trị, pháp luật khác nhau nên các quy định liên quan đến vấn đề chứng minh của đương sự cũng khác nhau và dần đi đến việc cụ thể hóa, từng bước hoàn thiện.

2. XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CHỨNG MINHC ỦA ĐƯƠNG SỰ – MỘT VẤN ĐỀ CƠ BẢN NHẤT CỦA TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Dẫn nhập

Quy phạm pháp luật Tố Tụng Dân Sự hiện nay có thể phân chia thành hai nhóm lớn:

Nhóm thứ nhất là những quy phạm điều chỉnh những hoạt động mang tính chất hình thức, thủ tục trong tố tụng như quy định về thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ án, thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm… Những quy định này mang tính chất định lệ, hình thức “bất di bất dịch” trong mọi vụ kiện mà các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng đều phải chấp hành một cách nghiêm chỉnh trong mọi vụ án dân sự.

Nhóm thứ hai, là những quy phạm về cách thức (phương chước) để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích của mình và để tòa án có thể giải quyết chính xác vụ án dân sự. Đây chính là các quy định về hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự, mang tính chất “động” không giống nhau trong các vụ án khác nhau. Cụ thể như các quy định về chứng cứ, chứng minh, hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ…

Khi những quy phạm mang tính chất thủ tục trả lời cho câu hỏi trình tự tố tụng diễn ra như thế nào? thì những quy định về hoạt động chứng minh lại trả lời cho câu hỏi cách thức để giải quyết vụ án ra sao? – đây là câu hỏi được các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng quan tâm hàng đầu vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên đương sự và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng. Hay nói cách khác, vấn đề chứng minh là quan trọng nhất trong tố tụng dân sự.

Bên cạnh đó, “Vai trò” là danh từ dùng để chỉ “chức năng, tác dụng của cái gì hoặc của ai trong sự vận động, phát triển của nhóm tập thể nói chung”[23]. Vai trò chứng minh của đương sự là sự thể hiện chức năng, tác dụng của đương sự trong quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án. Vai trò đó được đánh giá là quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay thể hiện ở việc giải quyết ba vấn đề lớn:

– Thứ nhất, vai trò quan trọng nhất của đương sự như thế nào trong quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án đặt trong tương quan với vai trò của các chủ thể khác của hoạt động chứng minh?

– Thứ hai, dựa trên những cơ sở nào để lý giải về vai trò quan trọng hàng đầu của đương sự?

– Thứ ba, trong giai đoạn hiện nay, dưới sự tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đang ngày càng thay đổi và có ảnh hưởng hai chiều đến hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng, vai trò chứng minh của đương sự trong giai đoạn này ngày càng quan trọng được thể hiện ra sao?

Việc giải quyết triệt để ba vấn đề lớn sẽ làm sáng tỏ được vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Đương sự – chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất của hoạt động chứng minh

2.2.1 Đương sự – người phát động và giới hạn hoạt động chứng minh

Chứng minh là một quá trình nhận thức kéo dài suyên suốt vụ án với bốn giai đoạn kế tiếp nhau liên tục là thu thập, cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau củng cố và đánh giá giai đoạn trước. Tính liên tục của bốn giai đoạn được khởi động bằng việc nguyên đơn nộp đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện chính là biểu hiện rõ nét nhất của quyền đi kiện (tố quyền) của cá nhân, cơ quan tổ chức. Khi pháp luật thừa nhận cho một chủ thể những quyền năng nhất định cũng đồng thời phải đảm bảo cho quyền năng ấy được thực hiện thông qua một thủ tục tố tụng và nguyên đơn phải cụ thể hóa quyền đó bằng một đơn khởi kiện để yêu cầu bảo vệ, đây chính là “gạch nối” giữa luật nội dung và luật hình thức. Khi được thụ lý, đơn khởi kiện sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể trong BLTTDS buộc nguyên đơn không thể tự xử để bảo vệ quyền lợi của mình, buộc bị đơn dù không muốn cũng bị xét xử đồng thời với đó ràng buộc tòa án có thẩm quyền phải giải quyết yêu cầu của nguyên đơn. Trong quá trình chứng minh nói chung lại diễn ra nhiều quá trình chứng minh nhỏ như chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, bác yêu cầu của bị đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của người thứ ba… nhưng có một điểm chung là tất cả các yêu cầu đó đều bắt đầu phát sinh từ đương sự hay đương sự là người bắt đầu hoạt động chứng minh.

Theo nguyên tắc chung, khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện thì nội dung của đơn kiện chỉ coi là hợp lệ khi có “tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp” (điểm i khoản 2 Điều 164 BLTTDS), nếu không đáp ứng điều kiện này thì đơn khởi kiện sẽ không được tòa án chấp nhận và tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo căn cứ tại Điều 169 BLTTDS. Như thế, hoạt động chứng minh đã được bắt đầu và hoạt động chứng minh này được thực hiện bởi nguyên đơn. Khi bị đơn, người thứ ba có yêu cầu thì cũng phải chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp theo nguyên tắc tại điều 79 BLTTDS:

“1. Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứnh minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.”

Bản chất của quá trình tố tụng là giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng giữa hai bên nguyên – bị, lợi ích của một bên sẽ đồng thời là nghĩa vụ của bên kia. Vì thế cần thiết phải có một bên thứ ba trung lập, khách quan đứng ra giải quyết và điều hòa lợi ích giữa các bên – trọng trách này được giao cho nhà nước và thể hiện cụ thể là tòa án có thẩm quyền với quyền lực cưỡng chế cũng như tính trung lập sẽ đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên, duy trì trật tự và ổn định của xã hội. Tuy vậy, trách nhiệm của tòa án cũng chỉ được thực hiện khi đương sự có yêu cầu, điều này thể hiện rõ nét nhất quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhận thức của tòa án cũng dựa trên hoạt động chứng minh của đương sự. Là người đưa ra yêu cầu, phát động tranh chấp nên thông thường đương sự là người bắt đầu của hoạt động chứng minh và cũng chính từ yêu cầu của đương sự sẽ giới hạn hoạt động chứng minh không chỉ của đương sự mà còn của tòa án và những chủ thể khác của hoạt động chứng minh.

Ví dụ khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà. Nguyên đơn phải chứng minh mình có căn cứ cho yêu cầu hủy hợp đồng. Nếu bị đơn không đồng ý, họ sẽ phải chứng minh điều ngược lại. Tòa án cũng chỉ cần kiểm tra hợp đồng đã được xác lập là có hiệu lực pháp luật hay không? Hoạt động chứng minh trong vụ án này sẽ bắt đầu khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và được tòa án thụ lý. Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn sẽ thực hiện họat động chứng minh thông qua việc cung cấp những chứng cứ như hợp đồng vô hiệu, bị đơn vi phạm nghĩa vụ đã cam kết… Toàn bộ quá trình chứng minh sẽ xoay quanh hợp đồng mua bán nhà giữa hai bên nguyên – bị. Mặc dù bị đơn có thể có yêu cầu phản tố như yêu cầu bồi thường thiệt hại… nhưng nó cũng có liên quan mật thiết với việc chứng minh hợp đồng trên có hay không hiệu lực pháp luật.

2.2.2 Đương sự – chủ thể chứng minh chủ yếu

Khi nguyên đơn xử dụng quyền đi kiện (hành xử tố quyền) của mình thì cũng là lúc vụ án được phát động kéo theo đó là rất nhiều các chủ thể khác nhau bao gồm hai loại chính là người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Mỗi người một chức năng, nhiệm vụ khác nhau và trong đó, hầu hết đều liên quan đến hoạt động chứng minh nhưng hoạt động chứng minh của đương sự là chủ yếu bởi một số điểm như sau:

2.2.1 Đương sự là người thực hiện hầu hết công việc thu thập và cung cấp chứng cứ

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự là một nghĩa vụ có tính lịch sử. Kế thừa điều đó, BLTTDS 2004 đã quy định đương sự là người thu thập cung cấp chứng cứ chủ yếu, tòa án chỉ tham gia thu thập trong một số ít trường hợp như như lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều 87 BLTTDS), đối chất khi thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 88 BLTTDS), định giá tài sản trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí (điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS )[24]. Còn lại, các biện pháp thu thập chứng cứ khác được quy định tại chương VII BLTTDS – chứng cứ và chứng minh, đều thuộc về đương sự như: đương sự có quyền được khai báo (Điều 86), yêu cầu lấy lời khai của người làm chứng (Điều 87), yêu cầu đối chất (Điều 88), giám định, giám định bổ xung (Điều90), yêu cầu định giá tài sản (Điều 92), yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân đang nắm giữ giao chứng cứ (điểm b khoản 2 Điều 58)… Đương sự có thể thực hiện quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình thông qua hai cách là tự mình thu thập hoặc nhờ tòa án thu thập hộ khi đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 85:

“Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:

a) lấy lời khai của người làm chứng

b) Quyết định định giá tài sản

c) Xem xét, thẩm định tại chỗ

đ) ủy thác thu thập chứng cứ

e) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự”

Nhìn chung, việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu của mình, họ có sự chủ động trong các thao tác thu thập, yêu cầu thu thập. Tuy nhiên không thể nói là việc thu thập không có sự can thiệp của nhà nước bởi nếu không can thiệp sẽ gây ra tình trạng lộn xộn và đôi khi chứng cứ thu thập được không có giá trị pháp lý. BLTTDS đã quy định đầy đủ trình tự và điều kiện để đương sự thực hiện quyền năng này, đây chính là vấn đề về thủ tục. Khi vi phạm về thủ tục luật định thì chứng cứ do đương sự thu thập được cũng sẽ không được chấp nhận, tạo ra tính công bằng giữa các bên.

Trong giai đoạn cung cấp chứng cứ thì đương sự chính là người cung cấp chứng cứ cho tòa án. Đây chính là hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án, chứng cứ nhiều hay ít sẽ giới hạn việc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, xác đáng bao nhiêu thì việc tranh luận và trách nhiệm của tòa án càng đơn giản bấy nhiêu. Quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự được quy định thành một nguyên tắc tố tụng “ Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án” (Điều 6) áp dụng chung cho cả các cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền lợi cho người khác. Người khởi kiện phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ngay khi nộp đơn khởi kiện tại tòa án theo quy định tại Điều 165 BLTTDS “Người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền cung cấp chứng cứ khi tòa án thông báo về việc khởi kiện của nguyên đơn “Trong thời hạn mười năm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu có” (khoản 1 Điều 175). Trong quá trình giải quyết vụ án đương sự có quyền cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ sẽ phải chịu những hậu quả về việc đó “Trong quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho tòa án; Nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc không nộp đầy đủ đó…” (khoản 1 Điều 84 ). Tại phiên tòa sơ thẩm “Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” (khoản 3 Điều 221). Đương sự còn có thể giao nộp chứng cứ tại cấp phúc thẩm “kèm theo đơn kháng cáo là tài liệu, chứng cứ bổ xung nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp”, tại phiên tòa phúc thẩm “đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ” (khoản 3 Điều 271). Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật, đương sự cũng có thể giao nộp chứng cứ bổ sung tại tòa án hoặc viện kiểm sát để bảo vệ cho quyền lợi của mình. Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và thời điểm cung cấp mở rộng tại tất cả quá trình giải quyết là tạo điều kiện để đương sự có thể phát huy hết khả năng của mình trong việc cung cấp chứng cứ.

2.2.2 Đương sự là người tham gia tích cực trong hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ

Một trong những lý do để xếp hai hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ cùng một giai đoạn chứng minh là vì không thể tách bạch một cách cơ học rõ ràng từ thời điểm nào đến thời điểm nào là giai đoạn nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Hai hoạt động này đan xen, diễn ra trong suốt quá trình giải quyết vụ án đòi hỏi không những phải có hệ thống chứng cứ đầy đủ mà còn đòi hỏi chủ thể nghiên cứu, đánh giá phải nhìn nhận một cách toàn diện, đặt hệ thống chứng cứ trong mối liên hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Yêu cầu đặt ra là phải loại bỏ được những yếu tố mang tính “ngẫu nhiên”, tìm ra các yếu tố “tất nhiên” – mang tính quy luật nội tại mới có thể nhận thức chính xác vụ án.

Thông thường, hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ là của thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án hoặc các thành viên của hội đồng xét xử và phải tuân theo nguyên tắc đánh giá chứng cứ được quy định tại Điều 96 BLTTDS:

“1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị của từng chứng cứ.”

Quy định này là cần thiết vì tòa án là cơ quan phán xử đòi hỏi việc xem xét phải thật sự công bằng và không thiên vị bên nào. Nhưng để tòa án nhận biết được nhanh nhất, khách quan nhất thì các đương sự và một số chủ thể khác cũng có thể tham gia vào hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và thực tế đã cho thấy, rất nhiều vụ án hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của tòa án đạt hiệu quả cao lại dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá của đương sự. Điều này thể hiện tính tích cực của đương sự trong hoạt động này.

Liên quan đến hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự, đương sự có một số quyền như:

Đương sự có quyền “được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập” (điểm d khoản 2 Điều 58). Khi có quyền được biết này, đương sự sẽ có sự chủ động cao trong việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ cũng như tìm kiếm những bằng chứng để phủ nhận quan điểm của đối phương.

Tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm đương sự có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa (Điều 199, 200, 201), được nghe lời trình bày của các bên (Điều 221), được trình bày quan điểm ý kiến của mình (Điều 197), được tham gia hỏi tại phiên tòa (Điều 222) và đặc biệt BLTTDS đã dành một phần là mục 4 chương XIV để quy định về việc tranh luận giữa các đương sự, đây là sự thể hiện rõ ràng nhất về vai trò của đương sự trong việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ cũng như trong quá trình chứng minh. Đây luôn là phần hấp dẫn nhất của một phiên tòa khi mà các bên được tự do thể hiện ý chí, quan điểm của mình, vận dụng những hiểu biết pháp lý và kinh nghiệm tố tụng để bảo vệ quan điểm đó. Sự tranh luận này có hệ quả trực tiếp đến phán quyết của tòa án giải quyết vụ việc.

2.2.3 Vai trò chứng minh nổi bật của đương sự trong sự so sánh với các chủ thể khác của hoạt động chứng minh.

Chủ thể của hoạt động chứng minh là những người bằng hành vi của mình tham gia vào quá trình xác minh có hay không những tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của các bên trong quá trình giải quyết vụ án. Chủ thể của hoạt động chứng minh không chỉ có các đương sự mà còn nhiều người khác như người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, Viện kiểm sát và Tòa án. Xuất phát từ vị trí, vai trò của những chủ thể này là khác nhau khi tham gia quan hệ tố tụng nên vai trò chứng minh và phạm vi chứng minh của họ cũng khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng dù trực tiếp hay gián tiếp thì vai trò chứng minh của các chủ thể này cũng phái sinh từ vai trò chứng minh của đương sự.

2.2.3.1 Người đại diện của đương sự

Người đại diện của đương sụ trong tố tụng dân sự là người thay mặt cho đương sự trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đương sự. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì người đại diện theo pháp luật bao gồm có cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ hộ gia đình đối với gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác (Điều 142 BLDS), ngoài ra cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật cho người được khởi kiện (Điều 73 BLTTDS), người được tòa án chỉ định để đại diện cho đương sự tham gia tố tụng (Điều 76 BLTTDS).

Người đại diện theo ủy quyền cũng là người thay mặt cho đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng thông qua một giấy ủy quyền thể hiện ý chí của người đại diện và người được đại diện, phạm vi đại diện được ghi nhận một cách cụ thể trong giấy ủy quyền đó. Có thể đại diện một phần hay toàn bộ nhưng trong vụ án ly hôn, đương sự không thể ủy quyền cho người khác tham gia thay mình.

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự và trong hoạt động chứng minh được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại điều 74 BLTTDS:

“1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện.

2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.”

Khi tham gia vào hoạt động chứng minh, người đại diện có toàn quyền trong việc đề ra các yêu cầu, phản yêu cầu và chứng minh cho những ý kiến đó. Nhưng dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền của đương sự thì vai trò chứng minh của họ cũng phát sinh sau khi phát sinh vai trò chứng minh của đương sự. Đương sự không thể hoặc có hạn chế nhất định không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của pháp luật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện hoặc tòa án sẽ chỉ định người đại diện cho họ. Hoạt động chứng minh của người đại diện là “thay mặt” đương sự, hành vi chứng minh của họ cũng chính là hành vi của đương sự và hướng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Khi tư cách đương sự chấm dứt thì tư cách đại diện của họ cũng chấm dứt.

Như vậy, so với đương sự, hoạt động chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp gặp nhiều khó khăn hơn nên hiệu quả chứng minh hạn chế hơn. Còn đương sự là chủ thể của quan hệ tranh chấp, lợi ích của họ gắn với đó, họ là người hiểu nhất về quyền và nghĩa vụ của mình, về nguyên nhân phát sinh tranh chấp, về thực trạng quan hệ pháp luật của mình… nên hoạt động chứng minh sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn.

2.2.3.2 Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (khoản 1 Điều 64 BLTTDS). Những người này có thể là luật sư hoặc bất cứ chủ thể nào đủ điều kiện mà đương sự tin tưởng. Đây cũng là một chủ thể của hoạt động chứng minh, họ có thể tham gia vào vụ án ở bất cứ giai đoạn nào, được tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Liên quan đến hoạt động chứng minh, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:

“2. Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ” (Điều 64 BLTTDS).

Trong trường hợp này, vai trò chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ đương sự khi được “nhờ”, đương sự vẫn là người đề ra việc chứng minh, yêu cầu hoặc phản yêu cầu nhưng do có hạn chế về mặt pháp lý cũng như kinh nghiệm tố tụng nên họ phải cầu cứu đến sự hỗ trợ, những người này chỉ có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh, việc chứng minh được hay không không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ. Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự có thể không có mặt tại phiên tòa ( Điều 203 BLTTDS ).

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, vị trí pháp lý của người bảo vệ quyền lợi của đương sự không có gì khác so với đương sự vì họ cùng thuộc nhóm người tham gia tố tụng. Họ không có quyền thay mặt đương sự mà chỉ có thể giúp đỡ đương sự. Suy cho cùng, trong hoạt động chứng minh đương sự vẫn tự mình quyết định, tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Điều này cũng là một minh chứng cụ thể cho vai trò nổi bật của đương sự.

2.2.3.3 Viện kiểm sát

Viện kiểm sát tham gia quá trình chứng minh thông qua hai hoạt động là tham gia phiên tòa và kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Viện kiểm sát tham gia phiên tòa “đối với những vụ án do tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại” (khoản 2 Điều 2 ) cụ thể là những vụ án do tòa án thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 hoặc những vụ án mà tòa án tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 87, khoản 2 Điều 88, điểm b khoản 1 Điều 92. Khi đó, tòa án nhân dân phải chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu (trừ trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp với tòa án cấp phúc thẩm đã kháng nghị phúc thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đã kháng nghị theo theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục tái thẩm)[25] trong một thời gian luật định để tiến hành xem xét.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm khi xét thấy có căn cứ, khi đó viện kiểm sát phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 251, khoản 5 Điều 287 BLTTDS, có quyền nghiên cứu hồ sơ (Điều 262), tham gia phiên tòa (khoản 2 Điều 264), có quyền phát biểu ý kiến (điểm b khoản 1 Điều 271, khoản 1 Điều 295, Điều 310)…

Như vậy, với hành vi kháng nghị Viện kiểm sát cũng tham gia hoạt động chứng minh một cách hết sức tích cực. Tuy nhiên, đây là nghĩa vụ của Viện kiểm sát do luật định, sau khi đương sự thực hiện hoàn tất quyền và nghĩa vụ của mình thì trong nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát xét thấy việc xét xử của tòa án là chưa công bằng nên thực hiện quyền kháng nghị của mình. Cũng tương tự, khi đương sự có yêu cầu, khiếu nại đối với việc tòa án thu thập chứng cứ thì để đảm bảo khách quan, Viện kiểm sát phải tham gia để bảo vệ quyền lợi của các bên cũng như pháp chế của nhà nước – đây là một nghĩa vụ phái sinh vì nếu đương sự không thực hiện hoạt động chứng minh thì viện kiểm sát cũng không thể thực hiện hoạt động chứng minh của mình.

2.2.3.4 Tòa án

Để nghiên cứu vai trò chứng minh của tòa án cần nhận thức rõ thái độ cụ thể của tòa án khi tiến hành tố tụng dân sự. Tòa án – thể hiện cụ thể trong một vụ án dân sự là thẩm phán tiến hành giải quyết vụ án đó giữ thái độ trung lập (bởi đây là những tranh chấp mang tính chất “tư”), đề ra đối tượng chứng minh và đốc thúc, hỗ trợ hoạt động chứng minh của các bên đương sự. Hoạt động chứng minh của tòa án chủ yếu dựa trên sự chứng minh của đương sự. Khi đương sự trình bày sự kiện, xuất nạp giấy tờ, yêu cầu của mình và liên hệ trực tiếp đến yêu cầu đó bằng những chứng cứ, kết quả sẽ tùy thuộc vào việc có hay không những bằng cớ cụ thể. Như vậy, mục đích của việc chứng minh là khác nhau. Trong khi tòa án phải chứng minh tính khách quan trong vụ án, phán quyết đưa ra phải công bằng với cả hai bên trong phạm vi hoạt động chứng minh của họ thì đương sự lại chứng minh cho yêu cầu của mình cũng như hoàn toàn có thể phủ nhận yêu cầu hay phản yêu cầu của đương sự bên kia.

Vai trò chứng minh của tòa án thể hiện ở một số quyền và nghĩa vụ như: tự mình tiến hành thu thập chứng cứ trong một số trường hợp quy định tại mục 1.2 phần IV nghị quyết số 04/2005/NQ – HĐTP ngày 19/9/2005 của HĐTPTANDTC về chứng cứ và chứng minh. Yêu cầu đương sự nộp bổ sung chứng cứ khi “xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết” (khoản 1 Điều 85). Theo yêu cầu của đương sự tòa án sẽ quyết định các biện pháp thu thập chứng cứ như định giá tài sản, lấy lời khai của người làm chứng, quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung, đối chất… có quyền nghiên cứu, đánh giá chứng cứ theo điều 96, 97 BLTTDS, đây là điều hiển nhiên vì tòa án là người tiến hành hoạt động lập hồ sơ vụ án cũng như căn cứ vào đó để giải quyết. Tại phiên tòa, HĐXX có quyền hỏi những người tham gia phiên tòa như đương sự, người làm chứng…

Hoạt động chứng minh của tòa án chủ yếu trong giai đoạn nghiên cứu, đánh giá chứng cứ mà những chứng cứ này là do đương sự cung cấp. Như đã làm rõ, không có giai đoạn thu thập, cung cấp chứng cứ thì cũng sẽ không có giai đoạn nghiên cứu đánh giá chứng cứ. Tuy nhiên cũng không thể nào nói rằng hoạt động chứng minh do tòa án và đương sự thực hiện mỗi người một nửa vì đương sự cũng thực hiện việc nghiên cứu đáng giá chứng cứ tại phiên tòa cũng như được quyền biết, sao chép… tạo cơ sở cho việc tranh luận. Tòa án cũng thu thập chứng cứ mặc dù có hạn chế nhưng việc hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ được thể hiện rõ ràng. Đây là những hoạt động xen kẽ nhau, bổ sung cho nhau nhưng vai trò của đương sự thể hiện rõ ràng hơn trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình – bản chất của tố tụng dân sự. Việc đương sự có chứng minh được hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phán quyết của tòa án “lý luận và thực tiễn việc giải quyết các vụ việc dân sự của tòa án đã cho thấy, việc không chứng minh được một sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự có thể kéo theo việc ra một quyết định không có cơ sở làm sâm phạm đến quyền lợi của các bên đương sự không hoàn thành được nghĩa vụ chứng minh của họ”[26]. Như vậy, vai trò chứng minh của đương sự rõ nét hơn tòa án. Hoạt động chứng minh của đương sự là cơ sở cho hoạt động chứng minh của tòa án và bản án là một sự ghi nhận lại kết quả quá trình chứng minh của đương sự.

2.3. Cơ sở luận giải cho vai trò chứng minh quan trọng nhất của đương sự trong hoạt động chứng minh

2.3.1 Lý luận về tính lợi ích trong các tranh chấp

Theo C. Mac thì “ con người trước hết phải ăn uống ở và mặc rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật”,[27] các nhu cầu thiết yếu này của con người phải thỏa mãn thông qua các giao dịch dân sự. Do vậy, trong quan hệ pháp luật dân sự, khi tham gia điều mà các chủ thể hướng tới để xác lập các quyền và nghĩa vụ chính là lợi ích. Lợi ích ở đây có thể là các lợi ích về vật chất hoặc có thể là lợi ích về tinh thần, đặc biệt trong một số trường hợp mặc dù “đau đớn không thể đổi ra tiền bạc được” nhưng việc thừa nhận những lợi ích về mặt tinh thần có thể làm xoa dịu đi nỗi đau cũng như sự mất mát của các chủ thể (tranh chấp về việc nuôi hay thăm nom con sau khi ly hôn…). Các quan hệ dân sự gắn bó mật thiết với lợi ích lợi ích là định hướng cho hoạt động của con người trong các mối quan hệ với cộng đồng, với xã hội. Cho dù có bị chi phối bởi các yếu tố về đạo đức, tín ngưỡng, phong tục tập quán hay bất kỳ một yếu tố nào khác thì vấn đề về lợi ích luôn được quan tâm đầu tiên. Có nhiều loại lợi ích khác nhau cùng tồn tại như lợi ích của cá nhân, lợi ích của cộng đồng, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài.. Nhưng trong đó, lợi ích cá nhân bao giờ cũng là quan trọng và dễ nhận biết nhất bởi nó đáp ứng ngay chính nhu cầu cá nhân của con người và nó là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người hoạt động. Trong lợi ích của cá nhân cụ thể lại có nhiều loại lợi ích khác nhau như lợi ích về kinh tế, lợi ích về tinh thần, lợi ích về chính trị…Nhưng lợi ích về mặt kinh tế luôn rõ ràng và được quan tâm hơn cả vì nó đáp ứng nhu cầu thiết yếu mang tính chất sống còn của cá nhân. Chính vì vậy, coi lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy tính chủ động, sáng tạo và tích cực của con người là một quan điểm đúng đắn.

Khi có tranh chấp dân sự sảy ra và yêu cầu tòa án giải quyết cũng đồng nghĩa với việc một bên đương sự cho rằng lợi ích của mình đang bị xâm hại bởi hành vi trái pháp luật của người khác như việc kiện đòi bồi thường thiệt hại, kiện đòi tài sản cho vay, kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng… Nguyên đơn chứng minh có lợi ích tồn tại cũng chính là việc có sự “suy diễn” trách nhiệm từ phía bị đơn buộc bị đơn phải tham gia tố tụng tích cực. Việc thừa nhận quyền lợi của bên đương sự này cũng đồng nghĩa phát sinh một nghĩa vụ của đương sự còn lại và họ sẽ phải từ bỏ một phần lợi ích mà mình đang có. Chính vì việc bảo vệ lợi ích của mình mà các bên đương sự tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự. Do đó, vai trò chủ động, tích cực của đương sự từ đó mà phát sinh, không có một chủ thể nào trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tích cực hơn đương sự trong việc giải quyết một cách nhanh chóng, khách quan vụ án dân sự. Đối với tòa án, vấn đề lợi ích tranh chấp sẽ giới hạn hoạt động chứng minh và xét xử, định hướng hoạt động của tòa án trong việc giải quyết. Đây là tiền đề lý luận quan trọng nhất trong việc nhận định vai trò tích cực và quan trọng nhất của đương sự trong hoạt động chứng minh, đi tìm sự thật khách quan của vụ án đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia.

2.3.2 Lý luận về sự thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức

Pháp luật của mỗi quốc gia được chia thành nhiều ngành luật khác nhau phụ thuộc vào quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Các ngành luật đó hình thành nên hai hệ thống là luật công (droit public) và luật tư (droit prive). Luật công bao gồm các ngành luật có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ có một bên tham gia là nhà nước như luật hành chính, luật hình sự, luật thuế… Luật tư bao gồm các ngành luật mà ở đó không xuất hiện yếu tố quyền lực nhà nước thể hiện tính bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên tham gia như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại, luật lao động, luật bảo hiểm xã hội[28]…

Trong mỗi ngành luật lại được phân chia thành luật nội dung và luật hình thức. Luật nội dung điều chỉnh các quan hệ xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên dựa trên những sự kiện pháp lý nhất định được nhà nước quy định hoặc thừa nhận. Còn luật hình thức là ngành luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh, thay đổi, chấm dứt trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột giữa các bên thông qua một thủ tục tố tụng. Việc nhận thức luật tố tụng dân sự thuộc ngành luật công hay luật tư là hết sức khó khăn. Bởi lẽ, nếu đứng trên phương diện về mục đích của hoạt động này là cáo buộc những hành vi xâm phạm quyền lợi của các cá thể và bảo vệ quyền lợi của các cá thể mang quyền khác, bảo vệ quyền tư hữu thì luật tố tụng dân sự thuộc lĩnh vực luật tư và đây cũng là quan điểm của Bộ dân sự tố tụng năm 1807 của Pháp. Ngoài ra, nếu xét ở góc độ khác ở vị trí, vai trò của tòa án trong việc thụ lý, cách thức tiến hành tố tụng, thời gian, địa điểm, quá trình xét xử… thì Luật TTDS lại được xếp vào ngành luật công vì nó liên quan đến việc điều hành pháp luật của nhà nước, khi có tranh chấp xảy ra đòi hỏi phải có bàn tay quyền lực của nhà nước giải quyết. Nói tóm lại là không thể xếp luật tố tụng dân sự vào lĩnh vực công luật hay tư luật tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như quan điểm nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay. Nhưng chỉ có một nhận định đúng là giữa luật nội dung và luật hình thức luôn tồn tại sự thống nhất về bản chất bởi vai trò của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đó.

Hiện nay, Việt Nam tồn tại ba thủ tục tố tụng là tố tụng hình sự (luật tố tụng hình sự), tố tụng hành chính (pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính) và tố tụng dân sự (bộ luật tố tụng dân sự). Luật tố tụng dân sự “bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước”[29]. Có một đặc điểm khác biệt giữa luật tố tụng dân sự với các ngành luật tố tụng khác là luật tố tụng dân sự là một ngành luật hình thức của nhiều ngành luật nội dung khác nhau như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại, luật lao động mà không như các ngành luật tố tụng khác khi mà đối tượng điều chỉnh chỉ là một ngành luật thống nhất. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, mặc dù là một ngành luật mang tính chất tổng hợp của nhiều luật nội dung khác nhau nhưng các luật nội dung này đều mang bản chất của luật tư – hệ thống tồn tại sự bình đẳng, thỏa thuận giữa các đương sự, không có sự tham gia của quyền lực nhà nước trong một bên tham gia tranh chấp, hoặc có một bên sử dụng quyền lực nhà nước (như hợp đồng mua bán tài sản có một bên là cơ quan nhà nước) nhưng quyền lực này không mang tính chi phối và ảnh hưởng đến bên chủ thể còn lại.

Bản chất của luật tư có thể có sự thỏa thuận giữa các bên tham gia (như hợp đồng) hoặc không có sự thỏa thuận giữa các bên tham gia (như bồi thường thiệt hại) nhưng có một điểm chung là nó luôn phát sinh từ chủ thể tham gia và hướng đến việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ nhất định giữa các bên tham gia. Khi sảy ra tranh chấp, xung đột và được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự thì đối tượng đầu tiên được hướng đến là các đương sự bởi những đương sự trong tố tụng dân sự cũng chính là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp.

Chính vì là các chủ thể được hướng tới nên vai trò của đương sự trong hoạt động tố tụng dân sự là vấn đề quan trọng nhất và các chủ thể này không có gì khác khi thể hiện vai trò quan trọng của mình thông qua hoạt động chứng minh – hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích của chính bản thân họ. Đây là tiền đề lý luận quan trọng trong việc nhận định về vai trò quan trọng hàng đầu của đương sự trong hoạt động chứng minh nói riêng và trong tố tụng dân sự nói chung.

2.3.3 Đương sự hiểu vụ án dân sự hơn ai hết

Đương sự – như đã phân tích ở trên là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đương sự chính là các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp, họ hiểu vụ án hơn bất kỳ chủ thể nào khác tham gia tố tụng. Tòa án chỉ có thể nhận thức được vụ án thông qua những chứng cứ, lập luận do đương sự cung cấp, những chủ thể tham gia tố tụng khác thì xuất phát từ vị trí, chức năng tố tụng của mình mà có những quyền và nghĩa vụ phối hợp làm rõ một phần vụ án như người làm chứng, người giám định… Còn đương sự họ có mặt từ đầu khi xác lập các mối quan hệ pháp lý về nội dung, quá trình vận động của quan hệ đó dẫn đến phát sinh tranh chấp. Họ hiểu vụ án nên có thể tiếp cận một cách dễ dàng các chứng cứ đang có trong tay cũng như biết được cần thiết phải lấy các chứng cứ khác ở đâu khi có yêu cầu. Như trong một tranh chấp về thừa kế tài sản thì các bên sẽ là người biết rõ nhất có hay không có di chúc, tài sản để lại là bao nhiêu, ở đâu, hình thành như thế nào?… tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thì đương sự sẽ biết rõ nhất có hay không hợp đồng này, bên vay đã trả tài sản cho bên cho vay chưa, trả bao nhiêu, thời gian nào, phương thức thanh toán ra sao?… Nên khẳng định rằng đương sự là người hiểu vụ án dân sự hơn ai hết là một lập luận hoàn toàn chính xác.

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự không gì khác là tái hiện lại sự thật khách quan vốn đã phát sinh giữa các bên đương sự để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tái hiện lại sự thật đã qua đi thì không thể phủ nhận được vai trò tích cực và quan trọng hàng đầu của những người hiểu vụ án hơn ai hết.

2.4. Vai trò chứng minh của đương sự ngày càng quan trọng hơn trong giai đoạn hiện nay

Vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh và có tính chất quyết định đến hoạt động chứng minh của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng khác. Tính quan trọng của đương sự được thể hiện thông qua những hành vi tố tụng cụ thể được pháp luật quy định. Trong giai đoạn hiện nay, khi những yếu tố mới trong và ngoài nước đang hình thành và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội thì vài trò chứng minh của đương sự cũng bị chi phối và càng trở lên quan trọng hơn. Dưới đây đi vào chỉ rõ một số những tác động của xu thế ngày nay ảnh hưởng đến vai trò chứng minh quan trọng nhất của đương sự

2.4.1 Công cuộc đổi mới và hoàn thiện hệ thống tư pháp dựa trên sự lãnh đạo của Đảng

Nhà nước ta đã trải qua 20 năm của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu công bằng dân chủ, văn minh, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được cụ thể hóa trong nhiều văn bản bản có giá trị pháp lý cao như Hiến Pháp 1992 (Điều 2, Điều 3), các luật, văn bản dưới luật trong từng lĩnh vực cụ thể và đã đạt được nhiều mục tiêu to lớn trên tất cả các mặt từ kinh tế, chính trị đến văn hóa xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới đang đi vào giai đoạn then chốt, quan trọng nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng những cơ sở cho mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa trong đó có nhiệm vụ đổi mới hệ thống chính trị. Tuy nhiên, việc đổi mới hệ thống chính trị cũng không nằm ngoài mục tiêu chung của nhà nước xã hội chủ nghĩa“là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”[30]

Cụ thể hóa quan điểm của nhà nước, Trung Ương Đảng và Chính Phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình cải cách tư pháp, xây dựng cơ sở cho công cuộc đổi mới và phát triển như nghị quyết số 08/NQ – TW ngày 02 thánh 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, chỉ thị của Thủ Tướng Chính Phủ số 10/2002/CT – TTg ngày 19 tháng 03 năm 2002 về việc triển khai thực hiện nghị quyết số 08/ NQ – TW của Bộ Chính Trị, nghị quyết số 34/NQ – TW ngày 03 tháng 02 năm 2004 về một số chủ trương, chính sách giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, nghị quyết số 49 – NQ/ TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020… Trong đó, vai trò chứng minh của đương sự đã được quy định thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”[31].

Chính sự chỉ đạo và định hướng của Đảng đã dần nâng cao nhận thức cũng như tính hiệu quả trong hoạt động tư pháp ảnh hưởng đến vai trò chứng minh của đương sự. Khi đã là một nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng hàng đầu thì đòi hỏi toàn bộ hệ thống tư pháp phải có sự mở rộng hơn nữa quyền và nghĩa vụ cụ thể của đương sự, đặt đương sự vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình tố tụng giúp cho vai trò của họ ngày càng quan trọng và được quan tâm hơn.

2.4.2 Xu thế của sự hội nhập

Trong xu thế phát triển chung hiện nay, những thuật ngữ như “hội nhập”, “toàn cầu hóa” đang được nhắc đến liên tục trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các quan hệ trên thế giới đang có sự giao thoa mạnh mẽ, mỗi quốc gia không thể bó hẹp mình trong phạm vi lãnh thổ mà phải tham gia một cách tích cực, chủ động mới có thể hội nhập và phát triển đất nước. Trong những năm qua, Việt Nam đã chủ động gia nhập vào các tổ chức, diễn đàn lớn trên thế giới và thể hiện được vai trò của mình như Liên Hợp Quốc, WTO, Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Châu á-Thái Bình Dương(APEC), Diễn đàn á- Âu (ASEM)…đồng thời với các thời cơ mới, thử thách mới là nhiệm vụ phải “đảm bảo sự thống nhất của Luật, các quy định dưới luật và các quy tắc hành chính với các nghĩa vụ của mình…”[32]

Sân chơi chung đòi hỏi phải có luật lệ chung, mà luật lệ chung này được cấu thành trên pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau. Khi tham gia các quan hệ mang tính liên quốc gia của nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại, lao động, đầu tư… đòi hỏi sự hiểu biết không chỉ luật lệ của một quốc gia mà phải hiểu biết luật lệ của nhiều quốc gia, không chỉ của một ngành luật cụ thể mà còn phải tổng hợp của nhiều ngành luật liên quan. Khi tranh chấp phát sinh, không phải nhà nước là chủ thể của một bên tranh chấp mà đương sự được xác định là các bên tham gia quan hệ hợp tác. Đương sự cần thiết phải tự bảo vệ được mình. Xu thế hội nhập đã kéo theo sự ra tăng nhanh chóng các vụ tranh chấp xuyên quốc gia mà ở đó chúng ta đã tỏ ra lúng túng khi thiếu đi những sự hiểu biết về pháp luật của đối phương. Nguyên nhân sâu xa là do tính “bao cấp” trong lĩnh vực tố tụng trong một thời gian dài làm cho các đương sự ỷ lại vào nhà nước, coi việc giải quyết tranh chấp là của tòa án chứ không phải là của bản thâm mình. Điều này đi ngược lại với thông lệ quốc tế. Các quốc gia phát triển trên thế giới từ lâu đã coi trọng việc tự bảo vệ của đương sự trong hoạt động tố tụng. Những học giả tư bản đã xây dựng mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo hướng các bên đương sự được quyền tự do sử dụng chứng cứ mà mình có để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước phía có lợi ích tranh chấp. Tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ mà chỉ có quyền sử dụng các chứng cứ mà các bên đưa ra làm cơ sở cho phán quyết của mình. Thuật ngữ “cỗ máy ra phán quyết” được áp dụng một cách triệt để trong sự tự vận động của đương sự (hình thức tố tụng cáo tố).

Nhận thức được giá trị của việc giải quyết các tranh chấp không phải nằm ở nhiều thủ tục tố tụng, mà ở chỗ phát huy được vai trò chủ động, tích cực của đương sự trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. BLTTDS 2004 ra đời đánh dấu sự thống nhất các thủ tục tố tụng dân sự, lao động, kinh tế, loại bỏ giai đoạn điều tra trong tố tụng dân sự, ý thức một cách rõ ràng về vai trò của đương sự và xây dựng các quy chuẩn tố tụng phù hợp với thông lệ quốc tế, giảm thiểu đi sự lúng túng của đương sự khi tham gia tranh tụng tại các phiên tòa trên thế giới. Việc nhận thức một cách toàn diện và xây dựng thành công các quy phạm pháp lý điều chỉnh tới vai trò của đương sự trong hoạt động chứng minh là một bước tiến lớn trong BLTTDS hiện hành.

Khi nghiên cứu, tìm hiểu một số bộ luật tố tụng dân sự của các nước phát triển và có nền lập pháp lâu đời như Nga, Pháp, Trung Quốc… chúng ta có thể nhận thấy sự tương thích đáng kể trong cách nhìn nhận về vai trò chứng minh của đương sự trong hoạt động tố tụng thể hiện sự kế thừa, tiếp thu có trọn lọc những sự tiến bộ trong lĩnh vực lập pháp. Khi có tranh chấp phát sinh các đương sự phía Việt Nam dù là nguyên đơn hay bị đơn cũng có thể tự bảo vệ mình trong quá trình giải quyết.

2.4.3 Quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn hiện nay ngày càng được quan tâm

Khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, đương sự còn mang trong mình các quyền của con người, quyền công dân. Những quyền này có mối quan hệ biện chứng với nhau, khi quyền con người, quyền công dân ngày càng được quan tâm hơn, đầy đủ hơn thì quyền đương sự cũng theo đó mà được nâng cao, ghi nhận. Ngược lại, sự ghi nhận ngày càng đầy đủ quyền đương sự trong tố tụng chính là sự thể hiện quyền công dân, quyền con người đang ngày càng phát triển. Thời gian vừa qua, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế liên quan đến quyền con người như Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, Công ước xóa bỏ mọi sự phân biệt đối với phụ nữ… và được cụ thể hóa thành các quyền của công dân quy định trong Hiến Pháp và pháp luật của nhà nước. Ngày 8/5/2009, tại Geneva (Thụy Sĩ) lần đầu tiên Việt Nam trình bày báo cáo các vấn đề về quyền con người tại kỳ họp thứ V của Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc với sự tham dự của 192 quốc gia thành viên và đã nhận được những sự phản hồi tích cực thể hiện sự quan tâm ngày càng cao của Việt Nam tới vấn đề này. Như trong báo cáo đã nêu “nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực cho mọi chính sách phát triển kinh tế – xã hội và luôn nhất quán trong việc bảo đản và thúc đẩy các quyền con người” Việt Nam luôn coi trọng quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo thực hiện trên thực tế bằng những cơ chế, chính sách cụ thể. Là một bộ phận của hệ thống chính trị quốc gia nên “hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực tư pháp nói chung và trong hoạt động tố tụng dân sự của tòa án nói riêng không nằm ngoài nguyên lý chung và trên cơ sở quyền con người về dân sự đã được khẳng định trong Hiến Pháp và Bộ luật dân sự”[33] Đây là mục tiêu cơ bản của tố tụng dân sự trong giai đoạn hiện nay. Đương sự đóng vai trò trung tâm trong tố tụng dân sự. Nếu không có đương sự thì không có tố tụng dân sự và đương sự thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình chủ yếu thông qua hoạt động chứng minh. ở đó, đương sự có thể tự mình định đoạt đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ động và tích cực tham gia các quan hệ tố tụng đồng thời có thể giảm gánh nặng về thủ tục cũng như trách nhiệm của tòa án. Thông qua việc mở rộng các quyền của đương sự, quyền công dân, quyền con người, đương sự có thể dễ dàng trong hoạt động chứng minh tính khách quan của vụ án cũng như tăng thêm tính chịu trách nhiệm đối với các quyền và lợi ích của mình góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy các giao lưu dân sự, thực hiện thành công công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà Nước đã đề ra.

Tổng kết phần 2

Trong phần 2, tác giả đã đi vào nghiên cứu và chỉ rõ vai trò của đương sự là quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh thông qua bốn giai đoạn là thu thập, cung cấp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Chỉ rõ những quy định của pháp luật liên quan đến những hoạt động cụ thể này cũng như chứng minh tính quan trọng nhất của đương sự thông qua việc so sánh vai trò chứng minh của đương sự có tính chất quyết định đến hoạt động chứng minh của các chủ thể khác như: người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, viện kiểm sát và tòa án nhân dân. Đồng thời với đó đã đưa ra những luận giải thích hợp về tính lợi ích trong các tranh chấp, sự thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức cũng như những lý luận về việc đương sự là người hiểu vụ án nhất để giải thích rằng tại sao đương sự lại là chủ thể quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh.

Trong giai đoạn hiện nay khi những tác động của công cuộc đổi mới hoạt động tư pháp, xu thế của sự hội nhập cũng như trong giai đoạn quyền công dân, quyền con người đang ngày càng được quan tâm hơn đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến vai trò chứng minh của đương sự khiến cho vai trò này ngày càng quan trọng hơn.

Từ việc nhận thức rõ vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất thì việc tạo ra những cơ chế, quy định cụ thể để họ có thể làm tốt nhất công việc của mình, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp là rất cần thiết. Vấn đề này sẽ được giải quyết trong phần 3.

3. NHỮNG BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật về vai trò chứng minh của đương sự

3.1.1 Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động chứng minh.

Khi các tranh chấp dân sự sảy ra thì tính lợi ích trong đó được thể hiện rất rõ ràng, các đương sự tham gia là nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Chính yếu tố lợi ích này sẽ là động lực hình thành và phát triển tính chủ động, nhanh chóng của đương sự trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Do vậy, cần nhận thức và khai thác triệt để khả năng của đương sự trong hoạt động chứng minh. Một mặt giảm công việc của tòa án trong điều kiện “Các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động gia tăng về số lượng và ngày càng phức tạp” [34]. Mặt khác tạo ra tính tự chịu trách nhiệm từ phía đương sự. BLTTDS đã quy định quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự thành một nguyên tắc cụ thể và nguyên tắc này có mối quan hệ biện chứng mật thiết với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự. Đương sự chỉ có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình khi đảm bảo sự tự định đoạt và ngược lại, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự thể hiện rõ nét nhất khả năng tự định đoạt của đương sự. Theo đó, các quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự do chính hành vi tố tụng của họ quyết định. Khi đương sự đưa ra yêu cầu mà thực hiện được đầy đủ, chính xác quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình thì các quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được đảm bảo bằng phán quyết của tòa án. Khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng đắn, đầy đủ nghĩa vụ này cũng đồng nghĩa là họ đã tự mang lại cho mình một hậu quả pháp lý bất lợi . Hoạt động chứng minh theo đó mà cũng phải đảm bảo được sự tự chủ của đương sự, tòa án chỉ đóng vai trò hỗ trợ đương sự trong việc cung cấp, thu thập và thậm chí cả nghiên cứu, đánh giá chứng cứ.

Mặc dù là một nguyên tắc quan trọng nhưng quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động chứng minh được quy định một cách chung chung và trên thực tế chưa có những biện pháp cụ thể để bảo đảm hoạt động của đương sự còn bị mang tính bị động và phụ thuộc quá nhiều vào tòa án như trong việc thu thập chứng cứ của đương sự còn phụ thuộc nhiều vào tòa án, việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của đương sự gần như không được quan tâm và chỉ thể hiện một cách hạn chế tại phiên tòa. Nhưng chính tại phiên tòa các quyền tự định đoạt trong hoạt động chứng minh lại một lần nữa không được đảm bảo khi mà thủ tục thẩm vấn diễn ra phổ biến, khả năng tranh tụng của đương sự bị hạn chế do thiếu kinh nghiệm tố tụng và không được quan tâm… Chính vì vậy, để đảm bảo cho việc phát huy vai trò trung tâm, quan trọng nhất của đương sự trong hoạt động chứng minh nói riêng và toàn bộ tiến trình tố tụng dân sự nói chung cần thiết nhất là phải đảm bảo được quyền tự định đoạt của đương sự và tạo ra các cơ chế, biện pháp cụ thể để quyền này có thể thực hiện được một cách nhanh chóng, chính xác.

3.1.2 Đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự trong hoạt động chứng minh và sự triệt để tuân thủ pháp luật

“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” là một nguyên tắc chỉ đạo được quy định tại Điều 52 Hiến Pháp 1992 thể hiện bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, các biện pháp hoàn thiện vai trò chứng minh của đương sự cũng phải đảm bảo được nguyên tắc cụ thể này bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đương sự thể hiện vai trò chứng minh hàng đầu của mình. Chủ thể của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự rất đa dạng bao gồm các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của chung), tòa án, viện kiểm sát (trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án). Trong đó, vai trò của đương sự ở vị trí trung tâm và quyết định đến việc chứng minh của các chủ thể khác. Hơn nữa, các bên đương sự là những cá nhân, cơ quan, tổ chức có địa vị pháp lý bình đẳng nên các biện pháp đưa ra để hoàn thiện vai trò chứng minh của đương sự phải mang tính bình đẳng. Bình đẳng ở đây nghĩa là không có bất cứ sự phân biệt nào về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự. Không ai có bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào dù đó là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời hậu quả pháp lý bất lợi sẽ áp dụng cho tất cả các đương sự không thực hiện hay thực hiện một cách không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình. Có làm được như vậy mới giúp đương sự hoàn thành tốt quyền và nghĩa vụ chứng minh.

Bên cạnh đó, nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi hoạt động phải dựa trên quy định của pháp luật. Không chỉ đương sự phải triệt để tuân thủ pháp luật khi thực hiện hoạt động chứng minh mà đòi hỏi cả từ phía các cơ quan tổ chức có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ đương sự. Một mặt cần nâng cao ý thức trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức này mặt khác phải quy định các biện pháp chế tài cụ thể để áp dụng khi họ vi phạm, quy kết trách nhiệm về từng cá nhân cụ thể. Có như vậy hoạt động tố tụng mới diễn ra thuận lợi và suôn sẻ.

3.1.3 Việc hoàn thiện pháp luật phải cụ thể và có các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo thực hiện trên thực tế

Một bộ phận luật pháp hiện tại còn mang nặng tính hình thức, chung chung khẩu hiệu và không có biện pháp bảo đảm cụ thể nên đã không phát huy được vai trò tích cực trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, các biện pháp hoàn thiện vai trò chứng minh của đương sự đòi hỏi phải tránh được hiện tượng chung chung, hình thức này mới mong có hiệu quả cao. Các biện pháp đưa ra phải hướng tới những chủ thể cụ thể của hoạt động chứng minh, những chủ thể có nghĩa vụ hỗ trợ với những biện pháp cụ thể và có tính thực tiễn cao, vừa dễ làm, dễ tiếp cận vừa có hiệu quả cao

3.1.4 Việc hoàn thiện pháp luật phải dựa trên sự học hỏi kinh nghiệm tiến bộ của các nước trên thế giới nhằm tạo ra tính tương thích, phù hợp.

Như đã phân tích ở trên, trong giai đoạn hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, có ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống xã hội, đất nước trong đó có cả lĩnh vực tố tụng dân sự. Vì thế, hoàn thiện pháp luật về tố tụng cũng như vai trò chứng minh của đương sự không thể đặt ra ngoài sự vận động chung của thế giới, có như vậy khi tham gia tranh chấp quốc tế sự bỡ ngỡ sẽ giảm đi, tính chủ động được tăng lên và sẽ không quá khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích. Một trong những biện pháp được đưa ra là học hỏi, tham khảo tiếp thu có trọn lọc các quy định về tố tụng dân sự tại một số nước có nền lập pháp lâu đời trên thế giới sẽ rút ngắn được thời gian nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng.

3.2. Những giải pháp cụ thể để hiện thực các quy định của pháp luật

Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được hình thành trên cơ sở hạ tầng tương ứng, muốn pháp luật phát huy được vai trò tích cực của mình trong việc định hướng sự vận động của xã hội, phục vụ được mục tiêu của nhà nước thì đòi hỏi nó phải thực tế, phù hợp với những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội. Vấn đề về vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự cũng vậy, khi đã nhận thức được vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay thì cần thiết phải đưa ra được những giải pháp để đương sự có thể triệt để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Những giải pháp này cần cụ thể, dễ thực hiện và không chỉ dừng lại ở các nguyên tắc chung. Trong quá trình nghiên cứu BLTTDS 2004 về vai trò chứng minh của đương sự có thể nhận thấy một số điểm còn hạn chế. Dưới đây xin đi vào chỉ rõ những hạn chế đó đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể để giải quyết

3.2.1 Tạo điều kiện để đương sự có thể tiếp cận, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

Thứ nhất, theo quy định của bộ luật TTDS hiện hành thì các đương sự có quyền “được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập” (điểm d khoản 2 Điều 58). Tuy nhiên, trên thực tế quyền quan trọng này của đương sự rất khó có thể thực hiện được. Thông thường thì chỉ khi nguyên đơn khởi kiện thì các tài liệu chứng cứ và đơn khởi kiện được thông báo cho phía bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được biết (Điều 174 – BLDS) và từ đó họ sẽ có văn bản trả lời (Điều 175 – BLDS). Còn trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án dân sự khi các bên xuất trình chứng cứ mới hay những chứng cứ do tòa án thu thập được thì các bên đương sự chỉ có “quyền được biết” thông qua hoạt động sao chụp tài liệu, chứng cứ ở tòa án. Nhưng chính quyền được biết này lại mang tính chất chung chung khi không quy định một cách cụ thể ai là người phải thông báo cho đương sự khi có những chứng cứ mới được đưa ra. Khi có yêu cầu sao chụp phải có đơn yêu cầu và trong đơn “phải ghi cụ thể những tài liệu, chứng cứ mà mình cần ghi chép, sao chụp”[35]. Khi đương sự đã không biết những chứng cứ, tài liệu do bên kia cung cấp thì làm sao biết được mình cần sao chụp những gì? Đây là một quy định không thực tế. Đặt trong hoàn cảnh cụ thể tại Việt Nam khi mà trình độ hiểu biết còn thấp việc hiểu biết về luật TTDS còn hạn chế nên không thể nào biết cũng như thực hiện quyền này của mình. Cá biệt trong nhiều trường hợp chứng cứ được cung cấp tại cấp phúc thẩm, các bên đương sự còn lại không thể có thời gian thu thập những chứng cứ để phản bác lại lập luận dựa trên chứng cứ mới của bên kia gây bất lợi cho họ

Chính vì vậy, BLDS nên tiếp thu một số kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới như Pháp, Liên Bang Nga cũng như pháp luật tố tụng dân sự trong một số thời kỳ ở nước ta về việc quy định bắt buộc các bên đương sự khi cung cấp một chứng cứ mới cho tòa án để giải quyết yêu cầu của mình thì đồng thời với đó phải thông báo bằng văn bản hoặc có thể photo một bản cung cấp cho bên còn lại – Đây được gọi là nguyên tắc đối tịch[36]. Nguyên tắc này vẫn có thể dẫn đến tình trạng bên được thông báo cố tình phủ nhận việc thông báo đó gây khó khăn cho hoạt động tố tụng. Nên các văn bản hoặc tài liệu photo này sẽ được chuyển cho bên còn lại thông qua tòa án – một cơ quan nhà nước có hoạt động chặt chẽ sẽ đảm bảo được tính nhanh chóng và quyền lợi của các bên. Nếu bên cung cấp chứng cứ cố tình không cung cấp bản sao hoặc văn bản thông báo cho bên còn lại thì có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế. Thời gian thông báo do thẩm phán ấn định tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể vì có thể thời gian chuẩn bị xét xử còn lại ngắn nhưng cần giới hạn trong khoảng từ 1 – 5 ngày. Đối với những trường hợp đương sự cung cấp chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 271 BLTTDS cần có quy định bổ xung là các chứng cứ mới này trước đó đương sự “không biết” hoặc “không thể biết” để tránh trường hợp đương sự cố tình dấu diếm chứng cứ không cung cấp nhằm kéo dài quá trình tố tụng hoặc để gây bất lợi cho đương sự khác vì bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay. Khi không thể làm rõ về sự “không biết” hoặc “không thể biết” này thì không thể phủ nhận những chứng cứ này vì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người đưa ra chứng cứ, nên có thể quy định về chế tài phạt phải chịu án phí đối với những đương sự cố tình dấu diếm chứng cứ đến cấp phúc thẩm mới cung cấp.

Thứ hai, trên thực tế có thể thấy hoạt động chứng minh là chỉ cho thấy rõ là đúng, là có thật bằng lý lẽ hoặc bằng chứng cứ đây là công việc chủ yếu của đương sự. Tuy nhiên, việc có công nhận là đúng, là có thật hay không lại thuộc về tòa án. Hiện nay các tòa án vẫn thường có quan niệm rằng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về phía đương sự, còn nghĩa vụ chứng minh thuộc về tòa án. Đồng nhất nghĩa vụ cung cấp chứng cứ với nghĩa vụ chứng minh, các bên đương sự chỉ thực hiện một phần nhỏ quyền, nghĩa vụ nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa. Đây là một nhận định hoàn toàn sai lầm. Do đó, cần thiết phải để các đương sự tham gia vào đầy đủ các giai đoạn của hoạt động chứng minh từ thu thập, cung cấp đến nghiên cứu đánh giá chứng cứ mới có thể phát huy được vai trò quan trọng và trung tâm của họ.

Một trong các biện pháp có thể áp dụng để khắc phục được nhược điểm này là hình thành một phiên tòa trù bị. Phiên tòa trù bị sẽ do một thẩm phán được phân công xét xử vụ việc đó chủ trì. Phiên tòa bao gồm các bên đương sự, họ sẽ được xem xét toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ đồng thời đưa ra nhận định của mình thể hiện quyền nghiên cứu đánh giá chứng cứ. Phiên tòa trù bị sẽ không có bất cứ một phán quyết nào được đưa ra. Tuy nhiên, nó sẽ có vai trò vô cùng quan trọng tác động đến thẩm phán chủ tọa phiên tòa khi đó họ sẽ có một cái nhìn khách quan hơn toàn diện hơn về vụ việc có tranh chấp. Đồng thời với đó là các bên đương sự có thể nhận định một cách tỉ mỉ về vụ án, chuẩn bị tốt nhất cho phiên tòa chính thức diễn ra theo đúng quan điểm tranh tụng, phát huy dân chủ đối với các bên và tăng cường được sự tin tưởng của đông đảo nhân dân. Phương án này có thể dẫn đến một khó khăn khác là gây ra việc kéo dài tố tụng cũng như tốn kém thời gian. Tuy nhiên, chỉ với một thẩm phán tham gia chủ trì cũng như thời gian tiến hành ngắn (chỉ một ngày) so với hiệu quả thiết thực mà nó mang lại thì phương án này hoàn toàn có thể chấp nhận được.

Thứ ba, một trong những vướng mắc diễn ra khá phổ biến trong thời gian vừa qua khi áp dụng bộ luật TTDS liên quan đến việc tiếp cận chứng cứ của đương sự chính là ở chỗ các chứng cứ, tài liệu nằm trong sự kiểm soát của các cá nhân, cơ quan tổ chức khác mà họ lại không phối hợp giúp đỡ các đương sự cũng như tòa án trong việc cung cấp các loại chứng cứ này. Có thể thấy rằng thời gian tiến hành họat động tố tụng đối với một vụ án cụ thể thường rất ngắn (thông thường từ 2- 4 tháng) nếu như những cá nhân, cơ quan tổ chức này cố tình kéo dài, không cung cấp chứng cứ thì sẽ làm cho việc tự bảo vệ của đương sự khó khăn hơn rất nhiều. Cá biệt có trường hợp khi tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức này chỉ cung cấp một cách vụn vặt các chứng cứ hoặc ở mỗi giai đoạn lại cung cấp những chứng cứ khác nhau thậm chí đối lập nhau ảnh hưởng lớn đến tính ổn định của bản án.

Bộ luật TTDS hiện hành chỉ quy định một cách rất chung chung về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tại đoạn 2 khoản 2 Điều 94 “ Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của tòa án trong thời hạn mười năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu” mà không có quy định cụ thể để đảm bảo nghĩa vụ đó. Vì vậy, cần có một hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Theo đó, khi không thể cung cấp được chứng cứ thì phải thông báo cụ thể bằng văn bản đồng thời với đó là quy kết trực tiếp vấn đề trách nhiệm. Đối với tổ chức thì quy trách nhiệm cụ thể về người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó để họ có thể thực hiện nghĩa vụ này mà không hề có sự cản trở nào. Đối với cá nhân, nếu không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời thì có thể quy định vấn đề phạt tiền để răn đe tùy thuộc vào tính chất cũng như mức độ vi phạm.

3.2.2 Tạo điều kiện để đương sự có thể tự bảo vệ

Đương sự có vai trò quan trọng hàng đầu, họ phải tự bảo vệ lấy quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp xảy ra phù hợp với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, điều này khác hẳn so với trong tố tụng hình sự khi mà bị can bị cáo có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh. Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự là thuộc về phía tòa án đương sự hoàn toàn có thể “im lặng” mà quyền và lợi ích của họ trong một chừng mực nhất định vẫn được bảo đảm. Mặc dù vậy, có thể khẳng định ngay rằng khả năng tự bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự là rất thấp nguyên nhân chính xuất phát từ trình độ dân chí chưa cao, sự hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa khi mà người dân đã đi kiện cơ quan điện lực vì đã trồng cột điện “nhìn” vào bàn thờ nhà mình… thì hoàn toàn có thể nhận thấy rằng đây là những đối tượng cần được đặc biệt quan tâm. Năm 1997 Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức pháp lý hỗ trợ cho người nghèo và đối tượng chính sách. Tiếp đó, ngày 29/6/ 2006 Quốc Hội khóa IX kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật trợ giúp pháp lý, ngày 23 tháng 6 năm 2008 Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định số 792/QĐ- TTg về việc phê duyệt đề án “Quy hoạch mạng lưới trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và chi nhánh của trung tâm giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến năm 2015” đã đánh dấu bước chuyển biến quan trọng về vấn đề này. Tuy nhiên theo các văn bản trên đối tượng được hưởng sự hỗ trợ chỉ là đối tượng đói nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào các dân tộc thiểu số, người già, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa[37]… Hơn nữa các cơ quan được thành lập chỉ có ở cấp tỉnh (biên chế khoảng 16 người) và các chi nhánh thành lập ở các đơn vị hành chính cấp huyện (biên chế khoảng 3 người)[38]. Như vậy là chưa đủ trong điều kiện các tranh chấp ngày càng phức tạp và phát sinh ngày càng nhiều hơn với nhiều đối tượng khác nhau và không phải ai cũng đủ hiểu biết để có thể biết được các tổ chức này. Cần thiết phải tạo ra một cơ chế hỗ trợ tất cả các đương sự ngay từ ban đầu, thậm chí là trước khi khởi kiện mà phải gần gũi với nhân dân.

Giải pháp được đưa ra đối với các trường hợp này có thể là thành lập các tổ trợ giúp pháp lý thuộc cấp huyện, trong một số địa phương có số lượng tranh chấp dân sự nhiều có thể tiến tới thành lập tại các xã, phường, thị trấn, các doanh nghiệp… Những tổ trợ giúp này có thể nằm trong các hội như Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Công Đoàn… số lượng chỉ khoảng 1-2 người vì hoạt động mang tính thường xuyên và chỉ có vai trò tư vấn. Chức năng của các tổ tư vấn này bao gồm cả việc giúp đỡ đương sự khi có ý định khởi kiện, đề ra các đối tượng cần chứng minh trong mỗi vụ án cụ thể hay nói cách khác là “bày” cho đương sự biết cần phải làm gì để có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của mình. Khi đó, đương sự hoàn toàn có thể chủ động trong việc tìm kiếm và thu thập chứng cứ, giảm đáng kể gánh nặng cho ngành tòa án. Đây cũng là một biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu các tranh chấp phát sinh vì khi được tư vấn các bên sẽ đánh giá, nhìn nhận chính xác khả năng thắng kiện của mình và đưa ra quyết định thích hợp có hay không khởi kiện ra tòa án.

Ngoài ra, khi đương sự không có đủ khả năng về kiến thức pháp lý cũng như kinh nghiệm tố tụng trước tòa án thì họ có thể nhờ những người đáp ứng được yêu cầu này tham gia tố tụng, thay mặt mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Đây chính là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông thường, họ là những luật sự – những người được đào tạo một cách bài bản về công tác pháp lý, có kinh nghiệm tố tụng nhưng cũng có thể là những người khác khi đương sự có đủ sự tin tưởng vào khả năng của họ. Trong điều kiện hạn chế về nhận thức thì đây là giải pháp quan trọng để đương sự có thể tự bảo vệ mình. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp sẽ hướng dẫn để đương sự có thể biết được cần phải thu thập những tài liệu, chứng cứ gì để làm cơ sở cho yêu cầu hay phản yêu cầu của mình, tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Đồng thời nếu được tham gia sớm họ có thể tư vấn cho đương sự của mình biết được những điểm mạnh, những bất lợi. Hoạt động này tạo điều kiện tốt nhất để đương sự nhìn nhận một cách thấu đáo về khả năng thắng kiện của mình, giúp cho việc hòa giải có thể diễn ra thuận lợi, giảm đi tương đối các vụ tranh chấp phát sinh tại tòa án[39]. Hiện nay vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chưa được trú trọng quan tâm cũng như thiếu đi cơ chế để đảm bảo cho họ có thể tham gia một cách nhanh chóng, dễ dàng. Người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự chỉ tham gia khi đã có tranh chấp sảy ra, hồ sơ của vụ án đã tương đối hoàn thiện công việc của họ chỉ là đi tìm kiếm những căn cứ có lợi cho thân chủ của mình trong phạm vi hạn hẹp của bộ hồ sơ đã hình thành tại tòa án.

Chính vì vậy, một trong các biện pháp để tăng cường sự tự bảo vệ của đương sự là khuyến khích sự tham gia từ phía luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong điều kiện hiện tại, không thể đòi hỏi sự tham gia của luật sư mang tính chất bắt buộc như trong hoạt động tố tụng dân sự của Pháp[40], tuy nhiên có thể mở rộng các biện pháp cụ thể khuyến khích sự tham gia của họ như giảm bớt các thủ tục xác lập khi tham gia, phổ biến quyền được nhờ luật sư, người bảo vệ ngay khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện, yêu cầu các đoàn luật sư tỉnh, thành phố tham gia giải quyết một số vụ việc cụ thể của những đối tượng cụ thể như đối tượng chính sách, gia đình nghèo…

Một trong các biện pháp để đương sự có thể chủ động bảo vệ mình khi tham gia tố tụng dân sự đó là trao trả đương sự một số quyền thu thập chứng cứ. Chứng cứ là vấn đề mấu chốt trong các tranh chấp dân sự, không có chứng cứ thì cũng không có hoạt động chứng minh và đương sự không thể bảo vệ được mình. Chính vì vậy, công tác thu thập chứng cứ là khâu quan trọng nhất trong quá trình chứng minh, là tiền đề cho các hoạt động chứng minh còn lại như cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Hiện tại có nhiều biện pháp thu thập chứng cứ khác nhau như lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng, biên bản đối chất, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, kết luận giám định, kết quả định giá tài sản… hầu hết các chứng cứ trên muốn có được đều phải thông qua tòa án, đương sự thấy cần thiết thì yêu cầu tòa án tiến hành lấy chứng cứ. Đây là những quy định đã làm giảm đi khả năng chủ động của đương sự trong việc thu thập chứng cứ bởi phải thông qua hoạt động chủ quan của cán bộ tòa án, chỉ khi những cán bộ này “xét thấy” cần thiết thì mới cho tiến hành thu thập chứng cứ. Bên cạnh đó, những gì mà tòa án và các bên đương sự quan tâm khi tiến hành các biện pháp này chính là kết quả của quá trình đó như thế nào? có nghĩa là chứng cứ thu thập được là gì chứ họ không nhất thiết phải quan tâm đến cách thức tiến hành ra sao. Mặc dù nếu để các đương sự quá tự do thì sẽ dẫn đến việc thu thập chứng cứ không khách qua nhưng trong luật tố tụng dân sự đã dự liệu các trường hợp không đồng ý thì họ có thể tiến hành tố cáo chứng cứ giả mạo theo quy định tại Điều 91 BLTTDS đối với những chứng cứ vật chất hoặc Điều 98 BLTTDS đối với hành vi cung cấp sai sự thật của người làm chứng.

Như vậy, có thể trao trả đương sự một số quyền thu thập chứng cứ cơ bản mà không phải thông qua tòa án như trưng cầu giám định, lấy lời khai của người làm chứng. Biện pháp này có thể giảm bớt gánh nặng cho tòa án cũng như tạo cho đương sự khả năng chủ động cao trong việc tự bảo vệ mình, phát huy vai trò trung tâm trong hoạt động tố tụng dân sự.

3.2.3 Mở rộng tranh tụng tại phiên tòa – một yêu cầu cơ bản

Vai trò chứng minh của các đương sự được thể hiện một cách cụ thể và trọng tâm nhất trong phiên tòa. Khi đó, các bên sẽ đưa ra những chứng cứ, cơ sở pháp lý mà mình có để bảo vệ những luận điểm của mình, tính dân chủ, minh bạch cũng như tính chính xác trong phán quyết của tòa án cũng từ đây mà hình thành và được tôn trọng. Do đó, việc mở rộng phạm vi, hiệu quả của tranh tụng trong tố tụng dân sự là yêu cầu cấp thiết.

Tranh tụng, về mặt khái niệm được hiểu là “kiện tụng”, theo nghĩa Hán Việt được hiểu là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”. Xung quanh quan điểm về khái niệm tranh tụng còn có nhiều ý kiến khác nhau như “tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự”, “tranh tụng phát sinh hai mối tương quan: giữa các đương sự tranh nại với nhau và với đương sự với quốc gia, mà đại diện là tòa án có thẩm quyền” hay “sự tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử cho đến khi có một phán quyết của tòa án”[41]. Tuy nhiên, có thể thấy hai đặc điểm cơ bản nổi bật là tranh tụng trong tố tụng dân sự thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa và tranh tụng áp dụng với các bên đương sự với nhau, kết quả của nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng mang tính cưỡng chế của nhà nước. Tranh tụng thể hiện được vị trí quan trọng của đương sự trong hoạt động chứng minh, nó là quyền của các đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án thực sự chỉ đóng vai trò của một vị trọng tài trong việc đề ra các đối tượng cần chứng minh còn các đương sự tự do sử dụng chứng cứ, lập luận.

Việc mở rộng tranh tụng không những phù hợp với quan điểm “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là một khâu đột phá của hoạt động tư pháp”[42] của Đảng mà còn là một yêu cầu tất yếu trong xu thế hội nhập khi các nước phát triển trên thế giới đã áp dụng một cách triệt để nguyên tắc này. Còn tại Việt Nam quá trình tố tụng vẫn diễn ra theo lối xét hỏi, hội đồng xét xử chỉ tiến hành hỏi tại phiên tòa với những vấn đề còn chưa được rõ. Hiện tượng bản án đã được quyết định trước khi có phiên tòa, phiên tòa chỉ là một hình thức để “hợp thức hóa bản án” đã có từ trước vẫn còn phổ biến. Vai trò của đương sự không được để ý nhiều, thể hiện ở trình tự phiên tòa là xét hỏi trước rồi mới đến tranh luận, số lượng các điều luật quy định vấn đề xét hỏi nhiều hơn hẳn so với các quy định về vấn đề tranh luận (15/ 4), thủ tục hỏi bắt đầu từ phía hội đồng xét xử, khi các bên muốn hỏi phải được sự đồng ý của HĐXX. Cá biệt tại một số tòa án, HĐXX còn hạn chế thời gian tranh luận của các bên đương sự. Cần thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm này.

Giải pháp được đưa ra cho vấn đề này là cần phải quy định vấn đề tranh tụng thành một nguyên tắc là nguyên tắc tranh tụng. Như đã phân tích ở trên thì những nguyên tắc là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, khi đưa tranh tụng lên thành một nguyên tắc sẽ mang tính chất chỉ đạo cho toàn bộ quá trình tố tụng. Tòa án sẽ phải quan tâm hơn đến quyền của các bên đương sự cũng như tạo ra sự nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của đương sự. Ngoài ra, còn phải có các biện pháp cụ thể đảm bảo cho nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế như nghiêm cấm việc xây dựng phán quyết trước khi mở phiên tòa. Vì khi đã tiến hành phán quyết từ trước thì theo tâm lý chủ quan của HĐXX sẽ gây khó khăn cho phía đương sự bất lợi trong phán quyết đó cũng như tạo ra tâm lý ngại sửa đổi bản án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên. Thứ hai, quy định tiến hành thủ tục tranh luận trước khi xét hỏi bởi khi tranh luận các bên tự do đưa ra những ý kiến của mình và bảo vệ nó, tòa án sẽ định hướng quá trình tranh luận để làm rõ những căn cứ giải quyết tranh chấp về pháp luật nội dung. Khi các bên đã hoàn thành thủ tục tranh luận thì HĐXX sẽ hỏi những vấn đề còn chưa được rõ để làm căn cứ cho phán quyết của mình. Có như vậy mới đảm bảo được tính công bằng và dân chủ trong phiên tòa.

3.2.4 Giải quyết vấn đề tài chính

Trong hoạt động chứng minh, việc thu thập chứng cứ là một khâu quan trọng nhất để tạo ra những cơ sở vững chắc cho quan điểm của các bên. Có nhiều cách thức khác nhau để tiến hành việc thu thập chứng cứ, nhưng trên thực tế không phải lúc nào đương sự cũng có thể tự mình lấy được các chứng cứ. Chứng cứ nằm ở nhiều nguồn khác nhau, có thể từ lời khai của người làm chứng, có thể trong các kết luận mang tính khoa học như giám định… việc thu thập các chứng cứ này không chỉ đơn thuần là tốn công sức của đương sự mà còn tốn kém cả tiền bạc. Luật tố tụng dân sự đã quy định rất rõ ràng về các chi phí tố tụng trong đó có cả các chi phí cho hoạt động thu thập chứng cứ như chi phí giám định, chi phí định giá, chi phí cho người làm chứng… (mục 2 chương IX – BLTTDS 2004) theo đó bên nào có yêu cầu tiến hành phải nộp tiền tạm ứng chi phí sau đó khi có bản án mới xác định cụ thể đối tượng phải nộp. Tuy nhiên, khoản tiền nộp tạm ứng chi phí tố tụng như trên cũng không phải vấn đề nhỏ bởi thu nhập tại nhiều địa phương còn thấp mà các khoản chi phí tố tụng này thì không phải nhỏ, đôi khi ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các bên đương sự, hạn chế khả năng thu thập chứng cứ. Ví dụ như trường hợp người mẹ đi kiện xác định cha cho con. Mẹ đứa trẻ có nghĩa vụ chứng minh người đàn ông bị kiện là cha đứa trẻ. Việc xác định này là rất khó khăn khi thiếu bằng chứng và biện pháp cuối cùng được tìm đến là biện pháp giám định. Người yêu cầu giám định ở đây là mẹ của đứa trẻ nên sẽ phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định. Tuy nhiên, chi phí giám định thường khá lớn (giao động trong khoảng 20 triệu đồng), nhiều trường hợp sẽ không có đủ tiền để nộp tạm ứng nên sẽ rất dễ ảnh hưởng đến tính chính xác của bản án cũng như quyền lợi của cả người mẹ và đứa trẻ.

Không thể quy định miễn cũng như quy định dễ dãi đối với các chi phí tố tụng này bởi như vậy sẽ dẫn đến tình trạng yêu cầu một cách tràn lan, không cần thiết ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước trong điều kiện các tranh chấp dân sự đang ngày càng nhiếu. Nhưng cũng cần thiết phải quan tâm để đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng khó khăn nên quy định trong từng trường hợp cụ thể tòa án sẽ cho phép tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ cần chi phí có sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước. Những trường hợp này phải đảm bảo được hai điều kiện. Thứ nhất, đối tượng nộp tam ứng phải là những người thực sự khó khăn về kinh tế như gia đình nghèo, đối tượng chính sách… họ không thể có đủ tiền để nộp. Điều kiện thứ hai là trong vụ án đó không còn cách nào khác để nhận định chính xác đối với đối tượng tranh chấp (như ví dụ trên nếu như đã có đủ căn cứ để suy luận người đàn ông là cha của đứa trẻ thì sẽ không cần phải tiến hành trưng cầu giám định).

Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp đưa ra để hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc nâng cao hiệu quả và tính chủ động, tích cực của đương sự trong hoạt động chứng minh thể hiện qua các giai đoạn của quá trình thu thập, cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Các biện pháp này khi đi vào thực tế sẽ có hiệu quả tích cực nên cần thiết phải được áp dụng sớm.

Lời kết

Pháp luật tố tụng dân sự là một biện pháp bảo đảm thực tế cho các quyền và lợi ích về dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Xuất phát từ bản chất đặc biệt của quá trình tố tụng là sự độc lập, tự quyết của các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua hoạt động chứng minh – quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án. Nên vai trò của đương sự trong đó là quan trọng nhất và có tính chất quyết định đến hoạt động chứng minh của các chủ thể khác. Trong hoàn cảnh hiện nay, vai trò này ngày càng quan trọng hơn khi quá trình giao lưu quốc tế trên mọi lĩnh vực đang diễn ra hết sức sôi động đòi hỏi sự tương thích về văn hóa pháp lý cũng như thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, việc nhận thức một cách đầy đủ về vai trò chứng minh quan trọng nhất của đương sự trong tố tụng dân sự của Việt Nam giai đoạn hiện nay và tạo ra những cơ chế, biện pháp thiết thực, hữu hiệu để họ có thể phát huy được hết khả năng tích cực của mình là vô cùng cần thiết.

Đề tài trên đây tác giả đã đi vào nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện để chứng tỏ vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất trong quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án dân sự đặt trong hoàn cảnh hiện tại, chỉ rõ những bất cập, tồn tại và đưa ra những biện pháp hữu hiệu để khắc phục, hoàn thiện với mục đích giúp đương sự phát huy mạnh mẽ khả năng của mình và phần nào giảm gánh nặng cho ngành tòa án.

Tuy nhiên, Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc học hỏi, tìm hiểu nhưng trong phạm vi còn hạn hẹp về khả năng nghiên cứu của một sinh viên, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nên rất mong mỏi có được sự đóng góp thẳng thắn từ phía những người quan tâm đến vấn đề quan trọng này!


CHÚ THÍCH:

[1] Xem: Giáo trình Luật tố tụng dân sự – Trường đại học Luật Hà Nội, tr 107, 108. Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử. NXB Chính trị quốc gia – Tưởng Duy Lượng chủ biên, tr 10, 11

[2] Từ điển luật học – NXB Tư Pháp, tr. 785

[3] Đại từ điển tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin, Nguyễn Như ? ý chủ biên tr. 1606

[4] Theo Pothier thì “Tố tụng là hình thức phải theo để đệ đơn kiện, kháng biện, can thiệp, cứu xét, phán xử thượng khống và thi hành án văn” hay như G.S. Solus thì “Dân Sự Tố Tụng bao gồm những định lệ chi phối việc tổ chức và điều hành công lý, đặt ra để đảm bảo cho tư nhân các sự chế tài và tôn trọng quyền lợi trong tư luật” – xem Nguyễn Huy Đẩu – Luật dân sự tố tụng Việt Nam (1962), NXB Khai Trí xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư Pháp. tr5 – 6

[5] Đại biểu Lê Văn Tâm, Lê Xuân Thân, Lê Thị Nga, Nguyễn Đình Lộc… trong buổi làm việc tại hội trường của Quốc Hội khóa XI ngày 19/ 11/ 2003

[6] Xem các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của tòa án nhân dân tối cao các năm 2004, 2005, 2006 phần các quyết định về Dân Sự, Kinh doanh, Thương mại, Lao động – Đặc san của Tòa án Nhân Dân Tối Cao.

[7] Đại từ điển tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin, Nguyễn Như ý chủ biên

[8] Nguyễn Hữu Đắc – Từ điển Luật Học – NXB từ điển Bách Khoa, Hà Nội 1999

[9] Bryan A.Garner (2001) Blacks law dictonari. ST Pual MNN

[10] Giáo trình Luật tố tụng dân sự – trường đại học Luật Hà Nội, NXB Tư Pháp tr 104

[11] Xem: Nguyễn Mạnh Bách (1996) Luật tố tụng dân sự Việt Nam (lược giải), NXB Đồng Nai, tr 76, 77

[12] Từ điển tiếng Việt – NXB Đà Nẵng năm 2003. tr 192

[13] Đại từ điển tiếng Việt — NXB Văn Hóa Thông Tin (1998) Nguyễn Như ý chủ biên, tr 1217

[14] Ph. Anghen, chống Đuyrinh – NXB Sự Thật (1984), tr 56

[15] xem: Chương II Thỉnh cầu và kháng biện, Luật tố tụng dân sự Việt Nam (lược giải) – Tiến sĩ, Luật sư Nguyễn Mạnh Bách – NXB Đồng Nai 1996, tr 16 – 20.

[16] Trần Văn Liêm (1970) Dân Luật quyển 1, Dân luật nhập môn thế nhân. tr 191

[17] Nguyễn Huy Đẩu – Luật dân sự tố tụng Việt Nam ( 1962 ) NXB Khai Trí, tr. 22

[18] Giảng văn pháp chế sử (1961-1962) – giáo sư Vũ Quốc Thông, quyển 3 – Tổ chức tư pháp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

[19] Xem phụ lục một số bức ảnh về thủ tục tố tụng thời kỳ Pháp thuộc

[20] Xem chương Thủ tục phiên tòa sơ thẩm ở các pháp lệnh

[21] Xem chương Thủ tục phúc thẩm tại các pháp lệnh

[22] Phan Hữu Thư (2001) Xây dựng bộ luật Tố Tụng Dân Sự – những vấn đề lý luận và thực tiễn NXB Chính Trị Quốc Gia. tr 223

[23] Đại từ điển tiếng Việt — NXB Văn Hóa Thông Tin ( 1998 ) Nguyễn Như ý chủ biên tr 1788

[24] Xem mục 1.2 phần IV nghị quyết số 04/2005/NQ – HĐTP của HĐTPTANDTC ngày 19 tháng 9 năm 2005 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “chứng minh và chứng cứ”

[25] Xem Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 1/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.

[26] Trường đại học Luật Hà Nội (2001) công trình nghiên cứu khoa học cấp trường. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một số chế định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự. Tr.65

[27] C. Mac – Ph. Anghen (1983) tuyển tập. Tập 5 NXB Sự Thật – Hà Nội

[28] francais juridique – cours elementaire – Maison du droi Vietnamo – Francais p.3 (Giáo trình tiếng pháp pháp lý – Nhà pháp luật Việt Pháp (bản tiếng Pháp) tr.3)

[29] Giáo trình luật tố tụng dân sự – trường đại học Luật Hà Nội – NXB Tư Pháp tr11

[30] Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

[31] Mục 2 Nghị Quyết số 49 – NQ\TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

[32] Khoản 4 điều XVI Hiệp định MARRAKESH thành lập WTO.

[33] Đinh Ngọc Hiện – Tư pháp dân sự và thủ tục tố tụng dân sự – Hội thảo những vấn đề lý luận và thực tiễn của tố tụng dân sự Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi

[34] Báo cáo số 01/ BC – TA của Tòa án nhân dân tối cao ngày 5 tháng 1 năm 2007

[35] Tiết 2.1 mục 2 phần III nghị quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31 tháng 5 năm 2005 của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án Nhân Dân Tối Cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004

[36] Xem điều 132,149 BLTTDS CHLB Nga, Điều 11, 132,133 BLTTDS Pháp, Điều 70 Bộ Dân Sự Tố Tụng Pháp 1807 (được áp dụng ở Việt Nam trong một thời kỳ Pháp thuộc), Điều 259 Nghị Định 16-3-1910, Điều 374 Bộ Hộ Sự, Thương Sự Tố Tụng Trung Việt.

[37] Xem điều 10 Luật trợ gúp pháp lý, hướng dẫn chi tiết tại điều 2 Nghị Định số 07/2007/ NĐ – CP ngày 12 tháng 1 năm 2007 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật trợ giúp pháp lý.

[38] Xem Thông tư liên tịch của Bộ Tư Pháp và Bộ Nội Vụ số 08/2008/ TTLT – BTP – BNV ngày 7 tháng 11 năm 2008 Về việc hướng dẫn tổ chức và biên chế của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.

[39] Kinh nghiệm của một số nước cho thấy nhờ có sự tham gia tích cực từ phía luật sư mà số lượng án mà tòa thụ lý phải đưa ra xét xử thấp nhờ công tác hòa giải như Canada (< 5% ), Thụy Điển, Đan Mạch (< 20%), Nhật Bản… hình thành một quan điểm phổ biến: “Tòa án nhỏ – Hòa giải lớn”. Nhưng tại Việt Nam, số lượng án thụ lý phải đưa ra xét xử rất lớn cụ thể như ở TP. Hồ Chí Minh hàng năm thụ lý từ 26.000 – 28.000 vụ và tỉ lệ xét xử là khoảng 65%.

[40] Điều 751 BLTTDS Cộng Hòa Pháp : “Các bên đương sự phải cử luật sư, trừ trường hợp có quy định khác. Việc cử luật sư cũng có nghĩa là đã trọn nơi cư trú. Việc không nêu rõ việc cử luật sư của mình đối với bên kia cũng coi như vô hiệu.”

[41] Xem Tranh tụng trong tố tụng dân sự – một số vấn đề lý luận cơ bản. Ths. Nguyễn Thị Thu Hà – Khoa luật dân sự, trường đại học Luật Hà Nội, Trang thông tin pháp luật dân sự.

[42] Mục 2.2 nghị quyết số 49 – NQ/ TW của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

phụ lục

một số bức ảnh về thủ tục tố tụng thời kỳ pháp thuộc – thời kỳ quyền con người, quyền công dân, quyền đương sự không được quan tâm

clip_image002[4]
clip_image002[6]
clip_image002[10]
clip_image002[8]

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2004.

2. Bộ Luật Dân Sự 2005.

3. Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự của nước Cộng Hòa Pháp. NXB Chính Trị Quốc Gia (1998).

4. Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự của Liên Bang Nga. NXB Tư Pháp (2005)

5. Báo cáo số 01/ BC – TA của Tòa án Nhân Dân Tối Cao ngày 5 tháng 1 năm 2007.

6. Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Hằng Luận án tiến sĩ Luật Học năm 2007.

7. Các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án Nhân Dân Tối Cao các năm 2004, 2005, 2006 phần các quyết định về Dân Sự, Kinh doanh, Thương mại, Lao động – Đặc san của Tòa án Nhân Dân Tối Cao.

8. C. Mac – Ph. Anghen (1983) tuyển tập. Tập 5 NXB Sự Thật – Hà Nội.

9. Đại từ điển tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin, Nguyễn Như ? ý (chủ biên).

10. Đinh Ngọc Hiện – Tư pháp dân sự và thủ tục tố tụng dân sự. Hội thảo những vấn đề lý luận và thực tiễn của tố tụng dân sự Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi.

11. Giáo trình Luật tố tụng dân sự – Trường đại học Luật Hà Nội. NXB Tư Pháp 2005.

12. Giảng văn pháp chế sử (1961-1962) – Giáo sư Vũ Quốc Thông quyển 3 – Tổ chức tư pháp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

13. Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992. NXB Chính Trị Quốc Gia (2007).

14. Hiệp định MARRAKESH thành lập WTO.

15. Luật Trợ Gúp Pháp Lý 2006.

16. Luật lệ về tố tụng dân sự. Tòa án Tối Cao (1976).

17. Luật tố tụng dân sự Việt Nam (lược giải) – Tiến sĩ, Luật Sư Nguyễn Mạnh Bách – NXB Đồng Nai 1996.

18. Nghị quyết số 04/2005/NQ – HĐTP của HĐTPTANDTC ngày 19 tháng 9 năm 2005 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “chứng minh và chứng cứ”.

19. Nguyễn Huy Đẩu – Luật dân sự tố tụng Việt Nam (1962), NXB Khai Trí xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư Pháp.

20. Nguyễn Hữu Đắc- Từ điển Luật Học, NXB từ điển Bách Khoa, Hà Nội 1999

21. Nghị quyết số 49 – NQ\TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Ban chấp hành trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

22. Nghị định số 07/2007/ NĐ – CP ngày 12 tháng 1 năm 2007 của Chính Phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật trợ giúp pháp lý.

23. Nghị quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31 tháng 5 năm 2005 của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án Nhân Dân Tối Cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004.

24. Từ điển luật học – NXB Tư Pháp.

25. Từ điển tiếng Việt – NXB Đà Nẵng năm 2003.

26. Trần Văn Liêm (1970) Dân Luật quyển 1, Dân luật nhập môn thế nhân

27. Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 1/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.

28. Trường đại học Luật Hà Nội (2001), công trình nghiên cứu khoa học cấp trường – Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một số chế định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự.

29. Thông tư liên tịch của Bộ Tư Pháp và Bộ Nội Vụ số 08/2008/ TTLT – BTP – BNV ngày 7 tháng 11 năm 2008 Về việc hướng dẫn tổ chức và biên chế của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.

30. Trang thông tin pháp luật dân sự.

31. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996.

33. Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế 1994.

33. Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989.

34. Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử. NXB Chính trị quốc gia, Tưởng Duy Lượng (chủ biên).

35. Ph. Anghen, Chống Đuyrinh – NXB Sự Thật (1984).

36. Phan Hữu Thư (2001) Xây dựng bộ luật Tố Tụng Dân Sự – Những vấn đề lý luận và thực tiễn NXB Chính Trị Quốc Gia.

37. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII.

38. Bryan A.Garner (2001) Blacks law dictonari. ST Pual MNN.

39. Francais juridique – cours elementaire – Maison du droi Vietnamo – Francais (Giáo trình tiếng Pháp pháp lý (bản tiếng Pháp) – Nhà pháp luật Việt Pháp).

VIỆC SỬ DỤNG LẠI BÀI VIẾT NÀY PHẢI ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ

Advertisements

2 Responses

  1. Comment like cho Bác Quyết cái

  2. ai đây nhỉ? đa tạ đa tạ! lâu rồi mới quay lại xem thời hoàng kim 🙂

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: