LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009

 

Người thực hiện: Dương Thu Phương 

Giới tính: Nữ   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS32C

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Nguyễn Minh Oanh

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

     

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate). Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là lãi suất có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định pháp luật này còn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế. Sự quy định của pháp luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quy định này được áp dụng trong cuộc sống. Và khi có rất nhiều tranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tế hiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảm bảo lợi ích cho các chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp luật vững chắc.

Với tình hình diễn biến kinh tế ngày càng phức tạp đòi hỏi các nhà chuyên môn phải có những biện pháp để cải thiện tình hình, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008 vừa qua. Nhiều nước chịu ảnh hưởng nặng nề và rất khó khăn khi khôi phục lại, trong đó có Việt Nam. Việc áp dụng mức lãi suất của từng nước như nào sẽ giúp điều phối được một phần nền kinh tế của nước đó.

Ngày nay, tỉ lệ lạm phát có nguy cơ tăng cao và biến đổi nhanh chóng khiến các nhà chuyên môn rất khó khăn để có thể dự đoán được biến đổi của lạm phát như thế nào. Hơn nữa trong thời gian này lạm phát tăng cao cộng với những khó khăn trong quá trình khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng càng làm tăng tính quan trọng của lãi suất đối với nền kinh tế. Vì vậy, việc quy định mức lãi suất hợp lí và thay đổi đúng lúc sẽ giúp giảm tỉ lệ lạm phát đồng thời giúp khắc phục những khó khăn mà khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu mang lại.

Vay tiền là một hình thức rất phổ biến, trong hợp đồng vay thường có một điều khoản gọi là lãi suất. Với những tác động tích cực của nó, lãi suất là một yếu tố quan trọng và đôi khi không thể thiếu trong đời sống. Việc sử dụng lãi suất trong hợp đồng vay tiền cũng vậy. Lãi suất không chỉ đem lại lợi nhuận và thoả mãn nhu cầu về vật chất của người cho vay, lãi suất còn đem lại sự đầu tư hay sử dụng có mục đích của người đi vay.

Trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng gia tăng đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến lãi và lãi suất. Tuy nhiên những quy định của pháp luật về vấn đề này còn rất chung chung và chưa rõ ràng. Điều đó càng làm tăng thêm các tranh chấp và đã bị một số đối tượng lợi dụng những quy định còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay nặng lãi, để tổ chức đánh bạc… làm biến thái đi mục đích thiết thực của lãi suất. Vì vậy có rất nhiều điều cần phải nói và bàn bạc thêm về lãi suất nhưng với sự phong phú và đa dạng của nó nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản, khái quát nhất.

Có thể nói lãi suất là một vấn đề còn rất mới mẻ và sự biến đổi không ngừng, thất thường của chính nó đặc biệt trong thời gian gần đây đã thôi thúc rất nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn và những ai yêu thích tìm hiểu về tiền tệ nghiên cứu với mục đích mong muốn kìm hãm những rủi ro do lãi suất mang lại. Cụ thể, đặt ra những mục tiêu trước mắt, giải thích được do đâu lãi suất lại có sự tăng giảm nhanh chóng như vậy, tại sao lãi suất chịu sự chi phối của nền kinh tế và ngược lại lãi suất có ảnh hưởng gì đối với lạm phát và giảm phát thì sẽ tìm ra biện pháp khắc phục. Tuy nhiên với kiến thức còn nhiều hạn chế và sự eo hẹp về tài liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi xin chân thành đón nhận ở thầy cô và các bạn những ý kiến đóng góp bổ ích để đề tài được hoàn thiện hơn.

Trong đề tài gồm những chương sau:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tiền

Chương 2: Lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền và thực trạng áp dụng

Chương 4: Tác động của lãi suất trong hợp đồng vay tiền tới nền kinh tế hiện nay

Chương 5: Nhận xét và kiến nghị.

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TIỀN

1.1. Khái niệm hợp đồng vay tiền

Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Khái niệm cho vay, theo nghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khác được quyền sử dụng số tài sản của mình (bao giờ cũng là tài sản cùng loại) trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở tin tưởng hay tín nhiệm của mình đối với người đó. Hợp đồng vay tiền là một hợp đồng vay có đối tượng là một tài sản đặc biệt – tiền. Cho vay nói chung và cho vay tiền nói riêng bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau:

· Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có ít nhất hai bên chủ thể tham gia, bao gồm bên vay và bên cho vay. Bên cho vay là người có khoản tiền chưa dùng đến, muốn cho người khác sử dụng để thoả mãn lợi ích của mình, có thể là lợi ích vất chất hoặc tinh thần. Còn bên vay chính là người đang cần sử dụng số tiền đó để thoả mãn nhu cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng.

· Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay chính là hợp đồng cho vay tiền. Hợp đồng này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc căn bản của hợp đồng như nguyên tắc về tự do và thống nhất ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…

· Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền nhất định. Hành vi ứng trước tài sản do người cho vay thực hiện, còn hành vi hoàn trả lại được người vay thực hiện sau đó một khoảng thời gian theo sự thoả thuận giữa các bên.

Có thể thấy rằng, phổ biến là hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng nhưng không phải vì thế các hình thức cho vay khác không hoạt động. Có thể là cho vay giữa hai chủ thể, hai tổ chức với nhau… hoặc dưới hình thức họ, hụi, biêu, phường. Việc cho vay chính là giao dịch dân sự được thể hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng vay tiền. Vậy hợp đồng vay tiền là gì?

Hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống, là hình thức pháp lý của các mối quan hệ của các chủ thể trong xã hội.

Điều 388 – Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

BLDS của Pháp giải thích Hợp đồng là một sự nhất trí, theo đó, một người hoặc một số người giao cho một hoặc một số người khác nghĩa vụ phải làm hoặc không phải làm một việc gì đó.

Về cơ bản, các quy định đều đề cập tới các khía cạnh quan trọng của hợp đồng như sau:

+ Hợp đồng là sự thoả thuận ý chí của ít nhất hai bên. Sự thoả thuận này được thể hiện thông qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị.

+ Sự thoả thuận của các bên phải đạt được đến sự thống nhất tức là chỉ khi nào ý chí qua lại đồng thời là ý chí thống nhất thì hợp đồng mới hình thành. Nếu giao dịch thể hiện ý chí một bên sẽ không có hợp đồng.

+ Mục đích của hợp đồng phải nhằm đạt được hậu quả pháp lý đã định trước. Hậu quả pháp lý của hợp đồng có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.

Là một loại hợp đồng dân sự, hợp đồng vay tài sản được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định([1]).

Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về Hợp đồng (Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 – BLDS 2005) tác giả xin định nghĩa về hợp đồng vay tiền như sau: hợp đồng vay tiền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật quy định.

Hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng có sự thoả thuận về lãi suất hoặc lãi suất do pháp luật quy định. Khi tranh chấp xẩy ra đòi hỏi thẩm phán phải quan tâm để giải quyết cả về việc trả tiền nợ gốc, nợ lãi, bao gồm cả lãi suất và thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi hết hạn vay, với hợp đồng vay không có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi đòi nợ.

1.2. Đặc điểm của hợp đồng vay tiền

Qua những phân tích ở trên, hợp đồng vay tiền có những đặc điểm pháp lý sau:

· Thứ nhất, hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với số tiền vay, khi bên vay nhận tiền. Bên vay có toàn quyền đối với tiền vay trừ trường hợp vay tiền có điều kiện sử dụng. Ví dụ: A thoả thuận với B không được sử dụng khoản tiền mà A cho B vay để chi tiêu vào việc kinh doanh, chỉ được mua sắm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày…

· Thứ hai, hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song vụ. Nghĩa là các bên chủ thể trong hợp đồng (bên cho vay và bên vay) đều có nghĩa vụ đối với nhau (theo khoản 1 điều 406 – BLDS 2005), hay nói cách khác mỗi bên chủ thể trong hợp đồng vay tiền có lãi suất là người vừa có quyền vừa có nghĩa vụ dân sự. Trong nội dung của hợp đồng, quyền dân sự của bên này đối lập tương ứng với nghĩa vụ bên kia và ngược lại. Tức là bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, bên vay có nghĩa vụ nhận tiền và phải trả cả gốc và lãi đúng thời hạn theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Khi các bên vi phạm nghĩa vụ nêu trên thì sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự.

· Thứ ba, hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, vấn đề mà chúng ta đề cập tới là lãi suất trong hợp đồng vay tiền nên hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù. Các bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Chúng ta biết rằng bản chất của các giao dịch dân sự mang tính đền bù tương đương và đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là sự trao đổi ngang giá. Khi cho vay một khoản tiền nhất định thì trong một thời hạn có thể do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định phải có một khoản tiền phát sinh để đền bù cho sự đầu tư cho vay tiền của bên cho vay nhằm thoả mãn nhu cầu của bên cho vay.

1.3. Đối tượng và kỳ hạn của hợp đồng vay tiền

1.3.1. Đối tượng

Đối tượng của hợp đồng vay tiền là một khoản tiền nhất định. Sự tiến triển không ngừng các hoạt động kinh tế dưới các hình thức khác nhau của sản xuất và trao đổi sản phẩm là sự phát triển của hệ thống tiền tệ. Dù tiền tệ được thể hiện dưới dạng vỏ sò, hạt tiêu, miếng vàng hay tiền giấy chúng đều thể hiện ba chức năng cơ bản sau:

– Phương tiện trao đổi

Trong hầu hết các giao dịch, tiền đóng vai trò phương tiện trao đổi – thực chất là thực hiện giá trị của hàng hoá, có nghĩa là nó được sử dụng mua bán, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ. Chức năng trao đổi của tiền tệ khắc phục được những hạn chế của quá trình trao đổi trực tiếp, nhờ đó mà tiết kiệm các chi phí giao dịch liên quan đến việc tìm kiếm, chờ đợi tác nhân có khả năng thoã mãn nhu cầu trao đổi.

– Đơn vị tính toán giá trị

Các hàng hoá khi trao đổi với nhau cần có sự so sánh để hình thành tỉ lệ trao đổi. Chức năng này của tiền tệ biểu hiện giá trị hàng hoá thành tiền, nhờ đó mà các hàng hoá có thể so sánh với nhau về mặt lượng. Điều này có tầm quan trọng rất lớn do tiết kiệm được các chi phí giao dịch bởi số lần hình thành giá trung gian trong trao đổi trực tiếp.

– Phương tiện tích luỹ giá trị

Chức năng này của tiền tệ giúp để tích luỹ sức mua trong thời gian nhận thu nhập cho đến khi sử dụng chúng bởi thu nhập của con người thường không được sử dụng ngay một lúc.

Tiền là đối tượng của hợp đồng vay có thể là Việt Nam đồng (VND) hay ngoại tệ tuỳ theo sự thoả thuận của các bên hoặc pháp luật quy định. Đối tượng của hợp đồng vay tiền được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu. Bên vay có quyền định đoạt số tiền vay. Khi hết hạn của hợp đồng vay tiền, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia số tiền đã vay. Có hợp đồng vay tiền không thoả thuận thời hạn thì bên vay phải trả số tiền vay bất kỳ lúc nào khi có yêu cầu của bên cho vay.

1.3.2. Kỳ hạn

Hợp đồng vay tiền có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định hoặc không xác định). Nếu hợp đồng vay tiền không thoả thuận về kỳ hạn thì hợp đồng vay tiền được coi là không có kỳ hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên để tạo điều kiện cho bên vay chuẩn bị tiền, bên cho vay phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lí để thực hiện hợp đồng. Hết thời gian đó, bên vay buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 447 – BLDS 2005). Nếu hợp đồng không có kỳ hạn thì bên vay có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, bên cho vay không được từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng vay tiền có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu khởi kiện yêu vầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng.

Trường hợp hết hạn hợp đồng mà bên vay không trả nợ được thì phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng ta đang đề cập tới hợp đồng vay có lãi suất nên bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận (Khoản 4 Điều 474 – BLDS 2005).

1.4. Hình thức của hợp đồng vay tiền

Hình thức của hợp đồng vay tiền có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản. Hình thức miệng thường được áp dụng trong những trường hợp như số lượng tiền cho vay không lớn hoặc giữa các bên có mối quan hệ thân quen. Trường hợp cho vay bằng miệng nếu xảy ra tranh chấp hợp đồng, bên cho vay phải chứng minh được là mình đã cho vay một số tiền nhất định. Trong thực tế nếu hình thức của hợp đồng bằng miệng có tranh chấp thì rất khó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Để làm cơ sở pháp lí cho việc giải quyết hợp đồng vay tiền, các bên cần phải ký kết hợp đồng bằng văn bản. Các bên có thể tự lập văn bản hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận văn bản đó.

1.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên

1.5.1. Bên cho vay

Nếu hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả lại tiền và lãi bất cứ thời gian nào nhưng phải thông báo cho bên vay một thời hạn hợp lí. Hết thời hạn đó là hết hạn của hợp đồng và bên vay không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả tiền.

Đối với hợp đồng vay tiền có kì hạn, khi hết hạn của hợp đồng, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải trả cho mình một số tiền tương ứng với số tiền đã vay cộng với một khoản lãi tính theo lãi suất thời hạn và theo thoả thuận. Nếu hợp đồng cho vay tiền có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay không thực hiện đúng thời hạn thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm đó hoặc bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ.

Bên cho vay có nghĩa vụ giao tiền đúng số lượng như thoả thuận cho bên vay. Nếu bên cho vay có ý lừa dối bên vay mà gây thiệt hại cho bên vay thì phải bồi thường.

1.5.2. Bên vay

Là người cần đến sự giúp đỡ vật chất của bên cho vay do vậy khi hết thời hạn của hợp đồng phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã ký kết. Phải trả đủ tiền gốc và tiền lãi theo thoả thuận hoặc theo pháp luật quy định. Nếu hợp đồng cho vay không kỳ hạn, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ thì bên vay phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thoả thuận. Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào. Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay tiền không kỳ hạn. Trường hợp các bên có thoả thuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tiền của bên vay có đúng mục đích như thoả thuận hay không. Nếu sử dụng tiền không đúng mục đích như đã thoả thuận, bên cho vay có quyền huỷ hợp đồng (Khoản 2 Điều 478 – BLDS 2005).

1.6. Họ, hụi, biêu, phường

Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) là một loại giao dịch dân sự về tài sản. Giao dịch này được nhân dân ta sử dụng từ lâu và nó đã trở thành tập quán. Dưới hình thức góp vốn, lĩnh vốn theo phường, hội trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người về thời gian, số tiền, thể thức góp vốn, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.

Nguyên tắc chung của chơi họ là nhiều người (nhà con) cùng tham gia một dây họ bầu ra nhà cái (người thu tiền của các nhà con và chuyển cho người bốc (bát) họ). Hàng tháng, mỗi nhà con phải góp một số tiền nhất định cho nhà cái. Lần lượt theo thứ tự bốc thăm hoặc theo thoả thuận đến kỳ hạn bốc họ, một nhà con sẽ nhận về số tiền từ nhà cái, số tiền này do các nhà con khác góp họ. Theo thứ tự bốc họ, khi người cuối cùng bốc họ thì dây họ chấm dứt.

Bản chất truyền thống của góp họ là những người chơi họ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Dưới hình thức góp họ, thành viên góp họ có được số vốn tập trung để có điều kiện kinh doanh hoặc sử dụng vào những công việc cần chi tiêu lớn. Những hình thức chơi họ có tính chất lành mạnh được Nhà nước khuyến khích. Ngược lại Nhà nước cấm hình thức “chơi họ” để nhằm mục đích cho vay nặng lãi giữa nhà cái với các nhà con, các hình thức chơi họ nhằm lừa đảo hoặc các hình thức biến tướng của chơi họ là đánh bạc… Những trường hợp này, tuỳ theo mức độ vi phạm nặng nhẹ mà bị xử lí hành chính, chịu trách nhiệm dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngày 27/11/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2006/NĐ-CP quy định về hình thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ. Theo nội dung Nghị định, Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức họ để cho vay nặng lãi, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc các hành vi trái pháp luật khác để chiếm đoạt tài sản của người khác. Nghị định nêu rõ, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ là nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân. Có hai hình thức họ là họ không lãi và họ có lãi, trong đó họ có lãi gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng. Chủ họ phải trả lãi đối với các phần họ giao chậm theo mức lãi do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian giao chậm tại thời điểm giao các phần họ. Trong trường hợp họ có lãi thì lãi suất đối với phần họ được thực hiện theo quy định tại Điều 476 của BLDS 2005.

Trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

 

Chương 2

LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN

2.1. Định nghĩa lãi suất (interest rate)

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất (interest rate). Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nó không đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước th× Lãi ®­îc hiÓu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([2]).

Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([3]).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Từ những cơ sở trên, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về lãi suất như sau: lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian. Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định. Căn cứ vào lãi suất số tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định. Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồng vay tiền sẽ không có lãi suất. Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thì không được vượt quá “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương ứng”([4]). Như vậy, nếu các bên thoả thuận về lãi suất gấp hai, ba hoặc nhiều lần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước công bố thì khi tranh chấp xảy ra, mức lãi suất tối đa mà Toà án chấp nhận không vượt quá “150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

2.2. Đặc điểm của lãi suất

Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của cả bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:

· Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản: Qua nghiên cứu có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện trong các hợp đồng đầu tư, cho thuê tài chính hoặc các hợp đồng khác và là cơ sở để tĩnh lãi. Tuy nhiên, lãi suất chủ yếu vẫn được tồn tại trong các hợp đồng vay bởi lẽ trong hợp đồng vay bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời hạn nhất định do đó phải có một tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng với thời hạn vay. Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khác như thuê tài chính, đầu tư thì cơ sở để tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tố khác như chi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong hợp đồng vay thì cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.

· Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của lãi suất là một tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền vay gốc trong một thời hạn nhất định. Do đó, sẽ không thể có tỉ lệ đó nếu như không tồn tại số tiền gốc mà các bên thoả thuận được trong hợp đồng vay tài sản.

· Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay. Do đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp.

2.3. Phân loại lãi suất

Có nhiều tiêu chí để phân loại lãi suất, có thể là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc lãi suất do pháp luật quy định; có thể là lãi suất đúng hạn hay lãi suất quá hạn… Dựa vào mỗi tiêu chí khác nhau sẽ có những cách phân loại lãi suất khác nhau.

2.3.1. Phân loại theo loại hình tín dụng([5])

Trong lãi suất tín dụng thường có lãi suất tín dụng thương mại (TDTM), lãi suất tín dụng ngân hàng, lãi suất tín dụng Nhà nước và lãi suất tín dụng tiêu dùng.

Lãi suất tín dụng thương mại được áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay với hình thức mua bán chịu hàng hoá. Tuỳ theo thời điểm mua bán chịu, cung – cầu về mua bán chịu và mức độ tín nhiệm giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệ mua bán chịu mà lãi suất tín dụng thương mại có các mức khác nhau. Song các mức lãi suất tín dụng thương mại đều có điểm chung là chúng không được ghi cụ thể bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chứng từ vay nợ (trên thương phiếu) mà được bao hàm trong tổng giá cả hàng hoá bán chịu có nghĩa là doanh nghiệp mua chịu phải trả giá hàng hoá cao hơn mức mua trả tiền ngay. Chênh lệch giữa hai loại tổng giá cả hàng hoá này là tiền lãi mà doanh nghiệp mua chịu trả cho doanh nghiệp bán chịu, do vậy để tính lãi suất tín dụng thương mại, người ta sử dụng công thức sau:

                     
                          Tổng giá cả hàng hóa bán chịu – Tổng giá cả hàng hóa bán trả tiền ngay x 100%

Lãi suất TDTM = ————————————————————————————–

Tổng giá cả hàng hóa bán trả tiền ngay

Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng, và trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trong thị trường liên ngân hàng. Việc phân biệt khái niệm lãi suất trong các quan hệ này là cần thiết để hiểu rõ mối quan hệ giữa chúng:

+ Lãi suất tiền gửi được áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho người gửi tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, vào quy mô tiền gửi. Sự biến động lãi suất tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn của các ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khối tiền giao dịch và qua đó tới lạm phát. Chính vì vậy việc áp dụng chính sách tăng mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế đẩy lùi lạm phát.

+ Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả ngân hàng. Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiền vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân, và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau cũng như mức rủi ro khác nhau. Sự thay đổi lãi suất tiền vay có tác động tới quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiền của hệ thống ngân hàng trung gian. Vì cơ chế này mà Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặt cung ứng tiền bằng cách ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay của các ngân hàng áp dụng đối với nền kinh tế.

+ Lãi suất chiết khấu áp dụng khi ngân hàng trung gian cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và thoả mãn các điều kiện chiết khấu theo quy định. Nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Mức chiết khấu được quyết định bởi cung – cầu vốn trên thị trường tín dụng, căn cứ vào chất lượng của giấy tờ có giá, thời hạn chiết khấu cũng như quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng.

+ Lãi suất tái chiết khấu (lãi suất tái cấp vốn) áp dụng khi ngân hàng trung ương tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu do Ngân hàng Trung ương ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ. Ngân hàng Trung ương các nước thường hình thành một cặp lãi suất tái cấp vốn tạo nên một khung lãi suất chỉ đạo nhằm kiểm soát và điều tiết sự biến động lãi suất trên thị trường đặc biệt là mức lãi suất ngắn hạn.

+ Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng thường được ấn định hàng ngày vào một buổi sáng (còn gọi là lãi suất hàng ngày). Nó được hình thành bởi quan hệ cung – cầu tiền trung ương của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối bởi lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay Ngân hàng Trung ương của các tổ chức tín dụng. Giữa lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung gian có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Với một thị trường tài chính phát triển, sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu tạo nên những phản ứng dây truyền giữa các mức lãi suất. Kết quả cuối cùng sẽ thay đổi mặt bằng lãi suất phù hợp mục tiêu của Ngân hàng Trung ương.

+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất mà các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.

Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tuỳ từng nước, nó có thể do Ngân hàng trung ương ấn định (Nhật là mức lãi suất cho vay thấp nhất) hoặc có thể do bản thân các ngân hàng tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình (Mỹ, Anh, úc) và đó là mức lãi suất được áp dụng cho các ngân hàng có mức rủi ro thấp nhất; hoặc căn cứ vào mức lãi suất cơ bản của một số ngân hàng đứng đầu, của các ngân hàng khác… cộng, trừ (±) biên độ dao động theo một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định để hình thành lãi suất cơ bản của mình (Malaysia). Một số nước lại sử dụng lãi suất liên ngân hàng làm lãi suất cơ bản (Singapore, Pháp) vì thực chất lãi suất cơ bản của các ngân hàng rất gần với mức lãi suất thị trường liên ngân hàng nếu không như vậy hoạt động Arbitrage (buôn chứng khoán) về lãi suất sẽ diễn ra. Mặc dù khác nhau, lãi suất cơ bản của hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và đó là mức lãi suất tối thiểu bù đắp được chi phí và có một mức lợi nhuận bình quân cho phép. Khi áp dụng đối với các đối tượng có mức rủi ro khác nhau, mức lãi suất kinh doanh sẽ khác nhau vì sự biến động của mức bù rủi ro.

ở Việt Nam, Luật Ngân hàng Nhà nước 1997“ quy định

Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh([6]).

Hiện nay lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay thương mại tốt nhất của một nhóm ngân hàng (chiếm phần lớn thị phần tín dụng) do thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.

Lãi suất tín dụng Nhà nước áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu. Loại lãi suất này có thể do Nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng, vào các yếu tố khác như: sự biến động của lạm phát, nhu cầu cấp thiết về vốn của Nhà nước… hoặc được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu của Nhà nước. ở Việt Nam hiện nay, Ngân hàng Nhà nước được giao nhiệm vụ tổ chức đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước.

2.3.2. Phân loại theo giá trị thực của lãi suất (hay theo mối quan hệ giữa lạm phát và giảm phát)([2])

Theo giá trị thực, lãi suất được phân chia thành lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế.

– Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.

Ví dụ: trong hợp đồng vay tiền quy định lãi suất mà bên vay phải trả cho bên cho vay là 14%/năm. Đây chính là lãi suất danh nghĩa vì đã chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát.

– Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.

Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát

Ví dụ: Lãi suất danh nghĩa là 18%/năm; tỷ lệ lạm phát là 8%/năm

Ta sẽ có lãi suất thực tế bằng: 18% – 8% = 10%/năm

Như vậy lãi suất thực tế là 10%/năm.

Từ công thức trên ta có thể gọi:

+ i là lãi suất danh nghĩa;

+ ir là lãi suất thực tế;

+ p là tỷ lệ lạm phát.

è Có thể viết mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực tế và tỷ lệ lạm phát như sau:

ir = i – p

Biến đổi phương trình, chúng ta có thể thấy lãi suất danh nghĩa là tổng của lãi suất thực tế và tỷ lệ lạm phát:

i = ir + p

Phương trình trên gọi là phương trình Fisher([7]).

Theo phương trình, tỷ lệ lạm phát tăng 1% sẽ tiếp tục làm lãi suất danh nghĩa tăng 1%. Tỷ lệ một – một giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fisher.

Mặc dù người cho vay và người vay không thể dự đoán một cách chắc chắn lạm phát trong tương lai, nhưng họ có một kỳ vọng nào đó về tỷ lệ lạm phát. Dùng p để biểu thị tỷ lệ lạm phát thực hiện trong tương lai và pe biểu thị kì vọng về lạm phát trong tương lai. Mức lãi suất thực dự kiếnipe, còn mức lãi suất thực được thực hiệnip.

Sự phân biệt giữa lạm phát thực tế và dự kiến cho thấy lãi suất danh nghĩa không thể điều chỉnh để thích ứng với lạm phát thực tế mà chỉ có thể điều chỉnh để thích ứng với lạm phát dự kiến. Hiệu ứng Fisher có thể biểu diễn chính xác hơn dưới dạng:

i = ir + pe

Lãi suất thực dự kiến ir bị quy định bởi trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hoá và dịch vụ. Lãi suất danh nghĩa i thay đổi theo tỷ lệ một – một với những thay đổi trong tỷ lệ lạm phát dự kiến pe.

Vì được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về mức giá nên lãi suất thực phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng như chi phí thật của việc vay tiền và do vậy sự phân biệt hai loại lãi suất này có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể tham gia trên thị trường tín dụng.

2.3.3. Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính([8])

Trả lãi theo mức độ cố định hay thả nổi là bản chất của hợp đồng tài chính. Cách phân loại theo tiêu thức này chia lãi suất thành hai loại là lãi suất cố định và lãi suất thả nổi.

Lãi suất cố định được giữ cố định trong suốt thời hạn vay. Còn lãi suất thả nổi có thể thay đổi theo chỉ số lạm phát.

Lãi suất cố định có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả. Nhưng cũng có những nhược điểm: bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong thời gian nào đó, dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào. Nó thường được áp dụng trong trường hợp lãi suất thị trường tương đối ổn định.

Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên nếu khi nhận và trả tiền đều tính theo cùng mức lãi suất chung là lãi suất hiện tại thường áp dụng trong các thời kỳ lãi suất thị trường biến động nhiều, khó dự đoán chính xác chiều hướng cũng như mức độ biến động lãi suất.

2.3.4. Phân loại theo cách đo lường lãi suất([9])

Theo cách đo lường lãi suất, lãi suất được chia thành: lãi suất đơn, lãi suất kép và lãi suất hoàn vốn.

– Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt thời kỳ hạn vay. Loại lãi suất này thường được áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn và việc trả nợ một lần khi đến hạn.

Ta có thể tính lãi suất đơn theo công thức như sau:

Số tiền lãi = vốn gốc x lãi suất x số thời kỳ gửi vốn

(Số thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất)

Ví dụ: Khoản cho vay 1.000.000 đồng (1 triệu đồng); lãi suất 15%/năm; thời hạn vay 90 ngày, 1 năm = 360 ngày. Khoản tiền lãi thu được như sau:

1. 000. 000 x 15% x 90/360 ngày = 37.500 đồng

Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Nó thường áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán trong đó lãi của kỳ trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.

– Lãi suất hiệu quả tương tự như lãi suất kép nhưng tính cho 1 năm.

– Lãi suất hoàn vốn là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của đồng tiền (hay các khoản thu nhập) nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay (hiện tại) của khoản đầu tư đó. Lãi suất hoàn vốn là phép đo chính xác nhất. Nó cho phép so sánh tỷ lệ sinh lời của các khoản đầu tư khác nhau về thời hạn về cách thức trả nợ.

2.3.5. Phân loại theo thời hạn vay

Theo thời hạn vay lãi suất có thể được phân loại thành lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn.

Lãi suất đúng hạn là tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà các bên đã thoả thuận.

Lãi suất quá hạn là tỉ lệ phần trăm tính trên nợ gốc mà bên vay phải trả cho bên cho vay tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất quá hạn thường cao hơn lãi suất đúng hạn do được áp dụng đối với người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn. Sau thời hạn mà bên vay không trả hoặc trả không hết số tiền vay thì bên cho vay có quyền tính lãi dựa trên lãi suất quá hạn theo đúng như thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Cũng cần nên chú ý việc trả lãi trước hoặc sau thời hạn vẫn có thể coi là đúng hạn. Ví dụ: đến hạn trả lãi nhưng do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả kháng mà bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ trả lãi của mình hoặc được bên cho vay chấp nhận không phải trả lãi quá hạn khi qua thời hạn vay…

2.4. Những chính sách về lãi suất ở nước ta từ đầu thập kỷ 90 đến nay

Từ đầu thập kỷ 90, chính sách lãi suất đã dần thay đổi để từng bước thích ứng với cơ chế lãi suất thị trường đồng thời tăng cường hiệu lực của cơ chế giá trong việc thực hiện chích sách tiền tệ.

2.4.1. Giai đoạn trước tháng 6 năm 1992([10])

Nhà nước can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay. Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được duy trì suốt thời kỳ này với mức cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước thấp hơn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Lãi suất danh nghĩa nhỏ hơn (<) tỉ lệ lạm phát. Lãi suất cho vay ngắn hạn lớn hơn lãi suất cho vay dài hạn; Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi các tổ chức kinh tế. Tình trạng này làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó.

2.4.2. Giai đoạn từ tháng 6 năm 1992 đến năm 1995([11])

Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất: chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương để đảm bảo cho bên cho vay và bên vay đều có lợi, xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế; thay vì ấn định lãi suất cụ thể bằng quản lý lãi suất theo một khung, bao gồm lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay. Những thay đổi về lãi suất đã được cải cách linh hoạt hơn với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn khống chế trực tiếp lãi suất, điều này làm giảm tác dụng kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.

2.4.3. Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7 năm 2000([12])

Ngân hàng Nhà nước trực tiếp ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới căn bản về điều hành lãi suất. Thay vì quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi – lãi suất tối đa tiền vay, Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng (4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn trước). Đến cuối tháng 1 năm 1998, Ngân hàng Nhà nước xoá bỏ chênh lệch lãi suất chỉ còn quy định trần lãi suất cho vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế đặc biệt trong hai năm 1998, 1999. Trong năm 1997, Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi hình thức tái cấp vốn chuyển sang quy định mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống trong thời gian này (từ 1,1% năm 1997 xuống 0,7%/ tháng từ 4/9/1999) để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính Phủ. Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 Ngân hàng Nhà nước đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái triết khấu giấy tờ có giá cho các ngân hàng thương mại. Tháng 7 năm 2000 Ngân hàng Nhà nước đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch.

Việc điều chỉnh lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì một trần lãi suất cho vay, tạo điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơ bản và từng bước tự do hoá lãi suất, mặt khác nhằm mục đích kích cầu thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên ảnh hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất hạn chế. Có hai lý do: trước hết việc giảm phát trong thời gian từ 1996 đến nay xuất phát từ sự suy giảm các yếu tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu vì thế các chính sách vĩ mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn chế; thứ hai, sự điều chỉnh lãi suất thường chậm so với thị trường, nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi lãi suất. Hơn nữa việc sử dụng các công cụ gián tiếp khác chưa thực sự có hiệu quả; việc điều hành trần lãi suất vẫn là một biện pháp can thiệp hành chính của Nhà nước do vậy đã hạn chế tính chủ động linh hoạt trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng, hạn chế việc hình thành và phát triển của các công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy giảm năng lực tài chính của tổ chức tín dụng.

2.4.4. Giai đoạn từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 05 năm 2002([13])

Đây là giai đoạn sử dụng lãi suất cơ bản với lãi suất tái triết khấu, lãi suất tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ. Theo cơ chế lãi suất cơ bản, Ngân hàng Nhà nước hàng tháng sẽ công bố lãi suất cơ bản (lãi suất cơ bản được hình thành căn cứ vào mức lãi suất cho vay thương mại tốt nhất của một nhóm các tổ chức tín dụng chiếm phần lớn thị phần tín dụng). Chính sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suất thị trường hơn. Tuy nhiên việc khống chế dao động của lãi suất cơ bản làm hạn chế phần nào tính thị trường của lãi suất và làm cho cơ chế này về bản chất vẫn là cơ chế điều hành trần lãi suất. Mặc dù vậy, việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suất tham chiếu khi cấp tín dụng các tổ chức tín dụng là bước chuẩn bị cho tự do hoá lãi suất hoàn toàn sau này.

2.4.5. Giai đoạn từ tháng 6 năm 2002 đến cuối năm 2008 (đến khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008)

Ngân hàng Nhà nước có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong điều hành lãi suất. Cơ chế lãi suất thoả thuận từ ngày 01/6/2002 đã xoá bỏ biên độ khống chế lãi suất cho vay, cho phép các tổ chức tín dụng được tự do thoả thuận lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam dựa theo quan hệ cung – cầu vốn và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng. Sang những tháng đầu năm 2003, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất mà theo đó lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất sàn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở đóng vai trò là công cụ điều hành thường xuyên của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài hình thức tái cấp vốn thông thường, Ngân hàng Nhà nước qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và thanh toán bù trừ. Ngân hàng Nhà nước còn áp dụng lãi suất tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước làm phương tiện thường xuyên điều tiết lãi suất liên ngân hàng; tiếp tục công bố lãi suất cơ bản nhằm mục đích định hướng lãi suất thị trường.

Cơ chế lãi suất mới nhằm đảm bảo tính thị trường của lãi suất và tạo điều kiện khai thác triệt để sức mạnh của cơ chế thị trường trong các hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Các tổ chức tín dụng đã chủ động linh hoạt hơn trong quyết định đưa ra lãi suất kinh doanh của mình. Các nguồn lực đã được khai thác nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên hiệu quả của chính sách vẫn còn hạn chế do các yếu tố nền tảng của cơ chế này đang trong quá trình hoàn thiện.

2.4.6. Giai đoạn từ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008 đến nay

Sự biến đổi của nền kinh tế mà đặc biệt là khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới lãi suất và ngược lại lãi suất sẽ giúp nền kinh tế sau khủng hoảng khắc phục được những hậu quả của suy thoái, chống suy giảm kinh tế và kiềm chế lạm phát. Đó là lí do vì sao không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đã có những chính sách thay đổi lãi suất để phù hợp với tình hình hiện tại. Trong thời gian này lạm phát đang lan tràn khắp nơi trên thế giới và làm rung chuyển một số thị trường tài chính. Chính phủ Trung Quốc đã công bố các biện pháp hút bớt tiền ra khỏi hệ thống tài chính để kiềm chế lạm phát. Tại Mỹ các nhà đầu tư bán thống bán tháo trái phiếu kho bạc khi được cục dự trữ liên bang Mỹ thông báo về nguy cơ lạm phát có thể tăng cao. Và như vậy phương thức điển hình để chống lạm phát là tăng lãi suất đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, biện pháp này có xu hướng gây tác hại cho tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Nó cũng gây phức tạp đối với nỗ lực của một số nền kinh tế đang phát triển trong việc duy trì sự ổn định của đồng nội tệ, bởi các nền kinh tế này đều dựa vào xuất khẩu. Đối với Việt Nam tỷ lệ lạm phát nhìn chung thấp hơn so với các quốc gia khác, có những thời điểm trong thời gian này chúng ta cũng tăng lãi suất nhưng Nhà nước cũng có những chính sách nhằm hỗ trợ lãi suất và Chính Phủ đưa ra các gói giải pháp nhằm kích cầu kinh tế. Cụ thể gần đây nhất trong quyết định số 497/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ngày 17/4/2009 quy định mức tiền cho vay tối đa bằng 100% giá trị hàng hóa đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính (riêng máy vi tính, mức tiền cho vay tối đa không quá 05 triệu đồng/chiếc) được hỗ trợ 100% lãi suất vay; đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp mức tiền cho vay tối đa là 100% giá trị hàng hóa nhưng không vượt quá 07 triệu đồng/ha; vật liệu xây dựng các loại để làm nhà ở được vay ở mức tiền tối đa bằng 100% giá trị hàng hóa nhưng không vượt quá 50 triệu đồng, hai hạng mục này được hỗ trợ 4% lãi suất vay. Theo đó, các khoản vay từ ngày 01 tháng 05 năm 2009 đến ngày 31 tháng 12 năm 2009 sẽ có thời gian hỗ trợ lãi suất tối đa 24 tháng đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính, hỗ trợ lãi suất tối đa 12 tháng đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp và vật liệu xây dựng các loại để làm nhà ở. Điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất là sản phẩm được sản xuất trong nước và phải được đăng ký, niêm yết giá bán và có nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật. Đồng thời với các giải pháp của Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra mức lãi suất cơ bản sau một thời gian biến động và hiện tại ổn định ở mức 7%/năm (tháng 7 năm 2009).

Chương 3:

QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG

3.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất

Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọi quan hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài vòng kiểm soát của pháp luật. Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luật của nước ta còn thiếu cụ thể, tính khả thi không cao, hơn nữa luật nước ta là luật khung, muốn thi hành được trên thực tế phải có Nghị định hướng dẫn thi hành. Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vào tình trạng này. Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhất một điều về lãi suất một cách trực tiếp:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.

Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 là quá khái quát sẽ tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làm biến thái đi và lợi dụng nó để kinh doanh, tổ chức thực hiện một số hình thức không lành mạnh.

Lãi suất cơ bản được quy định trong điều 476 bỗng dưng đã gây tranh cãi xem có nên sửa đổi hay không. Lãi suất này tự dưng trở thành mốc để suy ra lãi suất trần. Ví dụ có thời điểm lãi suất cơ bản lãi 12%/năm suy ra lãi suất cho vay tối đa sẽ ở mức 18%/năm. Tức là một điều luật nhằm ngăn chặn hiện tượng cho vay nặng lãi ngoài xã hội bỗng trở thành yếu tố điều tiết lãi suất của hệ thống ngân hàng chính thống.

Về nguyên tắc, lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thoả thuận; tuy nhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi và cũng tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về lãi suất hoặc trong trường hợp không có cơ sở xác định rõ mức lãi đã thỏa thuận, mà pháp luật dân sự quy định phương thức để xác định một mức lãi suất nào đó được xem là hợp lý và tiêu chuẩn được BLDS năm 1995 lựa chọn là căn cứ vào cơ chế điều hành trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, tức mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định từng thời điểm đối với loại cho vay tương ứng.

BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 quy định một điều duy nhất về lãi suất nhưng so với Bộ luật này, BLDS 2005 có những thay đổi căn bản. Đối với BLDS 1995 thì chỉ quy định “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng. Thực tế cho thấy khi áp dụng quy định này trong nhiều năm có nhiều bất cập và không còn phù hợp nữa, thay vào đó là quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Quy định mới này đã dễ hiểu hơn, thực tế hơn và hiệu quả hơn và sau gần bốn năm thực hiện quy định về lãi suất này, từ ngày 01/01/2006 – ngày BLDS 2005 có hiệu lực thi hành, chúng ta đã thu được những kết quả đáng mừng. Tại sao lại có sự thay đổi đó? Đó là vì cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã có nh÷ng thay đổi, cơ chế điều hành trần lãi suất được thay thế bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 quy định: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các Tæ chøc tÝn dông (TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh”([14]); “Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”([15]). Mặc dù vậy, phải đến 02/8/2000, Ngân hàng Nhà nước mới ban hành Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN (có hiệu lực từ ngày 5/8/2000) chính thức bắt đầu thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng Đồng Việt Nam thay cho cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay. Hệ quả là: từ thời gian này cho đến trước khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, rõ ràng đã tồn tại một khoảng trống pháp lý khi có sự bất tương đồng giữa Điều 473 BLDS năm 1995 với Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 và Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 về tiêu chí so sánh (lãi suất trần và lãi suất cơ bản), Toà án không có cơ sở để dẫn chiếu khi giải quyết các tranh chấp về lãi suất phát sinh trong thời gian ấy. Thay thế cho BLDS năm 1995 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, về nội dung này, BLDS năm 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”([16]). Đây là sự pháp điển hoá Luật Ngân hàng Nhà nước, Quyết định sè 241/2000/QĐ-NHNN1 vào trong BLDS mới một cách hợp lý và tất yếu.

Như vậy, nếu như cơ sở tồn tại của tiêu chí so sánh đã được BLDS năm 2005 giải quyết hợp lý, thì trong lời văn của điều luật lại phát sinh một vấn đề khác, đó là sự khác nhau về mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép (bị khống chế) giữa 2 quy định tương ứng trong hai Bộ luật dân sự. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần thống nhất cách hiểu và cách tính toán mức lãi suất cho vay tối đa này của BLDS năm 2005 như thế nào để không phạm luật? Hay nói cách khác, với quy định trên ta cần quan niệm giá trị 150% là của phần vượt quá so với lãi suất cơ bản hay là tỷ lệ so sánh thuần tuý giữa chúng với nhau – lãi suất thoả thuận với lãi suất cơ bản?

Theo LuËt s­ Trương Thanh Đức([17]), «ng đã mặc nhiên xác định theo cách: so sánh tỷ lệ thuần tuý giữa mức lãi suất thoả thuận với lãi suất cơ bản trong giới hạn luật định là 150% (mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản x 150%), ví dụ: nếu lãi suất cơ bản là 1% thì lãi suất cho vay tối đa không vượt quá 150% là mức 1,5% (= 1% x 150%).

Với cách thể hiện lời văn điều luật của BLDS thì luôn có thể đưa đến cho người đọc quan niệm giống như Luật sư­ Trương Thanh Đức. Nhưng từ những băn khoăn cã s¬ së, LuËt s­ §ç Hång Th¸i lại cã cách hiểu khác về tinh thần cũng như nội dung đích thực của điều luật này([18]):

· Theo quy định của BLDS năm 1995 (Khoản 1, Điều 473) thì mức lãi suất thoả thuận tối đa không vượt quá 50% (của lãi suất trần do NHNN quy định đối với loại cho vay tương ứng). Trong thực tiễn áp dụng pháp luật suốt thời gian qua thì cái ngưỡng 50% này luôn được hiểu và vận dụng nhất quán: lãi suất thoả thuận không được vượt giới hạn nhiều hơn gấp rưỡi, nghĩa là phần vượt quá phải ít hơn hoặc bằng 50% (và được xác định theo công thức: mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép = lãi suất trần + lãi suất trần x 50%). Hiển nhiên sẽ là phi lý nếu xem ngưỡng 50% ấy chỉ là phân nửa (của lãi suất trần do NHNN quy định) bởi không lẽ pháp luật lại buộc các thoả thuận dân sự trong xã hội (bao gồm cả hoạt động cho vay của ngân hàng) chỉ được thoả thuận mức lãi suất vay tối đa bằng nửa mức lãi suất trần do NHNN quy định (= lãi suất trần x 50%), thực tiễn giao lưu dân sự và việc giải quyết các tranh chấp dân sự của Toà án cũng không bao giờ diễn dịch theo ý tứ này. Có lẽ ở nội dung này, chúng ta cần mặc nhiên thừa nhận bởi sự lý giải rõ ràng của chính thực tiễn áp dụng và thực thi BLDS năm 1995. Tuy nhiên, dường như vẫn có điều gì đó bất ổn, phải chăng thực tiễn áp dụng luật có thể là đúng với ý đồ nhà làm luật nhưng cách diễn đạt của điều luật số 473 lại hàm chứa thiếu sót là chưa phản ánh đúng tinh thần ấy?

· Đến BLDS năm 2005, tại khoản 1, Điều 476, ngưỡng tối đa được phép của lãi suất vay thoả thuận nêu trên đã có sự chỉnh lý – thay giá trị 50% bằng giá trị 150% và:

– Với cùng lập luận như cách hiểu về tinh thần và thực tiễn thi hành BLDS năm 1995 thì nên chăng ta cần nhất quán cách xác định ngưỡng này là tiếp tục căn cứ vào giá trị của phần vượt quá, nếu mức lãi suất cơ bản là 1% thì mức lãi suất tối đa được phép thoả thuận sẽ là 2,5% (= 1% + 1% x 150%), trong đó phần vượt quá là 1,5%, tức bằng 150% của mức lãi suất cơ bản 1% (nghĩa là tiếp tục xác lập theo công thức: mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản + lãi suất cơ bản x 150%). Hay nói cách khác, BLDS năm 2005 đã nâng giá trị tỷ lệ xác định mức tối đa của lãi suất thoả thuận được phép, so với BLDS năm 1995 (đồng thời thay đổi đối tượng so sánh lãi suất trần bằng lãi suất cơ bản). Nh­ vËy LuËt s­ §ç Hång Th¸i ®· kh«ng ®ång t×nh víi c¸ch tÝnh cña LuËt s­ Tr­¬ng Thanh §øc.

– Nhưng còn có một khả năng khác: phải chăng lời văn khoản 1, Điều 473, BLDS năm 1995 đã không chuyển tải đúng ý đồ nhà làm luật (thay vì phải xác định giá trị của tỷ lệ cần so sánh trực tiếp giữa 2 mức lãi suất là đối tượng cần quan tâm với nhau chứ không thể bóc tách phần vượt quá để so sánh – nghĩa là phải lấy giá trị 150% chứ không phải là 50%), và để giải quyết bất cập ấy mà BLDS năm 2005 về câu chữ “tưởng như” đã nâng số giá trị % của mức ngưỡng tối đa, song nội dung thực tế là không tăng mà chỉ đơn giản là trả lại tỷ lệ % cần so sánh về đúng với sự hợp lý của ý tứ lời văn điều luật, theo đó: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản…”([19]) sẽ được hiểu và tính toán bởi công thức: mức lãi suất thoả thuận tối đa = lãi suất cơ bản x 150%. Như vậy, Đ476 BLDS năm 2005 còn ẩn chứa điều gì chưa rõ rµng vµ cần có sự giải thích kịp thời của Quốc hội, trước hết là sự hướng dẫn áp dụng pháp luật của liên ngành các cơ quan tư pháp trung ương về vấn đề nêu trên.

Đối với Luật sư Luu Trường Hận([20]), ông đưa ra cách hiểu tương tự Luật sư Đỗ Hồng Thái: theo BLDS năm 1995. Gọi A: lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định, thì mức lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của A (nghĩa là ngoµi mức lãi suất cơ bản là A thì Ngân hàng có thể được phép cho vay vượt mức lãi suất cơ bản nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cơ bản, tức là lãi suất cho vay tối đa mà các Ngân hàng có thể áp dụng = A + A x 50%). Ta có: A + A x 50% = A (1+50%) = A(100%+50%) = A x 150% = A x 1,5 lần (để chuyển các số ra cùng một đơn vị, ta đổi: 1 = 100%).

Tại thông tư số 01 – TT/LT ngày 19/6/1997 của Liên tịch Tòa án nhân dân Tối cao – Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ tài Chính: Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản cũng hướng dẫn theo cách tính trên, như sau: Nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng([21]). Ví dụ: C vay của D 10.000.000 đồng vào ngày 30/12/1995 với thời hạn vay là 6 tháng và với lãi suất là 4%/tháng. Hàng tháng C đã phải trả lãi cho D. Tháng 7/1996 C ngừng trả lãi cho D. Do đòi nhiều lần không được, nên tháng 11/1996 D khởi kiện yêu cầu toà án buộc bên C phải trả cả nợ gốc và lãi cho D. Khi giải quyết vụ kiện này, toà án buộc C trả cho D tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi theo cách tính như sau:

– Thời điểm C vay D là tháng 12 – 1995. Theo Quyết định số 381-QĐ/NH1 ngày 28 – 12 – 1995 thì lãi suất cao nhất của loại vay trung hạn và dài hạn là 1,7%/tháng. Như vậy toà án chỉ chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay nợ là 2,55%/tháng (1,7% + 1,7% x 50% = 2,55%/tháng). Nay BLDS 2005 đã sửa đổi Khỏan 1 Điều 473 BLDS 1995 như sau: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với các loại cho vay tương ứng”([22]). Để dễ nhận thấy sự khác biệt giữa hai Điều luật, ta lập bảng so sánh, đối chiếu: 

Khoản 1 Điều 473 BLDS 1995

Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005

Qui định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất (nay là lãi suất cơ bản) do Ngân hàng nhà nước quy định(công bố) đối với các loại cho vay tương ứng”. 

Qui định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với các loại cho vay tương ứng”.

Ví dụ: Thời điểm C vay D là tháng 12-1995. Theo Quyết định số 381-QĐ/NH1 ngày 28-12-1995 thì lãi suất cao nhất của loại vay trung hạn và dài hạn là 1,7%/tháng. Như vậy toà án chỉ chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay nợ là 2,55%/tháng.  (1,7% + 1,7% x 50% = 2,55%/tháng).  Từ Ví dụ trên, áp dụng to¸n học ta có công thức tính lãi suất cho vay, như sau: Gọi A: là lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất cho vay tối đa. Ta có: B = A + A x 50% = A (1+50%) [Qui đổi 1=100%] = A (100%+50%) = A x 150% hay B= A x 1,5 lần

Ví dụ: Thời điểm C vay D là tháng 03-2008. Theo Quyết định số 479-QĐ/NHNN ngày 29/02/2008 thì lãi suất cao cơ bản là 8,75%/năm. Như vậy Toà án chỉ chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay nợ là 21,875%/năm (8,75% + 8,75% x 150% = 21,875/năm).  Từ Ví dụ trên, áp dụng to¸n học ta có công thức tính lãi suất cho vay như sau: Gọi A: là Lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất cho vay tối đa. Ta có: B= A + A x 150% = A (1+150%) [Qui đổi 1=100%] = A (100%+150%) = A x 250% hay B = A x 2,5 lần

Tóm lại: Theo BLDS 1995, nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 BLDS1995 buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng.

Theo BLDS 2005, nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều BLDS 2005 buộc bên vay phải trả lãi bằng 250% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng.

Như vậy với cách hiểu và tính toán trên ta có: Gọi A: Lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, thì lãi suất cho vay của các Ngân hàng sẽ không được vượt quá: A + A x 150% = A (1+150%) = A (100%+150%) = A x 250% = A x 2,5 lần.  Như vậy mức lãi suất cơ bản được NHNN công bố là 8,75%/năm thì mức lãi suất cho vay của các ngân hàng không được vượt quá: 8,75% x 250% = 21,875%/năm. Nếu các ngân hàng cho vay trên mức 21,875%/năm (hay 1,82%/tháng) là phạm luật.

Đây là những quan điểm của các luật sư và các nhà chuyên môn mà những quan điểm này được đánh giá rất cao và là cơ sở để thế hệ chúng tôi học tập. Một điều luật có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau nhưng với cách hiểu của mình tôi thiết nghĩ nếu hiểu nội dung của điều 476 BLDS 2005 là quy định lãi suất không được vượt quá 250% lãi suất cơ bản thì không ổn. Vì khi quy định như thế chẳng khác nào là khuyến khích cho vay nặng lãi. Một đòi hỏi bức thiết là cần phải giải thích luật một cách rõ ràng, cụ thể để trách tình trạng có những quan điểm khác nhau([23]).

Các hợp đồng dân sự luôn mang trong nó tính chất “thoả thuận giữa các bên” tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người cho vay trong hợp đồng vay tiền có lãi suất bằng cách “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Nhưng “quy định vẫn chỉ là quy định”, không có chế tài áp dụng thì việc đưa ra các quy định này cũng không mang lại kết quả như ý muốn. Nếu có chế tài áp dụng đối với việc quy định lãi suất cũng chỉ là chế tài hành chính, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại một khoản tiền mà bên vay chứng minh được việc vay với lãi suất vượt qua mức quy định của pháp luật của bên cho vay gây thiệt hại cho mình. Hơn nữa, nhu cầu đi vay của người vay thường trong những trường hợp cấp bách và cần thiết, việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu của Toà án đôi khi làm ảnh hưởng đến công việc của người đi vay. Cần phải có những quy định và chế tài cụ thể để hạn chế tình hình trên.

Việc quy định lãi suất quá cao sẽ không chỉ gây ảnh hưởng cho nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính bên cho vay. Khi lãi suất của bên cho vay cao sẽ khiến các doanh nghiệp, các cá nhân… (bên vay) không vay dẫn đến tình trạng tiền bị đọng lại và không phát huy được giá trị sinh lời của nó. Doanh nghiệp vay tiền là để đầu tư nhưng với mức lãi suất cao sẽ dự tính việc đầu tư không có lãi nên các doanh nghiệp không vay là đương nhiên. Còn cá nhân, họ cần tiền cũng có thể để đầu tư, cũng có thể vay để chi trả cho một công việc nào đó hay để đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày… lãi suất cao khiến những người này không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi nên họ “không dám” vay. Và như vậy nguồn tiền trong các Ngân hàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không những không đem lại hiệu quả mà còn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các cá nhân… muốn vay.

Việc quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng không ổn. Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng cho các đối tượng ưu tiên mà pháp luật quy định còn mặt bằng chung phải phù hợp với mọi nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất (lạm phát hay giảm phát, kinh tế phát triển hay chậm phát triển…). Lãi suất thấp sẽ làm giảm hiệu quả của đồng tiền, làm giảm sự phát triển kinh tế, làm giảm nguồn thu của bên cho vay. Nhìn một cách khách quan, lãi suất thấp chỉ có lợi trước mắt cho bên vay. Nhưng cái lợi trước mắt không phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới.

Như vậy, việc quy định lãi suất quá cao hay quá thấp đều không mang lại hiệu quả. Nhà nước tính toán làm sao để pháp luật có những quy định hợp lý không làm giảm hiệu quả của giá trị đồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bền vững và lâu dài cho nền kinh tế.

Hơn nữa có thể thấy sự bất cập và thiếu chặt chẽ còn thể hiện ở chỗ: lãi suất được quy định trong BLDS 2005 phải ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong trường hợp A cho B vay với lãi suất là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố trong thời gian 1 năm nhưng hết 1 năm B vẫn chưa trả cho A, lúc này phát sinh lãi suất quá hạn và lãi suất này được tính như thế nào? Nếu A và B có thoả thuận về mức lãi suất quá hạn nhưng mức lãi suất này lại vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (vì lãi suất đúng hạn mà A và B thoả thuận đã bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước) thì lúc này hậu quả sẽ ra sao? Việc áp dụng Điều 476 BLDS 2005 có thực sự hiệu quả? Nếu trường hợp A và B không thoả thuận về lãi suất quá hạn thì việc tính lãi suất này sẽ theo quy định của pháp luật, tức là vẫn ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, như vậy việc phân loại lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn không còn ý nghĩa bởi vì cách tính lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn là như nhau.

Hiện nay, lãi suất huy động vốn bằng tiền đồng tại một số ngân hàng đã bắt đầu cán đích 10%, trong khi lãi suất cơ bản vẫn giữ nguyên 7% và trần cho vay tối đa không quá 10,5%/năm. Bằng phép tính đơn giản cũng có thể nhận ra rằng không có lý do gì để ngân hàng đẩy lãi suất lên để gánh lấy thua lỗ, trừ khi lâm vào tình huống gặp khó khăn trong thanh khoản. Thật ra, nguyên nhân chính ở đây là do một số ngân hàng đang chuyển hướng mạnh sang cho vay tiêu dùng theo cơ chế lãi suất thỏa thuận, với mức lãi suất bình quân từ 12-15%/năm, chênh lệch giữa đầu ra – đầu vào lên đến 4-5 điểm phần trăm/năm, một tỷ lệ thực sự hấp dẫn nếu chúng ta biết rằng trong tín dụng nếu duy trì chênh lệch khoảng 3,5 điểm phần trăm/năm là có thể tạm yên tâm về tài chính. Việc điều hành thông qua cơ chế “hai giá”, vừa duy trì lãi suất trần vừa áp dụng lãi suất thỏa thuận, tưởng chừng là lối thoát tài chính hợp lý cho các ngân hàng thương mại, nhưng vô hình trung đã nắn dòng chảy tín dụng ngày càng trở nên bất cập. Do sức hấp dẫn của chênh lệch lãi suất, vốn tín dụng tất yếu chảy dồn vào các kênh tiêu dùng, đáng kể nhất hiện nay là bất động sản và chứng khoán. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước vẫn đang khẳng định dư nợ cho vay chứng khoán và bất động sản hạch toán trên sổ sách nhìn chung chưa có biến động lớn vượt tầm kiểm soát, đây là ý kiến đáng lưu ý vì nhiều nhà quan sát cho rằng sở dĩ thị trường chứng khoán thời gian qua nóng lên bất thường phần lớn là do sự tiếp sức nhanh và mạnh từ các luồng tiền ngân hàng.

Hiện tại, các NHNN đang tổ chức lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật NHNN Việt Nam (sửa đổi) và Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Một trong những điểm mới mà luật đưa ra là TCTD và khách hàng có thể tự thỏa thuận mức lãi suất. Việc thỏa thuận lãi suất sẽ khiến việc huy động vốn dễ hơn. Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà Nước và Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng sẽ chính thức trình Quốc hội thông qua vào năm 2010.

Dự thảo Luật Các TCTD sửa đổi gồm 10 chương, 164 điều. Nhận được nhiều ý kiến đồng tình khi trao quyền cho TCTD và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất trong các hoạt động ngân hàng, không phụ thuộc vào quy định của Bộ luật Dân sự vì bản chất hoạt động kinh doanh ngân hàng của TCTD khác về bản chất với hoạt động cho vay trong quan hệ dân sự thông thường. Đặc biệt, việc áp dụng trần lãi suất có thể làm cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng không phản ánh đúng và đầy đủ tình trạng thanh toán của các ngân hàng, qua đó đã vô hiệu hóa một tín hiệu quan trọng nhất để điều hành chính sách tiền tệ…

Như vậy chiếu theo Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 “Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng” thì rất nhiều Ngân hàng đang vi phạm luật bởi lãi suất cơ bản do NHNN công bố hiện chỉ 7%/năm tức lãi suất cho vay không được vượt quá 10,5%/năm. Dường như, thời gian qua nắm được điểm yếu này, các Ngân hàng tha hồ nâng lãi suất, ký những hợp đồng phạm luật mà không e ngại. Luật sư Nguyễn Sa Linh([24]) khẳng định: “Nếu tranh chấp về lãi suất được đưa ra Tòa, những hợp đồng có lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản sẽ bị tuyên vô hiệu vì phạm luật và khách vay có quyền trả với lãi suất 150% lãi cơ bản”. Còn Luật sưNguyễn Thanh Lương([25]) phân tích “dù trong hợp đồng có điều khoản không được tiết lộ những điều khoản cho bên thứ 3, nhưng luật cũng quy định một số cơ quan có thẩm quyền được phép biết và Tòa án nằm trong số đó. Còn việc ngân hàng cho rằng lãi trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận thì vẫn vi phạm Điều 476 Bộ luật Dân sự”.

Một vấn đề cũng rất cần quan tâm đó là hiện tượng các Ngân hàng hiện nay cho vay với các điều kiện vô lý. Ví dụ: muốn vay 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đầu tư phải thoả mãn điều kiện có 10 héc ta (ha) đất không thì phải trả lãi suất cao mới được vay. Nhưng rất ít hộ dân có tới 10 ha đất. Tác giả cho rằng không nên quy định hạn mức mà điều kiện cho vay cần phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì nếu hộ dân có 1, 2 sào thì chỉ được vay 1, 2 triệu đồng như vậy không đủ để đầu tư. Hơn nữa, nếu trên mảnh đất “1, 2 sào” đó lại có tiềm năng phát triển thì như vậy quy định của các ngân hàng lại gián tiếp làm ảnh hưởng đến nền kinh tế. Nếu chấp nhận vay thì người dân phải chấp nhận một lãi suất cao “ngút trời”. Các ngân hàng đã vin vào các điều kiện vô lý này để tiến hành cho vay nặng lãi.

Dư luận đang chờ các cơ quan có thẩm quyền giải bài toán “cho vay nặng lãi” của các ngân hàng.

3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển rất mạnh mẽ và có tầm quan trọng lớn đối với nền kinh tế đất nước cho nên Nhà nước cũng đã có những biện pháp quản lý chặt chẽ nhằm hạn chế thấp nhất xảy ra các tranh chấp.Có thể thấy hầu hết các ngân hàng đều áp dụng đúng các quy định của pháp luật về lãi suất([26]).

Trong nhân dân, các chủ thể cũng đã có nhận thức đúng đắn hơn quy định của pháp luật về lãi suất. Thực trạng này chứng tỏ, hành lang pháp lý của nước ta đang dần hoàn thiện.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nêu trên, các tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng vay tiền ngày càng có quy mô lớn và tinh vi hơn nhất là các hình thức cho vay trong nhân dân nhưng không loại trừ các ngân hàng và các TCTD.

Thực trạng cho thấy trong lúc các ngân hàng thương mại đồng thuận thực hiện lãi suất huy động 11%/năm thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB) phát hành 3.000 tỷ đồng kỳ phiếu, lãi suất huy động 12%/năm chưa tính giá trị khuyến mãi. “Chỉ cần 10 triệu đồng, khách hàng có cơ hội trúng 2 kg vàng SJC”. Đó là lời mời khá hấp dẫn của SCB khi tung ra sản phẩm: Kỳ phiếu ghi danh bằng đồng Việt Nam có dự thưởng “Lãi suất cao – Trúng thưởng lớn”, kéo dài từ 7/4 – 4/6/2008. Khách hàng được trả lãi trước ngay khi mua kỳ phiếu. Thêm nữa: trong thời gian chờ nộp tiền khách hàng cũng được tính lãi suất và được tham gia quay số dự thưởng với tổng trị giá khoảng 2 tỷ đồng.

Lãi suất 1%/tháng, cộng với khuyến mãi thì lãi suất huy động kỳ phiếu vượt 13%. SCB đã vi phạm công điện 02/CĐ-NHNN ngày 26/2/2008 của Ngân hàng Nhà nước khống chế ở mức 12%.

Vì tình hình hiện nay nay dù Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên mức lãi suất cơ bản đồng Việt Nam là 7%/năm nhưng nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay tiêu dùng cá nhân với lãi suất quá cao, có ngân hàng nâng lên 26%/năm (bằng 371,4% so với lãi suất cơ bản); bên cạnh đó các điểm cầm đồ cũng nâng lãi suất cho vay lên 60%/năm. Nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn về mặt tài chính tạm thời buộc phải vay tiền ngân hàng với lãi suất “cắt cổ”, chỉ thua tín dụng đen, tiệm cầm đồ chút ít. Thực trạng là như vậy, các cơ quan chức năng cần bắt tay ngay để khắc phục tình hình này. Có thể áp dụng chế tài hành chính (phạt tiền, cảnh cáo, kỷ luật…), trách nhiệm dân sự hoặc chế tài hình sự về tội cho vay nặng lãi.

“Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 Qui định:

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Các tranh chấp xảy ra hiện nay về lãi suất trong các hợp đồng vay tiền đều do những lí do khách quan và chủ quan nhất định nhưng chủ yếu là do lãi suất cho vay cao, không phù hợp với pháp luật. Và hơn nữa các tranh chấp không chỉ xảy ra đối với các ngân hàng, các TCTD mà còn xảy ra rất phổ biến trong nhân dân. Ví dụ:

Ngày 4 tháng 1 năm 2009, co quan Cảnh sát điều tra Thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây nay là Quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội dó ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu Hưng (sinh năm 1982) và Trịnh Lê Hoài Nam (sinh năm 1989), cùng có hộ khẩu thường trú tại Quận Hà Đông về hành vi cho vay nặng lãi, xiết nợ và bắt giữ người trái pháp luật.

Nguyễn Văn An và em trai là Nguyễn Văn Ninh, hộ khẩu thường trú tại Quận Hà Đông, một tay chơi sành điệu thường xuyên chơi game online và lô đề. Để có tiền tiêu sài, An và Ninh đã tìm đến những người quen và bạn bè để vay.

Vào khoảng tháng 4 năm 2008, tình cờ trong một lần giao lưu với bạn bè, Nguyễn Văn An đã gặp Trịnh Lê Hoài Nam (sinh năm 1989) hộ khẩu thường trú tại phường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông. Nam cho biết mình quen một ông chủ cho vay lãi nhưng phải trả đúng hạn và trả lãi theo thoả thuận. Đang túng tiền, An đã bảo Nam môi giới gặp ông chủ đó là ông Nguyễn Hữu Hưng (sinh năm 1982) hộ khẩu thường trú tại phường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông. Sau khi vay tiền, Nguyễn Văn An đã nướng hết vào lô, đề, cờ bạc, càng gỡ gạc càng thua. Khụng ch? là ch? n? c?a Nguy?n Van An, ngày 31/8/2008, Nguyễn Hữu Hưng cũn cho anh Hoàng Van Minh (sinh năm 1991) và anh Vu Van Xuõn (sinh năm 1991), cựng cú  hộ khẩu thường trú tại phường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông vay tiền. Cũng như An, vì quá cần tiền nên anh Minh và Xuân  phải ký giấy biên nhận vay nợ với số tiền cao hơn so với tiền mà Hưng cho vay và phải tuân theo các điều kiện hết sức phi lý. Các đối tượng cho vay nặng lãi dùng nhiều thủ đoạn để ép con nợ và gia đình họ phải trả nợ, dùng dao kiếm đe dọa, đánh đập con nợ, thậm chí bắt người trái pháp luật… Sau khi thu thập đầy đủ các chứng cứ, sáng 16/12/2008, dưới sự chỉ đạo của Thượng tá Nguyễn Quyết Thắng – Trưởng Công an Quận, các mũi trinh sát đã đồng loạt bắt khẩn cấp 2 đối tượng: Nguyễn Hữu Hưng và Trịnh Lê Hoài Nam. Trước cơ quan công an, với những chứng cứ không thể chối cãi, các đối tượng đã nhận tội. Trong một thời gian ngắn các đối tượng đã cho nhiều thanh thiếu niên trên địa bàn Quận Hà Đông vay gần 1 tỷ đồng với mức lãi suất “cắt cổ” và ép họ phải viết giấy biên nhận vay nợ cao hơn số tiền đã cho vay. Đến kỳ hạn, các đối tượng thúc ép con nợ phải trả tiền bằng được, nếu con nợ nào không trả chúng đe dọa, đánh đập và bắt giữ con nợ buộc gia đình họ phải trả tiền để chuộc con. Như trường hợp bố mẹ của Nguyễn Văn An và Nguyễn Văn Ninh đã phải bán đất lấy tiền trả nợ cho con nhưng do lãi suất quá cao, nên vẫn không trả hết. Để thúc ép gia đình trả tiền, các đối tượng đã bắt Ninh và dọa sẽ gây thương tích cho Ninh, buộc bố mẹ Nguyễn Văn Ninh phải đi vay tiền để trả cho chúng.

Các đối tượng trong vụ án trên không chỉ cho vay nặng lãi mà còn có những hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc “cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm([27]) tức Nguyễn Hữu Hưng và Trịnh Lê Hoài Nam phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam đã nghiêm khắc trong việc xử lí các đối tượng cho vay nặng lãi. Tuy nhiên ở góc độ hình sự, tác giả cho rằng quy định tại điều 163 Bộ luật hình sự 1999 không còn phù hợp nữa, “cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên”nhưng phải có tính chất chuyên bóc lột” mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Hơn nữa nếu “phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi” tức chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự chỉ là “phạt cải tạo không giam giữ đến một năm”. Cần có một sự thay đổi cho phù hợp hơn, có thể là “cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ năm lần trở lên thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm” với những trường hợp có tính chất chuyên bóc lột có thể áp dụng hình phạt phạt tù đến một năm”.

Cũng có thể thấy trên thực tế có nhiều các tranh chấp chỉ ở mức độ trách nhiệm dân sự. Ví dụ:

Vụ án giữa Ông Nguyễn Văn Sự và Ông Lê Văn Hoàng thường trú tại huyện Giồng Trôm, Tình Bến Tre([28]). Vào ngày 2/3/2005 Ông Sự cùng vợ và Ông Hoàng kí hợp đồng có ghi là “tờ giao ước” có nội dung Ông Hoàng cho Ông sự vay 700.000.000 đồng, thời hạn 3 năm, lãi suất 3%/tháng. Ông sự có thế chấp Quyền sử dụng đất. Hai bên đến Uỷ ban nhân dân xã Giồng Trôm chứng thực. Ông Sự cho rằng sau đó ông chỉ nhận được số tiền mà ông Hoàng cho vay là 280.000.000 đồng. Ông Hoàng thì cho rằng: Ông đã đưa đủ 700.000.000 đồng cho Ông Sự, một lần là 280.000.000 đồng, một lần là 420.000.000 đồng. Tranh chấp về hợp đồng vay tiền xảy ra. Về lãi suất 3%/tháng, mức lãi suất này là quá cao (tức 36%/năm) không phù hợp với quy định về lãi suất của BLDS 1995 (thời gian này BLDS 2005 chưa có hiệu lực). Tác giả cho rằng, mức lãi suất áp dụng để giải quyết vụ án là lãi suất cơ bản do NHNN công bố tại thời điểm ông Hoàng cho ông Sự vay.

Dù ở góc độ nào đi nữa các chủ thể vi phạm phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hình sự đều nhận lấy những hậu quả bất lợi cho chính mình, không những thế còn gây thiệt hại cho người khác, cho xã hội.

Bên cạnh việc cho vay thông thường, việc chơi họ, hụi, biêu, phường ngày càng diễn ra phổ biến. Nhà nước và pháp luật rất khuyến khích hình thức này với mục đích lành mạnh, nhưng thực trạng lại cho thấy đằng sau cái “mác” tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân là các “lò hụi ma” với lãi suất rất cao. Các tranh chấp về họ, hụi, biêu, phường cũng ngày càng gia tăng. Hình thức vi phạm ngày càng tinh vi hơn nên việc dập tắt chơi họ, hụi, biêu, phường không lành mạnh rất khó. Các hình thức này như cho vay nặng lãi, biến thái thành đánh bạc… Đáng lưu ý hoạt động chơi họ, hụi, biêu, phường thường không có căn cứ để chứng minh nên dẫn đến hậu quả nhiều người vô tội mất tiền, mất của, dốc hết tài sản để góp hụi… nay khi vỡ hụi thì “trắng tay”. Đối với các tranh chấp xảy ra trước ngày 22/12/2006([29]), chúng ta chưa có một văn bản pháp luật điều chỉnh một cách cụ thể, rõ ràng nên trong quá trình điều tra, xác minh vụ việc còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng không đảm bảo đầy đủ lợi ích cho nhân dân. Khi có Nghị định 144/2006/Né-CP quy d?nh v? hỡnh th?c h?, h?i, biờu, phu?ng; quy?n, nghia v? và trỏch nhi?m c?a nh?ng ngu?i tham gia h? ra đời, tuy đã khắc phục được một phần các tranh chấp nhưng trong chơi họ vẫn để tình trạng cho vay nặng lãi diễn ra một cách công khai và tinh vi hơn.

Ví dụ: Một vụ án mà tác giả xin mạnh dạn đặt cái tít là “liên đới cho vay nặng lãi”. Bà Trầm Thuý Phương hộ khẩu thường trú tại Thị trấn Tầm Vu huyện Châu Thành tỉnh Long An, chủ một cơ sở cho (8 chiếc), chủ một tiệm vải lớn ở tại chợ thị trấn Tầm Vu là chủ hụi của số tiền gần 20 tỷ đồng. Với bề ngoài giàu có Bà đã mời mọc, thu hút được nhiều người tham gia vào các dây hụi do bà làm đầu thảo. Thời gian đầu, bà Phương đã trả lãi suất rất cao.

Qua đó, bà đã “huy động” được 6 dây hụi, mỗi dây có từ 50 đến 80 phần chơi (mức hụi từ 500 ngàn đến 5 triệu đồng/phần). Nếu ai không có tiền chơi hụi, bà Phương bảo cô con gái nuôi (chủ một tiệm vàng ở Tầm Vu) cho mượn tiền chơi với lãi suất 4,5%/tháng. Đi vay với lãi suất 4,5%/tháng (tức 54%/năm) để chơi hụi với ảo tưởng sẽ được một khoản lãi cao? Khi con hụi mượn đến khoảng 100 triệu đồng, thì cô con gái nuôi kêu bà Phương cho con hụi được hốt đầu hụi đó, rồi thu tiền cho vay, cộng với lãi suất… Nhưng con hụi nào vay nợ để chơi hụi thì được hốt hụi để trả nợ, còn ai tự bỏ tiền túi ra chơi thì khó hốt hụi. Ngµy 22/10/2008 bà Phương bá nhµ đi mất các con hụi mới biết mình bị lừa. Bởi tiền họ đóng hụi hàng tháng là gom lại cho người hốt ảo (do bà Phương tự ghi ra), số tiền này bà Phương bỏ túi chứ không giao cho ai([30]).

Trước thực trạng nêu trên các cơ quan có thẩm quyền cần vào cuộc ngay để không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia hợp đồng vay tiền mà còn đảm bảo cho nền kinh tế đất nước phát triển bền vững. Hậu quả việc coi thường pháp luật của những hành vi vi phạm cần được xử lý nghiêm minh. Nguyên nhân tranh chấp điển hình đối với các hình thức vay họ, hụi, biêu, phường chủ yếu không được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ và không có chứng cứ để chứng minh giữa các chủ thể chơi họ, hụi, biêu, phường có hợp đồng vay.

Chương 4

TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN TỚI NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

4.1. Tác động tích cực

Sau khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới 1929-1933, vấn đề quản lý vĩ mô nền kinh tế nhằm giảm nhẹ các biến động chu kỳ và thiết lập các cân đối của nền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách của hầu hết các quốc gia. Trong trào lưu này tiền tệ (trong đó có lãi suất) ngày càng tỏ rõ là công cụ quản lý vĩ mô sắc bén và có hiệu quả trên cơ sở lợi dụng cơ chế thị trường để tác động vào các mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô: sản lượng giá cả và công ăn việc làm. Không những thế, chính sách về lãi suất có có tác động không nhỏ tới sự phát triển kinh tế vi mô của đất nước. Có thể kể ra một số tác động cơ bản của lãi suất tới sự phát triển của nền kinh tế như sau:

· Lãi suất là một công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ thể kinh tế([31])

Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiện tại của các chủ thể. Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ bản và điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích người ta hi sinh tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiền dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại. Trong một nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết kiệm được thu hút triệt để qua kênh tài chính trực tiếp và kênh tài chính gián tiếp để tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

· Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô([32])

Với tư cách là cái giá phải trả cho những số tiền vay để đầu tư hay mua các sản vật tiêu dùng, lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay. Việc so sánh giữa lãi suất phải trả với hiệu quả của đồng vốn để người kinh doanh đưa ra quyết định về đầu tư. Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả năng có được những thu nhập khá lớn để bù đắp được số lãi suất phải trả, và do đó số đầu tư chắc chắn sẽ giảm. Cũng có thể lập luận về việc đi vay để tiêu dùng. Những người tiêu dùng so sánh số lãi suất phải trả cho một khoản vay mượn với ý muốn có càng sớm càng hay một sản vật như môt căn nhà hay một chiếc ôtô chẳng hạn. Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số người tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao gồm các thành phần như đầu tư doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động lãi suất có tác động đến đầu tư, đến tiêu dùng nên nó có tác động trực tiếp tới các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trường hợp:

– Lãi suất thấp? Khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng ? Tăng tổng cầu ? Sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ.

– Lãi suất cao? Hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng ? Giảm tổng cầu ? Sản lượng giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.

Vì có khả năng tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô như trên nên lãi suất được Chính phủ các nước sử dụng làm một công cụ có hiệu quả để điều tiết nền kinh tế quốc gia.

· Lãi suất là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả([33])

Lãi suất có tác dụng trong việc phân bổ vốn. Đối với những dự án có mức độ rủi ro như nhau, dự án nào có lãi suất cao hơn thường thu hút được vốn nhanh hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa đựng nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao mới có khẳ năng thu hút được vốn. Như vậy, bằng cách đưa ra các mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân bổ các luồng vốn theo mục đích mong muốn.

Trong quan hệ vay vốn, người đi vay không chỉ phải hoàn trả gốc khi đến hạn mà còn phải trả lãi khoản vay. Bằng việc buộc phải trả lãi đã kích thích người đi vay phải sử dụng vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản suất, kinh doanh tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi vì tiền lãi thực chất là một phần lợi nhuận mà người đi vay trả cho người vay.

· Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế([34])

Người ta thấy rằng: trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế lãi suất thường có xu hướng tăng do cung – cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất thường có xu hướng giảm xuống. Lãi suất là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế. Căn cứ vào sự biến động đó của lãi suất người ta có thể dự báo các yếu tố khác của nền kinh tế như: Tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân sách. người ta cũng có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo nền kinh tế trong tương lai. Các dự báo sẽ là cơ sở quan trọng để các chủ thể kinh tế đưa ra các quyết định đầu tư, tiêu dùng; các quyết định kinh doanh phù hợp.

· Lãi suất là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia([35])

Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô đã làm cho nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

Trong nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động tới mục tiêu trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sử dụng loại công cụ này dưới các hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay qua đó khống chế lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.

Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, Ngân hàng Trung ương sử dụng công cụ lãi suất gián tiếp chẳng hạn như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô. Ngày nay theo xu hướng tự do hoá tài chính, cơ chế điều tiết nền kinh tế bằng công cụ lãi suất ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới.

4.2. Tác động tiêu cực

Lãi suất tăng làm giảm vay nợ. Cá nhân giảm đi vay và tăng gửi tiết kiệm, do đó giảm tiêu dùng và tác động tiêu cực tới tổng cầu. Doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới, nên tác động tiêu cực tới tổng cầu. Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng. Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất; do đó tác động tiêu cực tới tổng cầu. Lãi suất tăng càng làm giảm thu nhập của người lao động. Điều này khiến họ giảm tiêu dùng. Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực.

Đối với hoạt động vay cầm cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay để xây hay mua nhà, do đó đầu tư xây nhà giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu. Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả nợ. Tổng cầu vì thế chịu tác động tiêu cực.

Lãi suất thấp khiến người có tiền không gửi tiền mà dành tiền để đầu tư chứng khoán hay vàng… các ngân hàng không có vốn để cho vay. Như vậy dù lãi suất tăng hay giảm phải phù hợp với tình hình trong nước và ngoài nước lúc bấy giờ. Lãi suất cao hay thấp đều có những tác động tiêu cực của nó. Có thể thấy trong tình hình đầu năm 2009 với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 vẫn còn ảnh hưởng, nước ta đã gặp phải những khó khăn nhất định trong đó có vấn đề liên quan đến lãi suất. Hiện tượng nóng bỏng hiện nay là “cơn sốt’ đua tăng lãi suất tiền gửi của các Ngân hàng thương mại, cuộc đua này chỉ đem lại hiệu quả tạm thời và trước mắt cho các ngân hàng và thu hút khách hàng về phía mình. Về lâu dài, hiện tượng lãi suất tiền gửi không có sự chênh lệch đáng kể đối với lãi suất tiền vay sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế.

Từ những tác động tiêu cực được thể hiện một cách khái quát, tác giả xin được tập trung phân tích những ảnh hưởng của lãi suất trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay. Cụ thể:

Lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ khiến cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước. Điều này làm cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống. Xuất khẩu ròng vì thế giảm đi, khiến cho tổng cầu giảm theo. “Đỉnh” lãi suất huy động ë ViÖt Nam hiện ghi nhận ở mức 10,1%/năm, tiến gần sát với mức lãi suất trần cho vay là 10,5%/năm. Hiện tượng này khiến nguy cơ lạm phát đang bị kích hoạt trở lại. Làn sóng đua tăng lãi suất huy động VND ở các ngân hàng thương mại từ đầu tháng 5 tới nay chưa có dấu hiệu dừng do nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế tăng cao. Cùng với việc tăng lãi suất huy động, các ngân hàng còn tái áp dụng chương trình khuyến mãi cho khách hàng gửi tiết kiệm nhằm thu hút thêm nguồn tiền VND. Ngân hàng An Bình, từ ngày 10/6/2009, cho ra đời 2 sản phẩm tiết kiệm mới “Tiết kiệm Tỷ phú” và “Tiết kiệm Phú quý” với lãi suất rất hấp dẫn lên tới 9,99%/năm. Ngân hàng Đông Nam Á (SEABank) cũng vừa nâng mức lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6 tháng lên 8,1% – 8,34%/năm và mức lãi suất cao nhất 9% – 9,24%/năm cho kỳ hạn 24 – 36 tháng. DongA Bank áp dụng mức lãi cao nhất 8,82%/năm, kỳ hạn 36 tháng. Các kỳ hạn ngắn 3 – 8 tháng dao động từ 7,56% – 7,86%/năm. Ngân hàng ACB cũng nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng VND kỳ hạn 36 tháng lên 8,8%/năm (mức lãi suất này chưa cộng lãi suất thưởng). Đứng đầu danh sách đẩy lãi suất huy động lên gần kịch trần để giữ chân khách hàng là HDBank. Từ ngày 16/6/2009, HDBank chính thức điều chỉnh tăng lãi suất huy động VND với tên gọi “sản phẩm tiết kiệm siêu lãi suất” kỳ hạn 36 tháng lên 10,1%/năm. Đối với lãi suất tiết kiệm thường, lãi suất điều chỉnh tăng mạnh nhất ở kỳ hạn 36 tháng từ 9,2% lên 9,8%/năm. Kỳ hạn 24 tháng, tăng từ 9,0% lên 9,4%/năm… Thời điểm này các khách hàng thực hiện rút vốn đã gửi từ năm ngoái, lúc lãi suất huy động đang ở đỉnh cao trên 20%/năm. Thêm vào đó, một nguồn tiền không nhỏ được khách hàng rút ra đổ vào các kênh đầu tư có mức sinh lời cao hơn như chứng khoán, bất động sản, vàng, khiến các ngân hàng không thể không tăng tốc huy động vốn để cho vay. Đặc biệt là khi dư nợ tín dụng cho vay hỗ trợ lãi suất và tín dụng tiêu dùng đang gia tăng tạo lực hút đồng vốn lớn. Để có tiền cho vay, cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng ngày càng trở nên căng thẳng hơn và lãi suất đầu vào liên tục được các ngân hàng đẩy lên cao. Nhiều ngân hàng phải tăng cường thiết kế các sản phẩm tiết kiệm để thu hút khách hàng, thu hút vốn đầu vào để phục vụ đầu ra – cho vay.

Có thể nhận thấy rằng “Rủi ro đang… chờ đợi”, thị trường chứng khoán tăng nóng và giá cả thị trường có chiều hướng tăng không khỏi khiến nhiều người lo ngại về những rủi ro đang chờ đợi phía trước, đặc biệt là tình trạng tái lạm phát. Kể từ khi triển khai chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng tăng lên nhanh chóng qua từng tháng. Theo chuyên gia tài chính ngân hàng Doãn Hữu Tuệ([36]), quyết định tăng lãi suất huy động của các ngân hàng đều dựa trên nhu cầu tín dụng tăng mạnh trong các tháng vừa qua và đang có xu hướng tăng lên khi gói hỗ trợ lãi suất thứ hai của Chính phủ cho vốn trung và dài hạn bắt đầu được triển khai rộng. Hơn nữa, do sức ép cạnh tranh, các ngân hàng không thể đứng yên trước xu hướng tăng lãi suất của ngân hàng khác – nếu không muốn mất khách hàng – đã góp phần tạo nên vòng xoáy tăng lãi suất. Các chỉ tiêu kinh doanh khả quan trong quý I/2009 cũng giúp các ngân hàng mạnh tay hơn trong các quyết định tăng lãi suất huy động. Với mức 10,1%/năm hiện nay, lãi suất huy động VND chỉ còn cách trần lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước có 0,4%. Trong khi, để bảo đảm ngân hàng hoạt động có lãi, mức chênh giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động phải từ 2,5% – 3%/năm. Thông thường, tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng huy động phải tương ứng với nhau để đảm bảo sự cân đối giữa đầu vào (huy động) và đầu ra (tín dụng). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, gần đây tăng trưởng huy động thấp trong khi đó tăng trưởng tín dụng lại cao. Có nhiều nguyên nhân để dòng tiền lưu chuyển không cân đối, trong đó có sự sôi động trở lại của thị trường chứng khoán. Trước đây, thay vì người ta gửi tiền vào ngân hàng thì bây giờ lại rút ra để chuyển vào thị trường chứng khoán hay kinh doanh vàng, ngoại tệ, đất đai. Một lý do nữa là nếu cho vay nhiều mà không huy động được sẽ dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh khoản. Khi khả năng thanh khoản không còn, các ngân hàng lại lao vào cuộc đua tăng lãi suất huy động. Đây là nguyên nhân khiến nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo về nguy cơ lạm phát quay trở lại.

Do tình hình khủng hoảng toàn cầu, thời gian qua áp lực lạm phát dịu đi nên trong ngắn hạn việc lạm phát tăng cao chưa phải là vấn đề nóng bỏng. Tuy nhiên, khi kinh tế toàn cầu bắt đầu phục hồi hay có dấu hiệu phục hồi thì nguy cơ lạm phát tái bùng phát là rất cao và cần hết sức lưu ý để ngăn chặn.

Về cơ bản thì việc tăng trưởng tín dụng là cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế suy giảm và thực hiện chủ trương kích cầu. Hiệu quả của tăng trưởng tín dụng đã thể hiện rõ nét qua những chuyển biến biến tích cực của kinh tế trong nước trong tháng 5/2009 (tăng trưởng các ngành sản xuất; xuất nhập khẩu tăng, tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm ước đạt 40,1% dự toán). Tuy nhiên, hiện tượng đồng loạt các Ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng mạnh lãi suất huy động VND tại thời điểm này cũng có một số vấn đề phải quan tâm theo dõi.

Như chúng ta đã biết: Lãi suất huy động = lãi suất thực + tỉ lệ lạm phát. Lãi suất cho vay ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) tỉ suất lợi nhuận bình quân. Lãi suất phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu vốn vay trên thị trường và lãi suất cho vay cao nhất là vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế (do rủi ro cao). Vậy tỉ suất lợi nhuận bình quân hiện nay là bao nhiêu?

Nếu cho rằng 8% thì sẽ thấy tình hình sau: Ngân hàng thương mại cho vay 10,5%, Chính phủ hỗ trợ lãi suất 4% nên doanh nghiệp thực trả 6,5% < 8%. Từ đó suy ra doanh nghiệp vay vốn kinh doanh sẽ có lợi. Nhưng nay các yếu tố liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa thay đổi nhiều, chỉ có lãi suất thay đổi thì phần lãi vay mà doanh nghiệp phải trả dần dần tiệm cận với tỉ suất lợi nhuận bình quân của ngành kinh tế, của nền kinh tế.

Đi vay mà không có lợi thì vay làm gì? Đặc điểm của doanh nghiệp Việt Nam là vốn vay ngân hàng chiếm tỉ trọng cao, có khi đến 100% phương án kinh doanh của doanh nghiệp, chứ không thuần túy bổ sung phần vốn thiếu hụt như lý thuyết tài chính. Thường trong trường hợp phải vay với lãi suất quá cao, doanh nghiệp chỉ vay để hoàn tất phương án kinh doanh đang dở dang, với mục đích dù bị lỗ còn hơn là mất trắng…

Như vậy, với bối cảnh hiện nay, lãi suất của Việt Nam có xu hướng tăng lên và chắc chắn nếu tiếp tục duy trì tình hình này lạm phát sẽ xảy ra. Làm xuất hiện lạm phát là tác động mạnh mẽ nhất của lãi suất cho nên trước khi lạm phát xảy ra, lãi suất chắc chắn cũng đã tác động đến các lĩnh vực khác như đầu tư, chứng khoán, kinh doanh… Những tác động tiêu cực này dù ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đều rất nguy hiểm cho nền kinh tế. Do vậy cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế – tài chính của đất nước và chắc hẳn sẽ ảnh hưởng đến việc điều chỉnh lãi suất và ngược lại. Đối với nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt trên 6% cộng với những biến đổi không ngừng của nền kinh tế trong nước và quốc tế, chúng ta đang đứng trước những cơ hội đầy triển vọng nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn đòi hỏi Chính phủ, các nhà chuyên môn… cần sáng suốt trong việc ban hành và lựa chọn những giải pháp kích cầu kinh tế phù hợp để nền kinh tế nước nhà không rơi vào tình trạng không theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.

4.3. Mối quan hệ giữa lãi suất với lạm phát và giảm phát

Việc tăng hay giảm lãi suất phụ thuộc vào lạm phát hay giảm phát. Nếu lạm phát thì lãi suất tăng, nếu giảm phát thì lãi suất giảm. Muốn tính lạm phát hay giảm phát dựa vào tỉ lệ tiêu dùng. Nói chung tính toán làm sao để có thể mang lại lợi nhuận cho cả hai bên.

Lãi suất trong hîp ®ång vay tiÒn liên quan đến nhiều khía cạnh:

· Chính sách ngân hàng trung ương

· Lạm phát

· Chính sách tiền tệ

Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho lượng tiền trong nền cung cầu tiền giảm, cung nhỏ hơn cầu, lãi suất huy động vốn tăng lên. Lãi suất tín dụng tăng. Ngược lại khi Ngân hàng Trung ương mở rộng chính sách tiền tệ, làm cho lãi suất huy động giảm. Lãi suất tín dụng giảm. Lạm phát cũng ảnh hưởng đến lãi suất , trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, lạm phát tăng, chỉ số giá cả tiêu dùng tăng , đồng tiền giảm giá, ngân hàng cho vay lãi suất cao, lãi suất tín dụng tăng.

Tác động kinh tế và xã hội của lạm phát rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ lạm phát và khả năng dự đoán chính xác sự biến động của mức lạm phát. Khi giá cả có xu hướng tăng lên từ thời gian này đến thời gian khác, mọi người đều nhận thức trong thực tế đó và cố gắng dự đoán tỷ lệ lạm phát của thời kỳ tới. Tỷ lệ mà mọi người dự đoán rằng lạm phát sẽ đạt tới gọi là tỷ lệ lạm phát dự tính hoặc tỷ lệ lạm phát được trông đợi. Nếu dự đoán này đúng với tỷ lệ lạm phát thực tế thì loại lạm phát đó là loại lạm phát có thể dự tính được. Nói cách khác loại lạm phát có thể dự tính được tức là loại lạm phát mà mức độ biến động bình quân của nó có thể được dự đoán một cách chính xác. Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát trông đợi không giống với tỷ lệ lạm phát thực tế xảy ra thì lạm phát đó là loại lạm phát không dự tính được – đồng nghĩa với không kiểm soát được. Những ảnh hưởng của lạm phát sẽ khác nhau tuỳ thuộc đó là loại lạm phát có thể dự tính được hoặc không thể dự tính được.

· Lạm phát có thể dự tính được

Khi mức lạm phát tăng lên kéo theo sự biến động mạnh về giá cả hàng hoá thì ảnh hưởng của lạm phát bắt đầu được bộc lộ, mặc dù nó được dự tính trước. Người chịu ảnh hưởng trước hết là người giữ tiền với mức lãi suất bằng 0. Khi lạm phát tăng lên, chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng lên, nhu cầu giữ tiền giảm xuống, tần số đến ngân hàng để rút tiền mặt tăng lên và khi đó chi phí quản lý tiền mặt tăng lên khi lạm phát dự tính tăng lên. Thứ hai, lạm phát gây tác động thông qua hệ thống thuế. Mức thu nhập danh nghĩa tăng lên cùng tỷ lệ lạm phát dự tính do chỉ số hoá thu nhập, làm tăng tỷ lệ người có thuế suất cao. Vì chính sách thuế thường không được điều chỉnh kịp thời và phù hợp với mức thu nhập, nên thực chất Chính Phủ có thể tăng mức đánh thuế mà không phải thông qua Luật. Bằng cách như vậy, chính sách thuế đã phân phối lại một phần thu nhập của người đóng thuế, làm giảm tác dụng của phương pháp chỉ số hoá trong điều kiện lạm phát có dự tính. Thứ ba, lạm phát làm bóp méo thông tin. Khi giá cả biến động liên tục, nó gây khó khăn cho các quyết định liên quan đến cơ cấu tiêu dùng, tiết kiệm, quyết định đầu tư… Hơn nữa khi giá cả thay đổi thường xuyên, nó còn làm tăng “chi phí thực đơn”, đó là các tiêu phí về nguồn lực xã hội để cập nhật với những sự thay đổi giá cả.

· Lạm phát không thể dự tính

Điều nguy hiểm của lạm phát không chỉ nằm ở mức độ lạm phát, mà còn ở sự xuất hiện bất ngờ của nó. Khi tỷ lệ lạm phát biến động ngoài dự tính, nó tạo nên sự biến động bất thường về giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội.

Lạm phát tạo nên sự bất ổn định cho môi trường kinh tế xã hội.

Sự biến động bất thường của tỷ lệ lạm phát từ thời gian này đến thời gian khác gây khó khăn trong việc xác định mức sinh lời chính xác của các khoản đầu tư. Điều này tạo nên một tâm lý ngần ngại khi quyết định đầu tư, nhất là các dự án đầu tư dài hạn. Hơn nữa sự bất ổn định của thu nhập có thể làm cho người đầu tư thích đầu tư vào các tài sản tài chính hơn là vào các dự án đầu tư thật sự. Kết quả là nguồn lực của xã hội bị phân bổ một cách thiếu hiệu quả và ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế.

Trong điều kiện lạm phát biến động, các quyết định tài chính cũng bị bóp méo; các doanh nghiệp thích vay ngắn hạn hơn là bị buộc chặt vào các hợp đồng vay dài hạn với lãi suất cố định, chứa đựng rủi ro lãi suất tiềm năng.

Lạm phát cũng gây những ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường lao động khi các công đoàn tìm cách đấu tranh đòi tăng lương danh nghĩa với nguy cơ của các cuộc đình công hoặc sự đe doạ của một tỷ lệ lạm phát cao hơn. Về mặt này, lạm phát làm ngừng trệ sự tăng trưởng kinh tế.

Phân phối lại thu nhập cá nhân và của cải xã hội.

Khi lạm phát tăng lên tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên nhưng trong đó chứa đựng sự phân phối lại giữa các nhóm dân cư với nhau; giữa chủ và người làm công; giữa người cho vay và người đi vay và giữa Chính phủ với người đóng thuế. Nói tóm lại tác động chính của lạm phát về mặt phân phối lại nảy sinh từ những tác động không thể đoán trước đối với giá trị thực tế của thu nhập và của cải nhân dân.

Để làm giảm tác động phân phối lại do sự biến động bất thường của lạm phát, nhiều nước áp dụng phương pháp chỉ số hoá. Phương pháp này cho phép điều chỉnh mức thu nhập và các khoản nợ danh nghĩa theo sự biến động của mức giá định kỳ. Chỉ số hoá được áp dụng trong các hợp đồng giá trị dài hạn như hợp đồng tiền lương hợp đồng vay dài hạn. Thí dụ một trái phiếu được chỉ số hoá có nghĩa là người sở hữu sẽ nhận được mức lãi suất danh nghĩa bằng mức lãi suất thực tế cố định vào tỷ lệ lạm phát vào thời điểm trả lãi. Bằng cách đó phương pháp chỉ số hoá cho phép bảo tồn giá trị thực tế của các khoản thu nhập dài hạn. Nhiều nhà khoa học đã khuyến cáo các Chính phủ nên sử dụng phương pháp này để chung sống với lạm phát. Tuy nhiên chỉ số hoá không chỉ là phương pháp hạn chế tác động của lạm phát một cách hoàn hảo; nó đặc biệt không hợp lý trong trường hợp lạm phát xuất phát từ các cú sốc cung. Hơn nữa chỉ số làm cho phản ứng của tiền lương nhanh hơn khi tỷ lệ lạm phát biến động, do đó mà đẩy nhanh tốc độ của lạm phát.

Lãi suất tăng lên.

Lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên. Vấn đề sẽ nảy sinh khi tỷ lệ lạm phát dự tính cấu thành trong mức lãi suất danh nghĩa không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế và làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực. Điều này, đến lượt nó, lại gây những ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư, cuối cùng là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế. Tác giả xin đưa ra bảng tỷ lệ ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế từ 1983 – 1999 để minh chứng cho sự tác động của lạm phát tới lãi suất.

Ảnh hưởng của lạm phát tới lãI suất thực của nền kinh tế từ 1983 – 1999

Năm

Lãi suất (%)

Lạm phát (%)

Lãi suất thực (%)

1983

1984

1985

1986

1987

1988

1989

1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

24

36

36

96

96

96

144

48

48

35

21.6

16.8

16.8

13.5

12.6

10

8.5

142

156

211

557

389

400

35

67

68

17.6

5.2

14.4

12.7

4.5

3.6

9.2

0.2

-138.8

-119.8

-174.9

-461,4

-293

-304

110.7

-19.2

-19.6

17.4

16.4

2.4

4.1

9

9

0.8

8.3

Nguồn: IMF và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam([37])

– Ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế.

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước bạn hàng, thì hàng xuất khẩu trong nước trở nên kém hấp dẫn vì giá cả tăng lên, trong khi hàng xuất khẩu của nước ngoài lại trở nên rẻ hơn, thúc đẩy nhập khẩu làm xấu đi tình trạng của tài khoản vãng lai gây áp lực đối với tỷ giá (trong điều kiện chế độ tỷ giá linh hoạt). Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể tạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ tạo nên áp lực mạnh hơn đối với tỷ giá. Và nếu điều này thực sự xảy ra, nó có thể đẩy mức lạm phát trong nước cao hơn bởi giá nội địa của hàng nhập khẩu trở nên đắt, đẩy mức giá cả chung tăng lên.

– Ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp.

Mức giá chung tăng lên có thể sự giảm sút của tổng cầu và công ăn việc làm, do đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tổng cầu giảm khi lãi suất danh nghĩa tăng lên, giá trị tài sản thực tế giảm xuống và sự giảm sút của khả năng cạnh tranh quốc tế. Tất cả các yếu tố này là hệ quả tất yếu của lạm phát.

* Các giải pháp giảm tỷ lệ lạm phát

Về mặt dài hạn việc kiềm chế lạm phát, giữ cho tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp. Vì vậy, duy trì sự ổn định của tiền tệ là mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào, nhưng trong từng thời kì việc lựa chọn các giải pháp kiềm chế lạm phát cũng như liều lượng tác động của nó phải phù hợp với yêu cầu tăng trưởng và áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánh chịu. Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ ít gây biến động cho nền kinh tế hoặc chiến lược giảm lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm mạnh về sản lượng trong qua trình điều chỉnh. Việc đưa ra cái giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây ra lạm phát.

Từ những vấn đề lí luận nêu trên, tác giả xin trình bày thời kì lạm phát ở Việt Nam qua đó để thấy rõ sự ảnh hưởng của lạm phát tới sự tăng trưởng kinh tế và lãi suất trong hợp đồng vay như thế nào. Việt Nam đã trải qua thời kỳ lạm phát cao kéo dài với những ảnh hưởng nặng nề trong suốt thập kỷ 80, được coi như là hậu quả tất yếu của cơ chế quản lý kinh tế thiếu hiệ quả và tình trạng bao cấp tràn lan của thời kỳ chiến tranh. Mặc dù tỷ lệ lạm phát đã được kiềm chế ở mức một con số trong những năm 90, nhưng sự bất ổn của nó cùng với tình trạng giảm phát liên tục trong những năm gần đây luôn đặt ra nhiều vấn đề cho các nhà làm chính sách. Có thể phân chia lạm phát ở nước ta qua 3 giai đoạn: giai đoạn 1976 – 1980, giai đoạn 1980 – 1988 và giai đoạn 1989 đến nay. Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin được phân tích cuộc lạm phát gần đây nhất: Giai đoạn từ 1989 đến nay.

Có thể nói lạm phát được kiềm chế thành công từ năm 1989 và giảm tới mức một con số trong suốt thập kỷ 90. Nhưng tỷ lệ lạm phát biến động qua các năm và những biểu hiện của giảm phát gần đây đang gây nên sự bất ổn định trong môi trường kinh tế.

QƯ

Nguồn: NHNN Việt Nam, Báo cáo thường niên các năm: 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002([38])

Các giải pháp đồng bộ trong chiến dịch chống lạm phát vào cuối thập niên 80 đã đem lại một kết quả đáng kể. Chính sách lãi suất cao được áp dụng lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ người gửi tiền tiết kiệm nhận được mức lãi suất dương, nó có tác động lớn trong việc giảm tiêu dùng và giảm mức độ biến động giá thậm chí xuống tới mức âm trong tháng 5, 6, 7 năm 1989.

Bên cạnh những biện pháp nhằm làm giảm áp lực của tổng cầu, Chính Phủ Việt Nam tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nhằm giảm chi phí, tăng năng suất lao động và sử dụng tiết kiệm có hiệu quả nguồn lực xã hội; từ năm 1988 nền kinh tế bắt đầu bước vào cải cách theo cơ chế thị trường, năng lực sản xuất của xã hội bắt đầu được khai thác và có điều kiện phát huy tác dụng thông qua chính sách phát triển kinh tế đa thành phần. Các chính sách giá cả, tài chính tín dụng đã được xây dựng phần nào phù hợp với cơ chế thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy cạnh tranh và có hiệu quả. Sự thay đổi căn bản này thực sự đã mở rộng mức sản lượng tăng tiềm năng của xã hội và tạo nên thời kỳ tăng trưởng vững chắc trong những năm sau. Việc hạn chế tình trạng đóng cửa nền kinh tế trong giai đoạn này cũng tạo điều kiện thu hút một khối lượng lớn hàng nhập khẩu tiểu ngạch góp phần làm giảm nhẹ áp lực của lạm phát.

Các giải pháp chiến lược nhằm tạo sự ổn định tiền tệ vững chắc vẫn tiếp tục được hoàn thiện trong suốt thập kỷ 90; tăng trưởng hiệu lực của chính sách tiền tệ, kết hợp với điều chỉnh hợp lý tỷ giá ngoại tệ, cải cách chính sách tài khoá, chính sách thuế, thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước một cách triệt để… là cơ sở để duy trì mức lạm phát vừa phải trong nhiều năm.

Mặc dù tỷ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, nhưng dường như Ngân hàng Nhà nước không chủ động trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng, do phải đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ cho các đối tượng chính sách, bù đắp tổn thất do thiên tai, kênh tín dụng còn chưa hiệu quả, do ảnh hưởng của thị trường tiền tệ khu vực hoặc do chính sách tiền tệ chậm phát huy hiệu quả. Điều này làm cho mức cung tiền tệ tăng lên hoặc giảm xuống không dự kiến trước được, kéo theo sự biến động bất thường của tỷ lệ lạm phát về phân phối và hiệu quả.

Bắt đầu từ 1996 nền kinh tế có dấu hiệu của giảm phát, từ cuối quý I giá cả giảm liên tục và chuyển sang “âm” từ 0.5% đến 0.7% trong 4 tháng tiếp theo 5, 6, 7, 8 năm 1996, chỉ đến quý IV/1996 giá cả mới nhích lên chút ít do điều chỉnh mức tăng của tổng phương tiện thanh toán. Tình trạng tương tự xảy ra trong các năm 1997 và 1999. Như vậy tỷ lệ lạm phát thấp ở mức một con số trong các năm 1996, 1997, 1999 không phải là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm mà chủ yếu do mức mua chung của xã hội giảm bởi thu nhập giảm. Lý do xuất phát từ mức sản xuất giảm là do không tiêu thụ được hàng, sức cạnh tranh của tổng thể nền kinh tế thấp, hàng nội bị chèn ép bởi hàng ngoại. Đặc biệt trong lĩnh vực Nông Nghiệp thu nhập giảm nhanh mặc dù đã có chính sách trợ giá thu mua. Thu nhập giảm còn do thất nghiệp tăng lên đặc biệt do thực hiện cổ phần hoá và sắp xếp lại các doang nghiệp Nhà nước, lao động dôi thừa trong các khu chế xuất, trong các công ty liên doanh với nước ngoài… Vì thế các giải pháp kích cầu có lẽ không có hiệu quả và nếu có cũng không kéo dài. Hiện tượng giảm phát này xuất phát từ chính các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội và còn do ảnh hưởng chu kỳ suy giảm toàn cầu, nên điều quan trọng là phải tìm được các giải pháp tác động vào sức sản xuất của xã hội, tăng cường khả năng cạnh tranh thông qua chất lượng và khai thác thị trường tiêu thụ, từ đó mà tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập.

Mặc dầu lạm phát cao “dù ở đâu cũng là vấn đề thuộc về tiền tệ” theo nghĩa là không có lạm phát nếu không có sự tăng lên của mức tiền cung ứng, nhưng cũng có những lý do buộc các nhà chính sách phải mở rộng cung ứng tiền và chấp nhận một mức lạm phát. Những lý do đó là: theo đuổi chính sách thất nghiệp thấp hoặc tình trạng bội chi Ngân sách Nhà nước.

Các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát có thể xuất phát từ phía cầu hoặc xuất phát từ phía cung. Tuy nhiên những hậu quả của một cuộc lạm phát cụ thể phụ thuộc vào mức độ biến động của tỷ lệ lạm phát và khả năng dự đoán mức độ biến động đó. Những hậu quả điển hình của lạm phát thường xảy ra với loại lạm phát không thể dự tính được.

Việc đưa ra các biện pháp kiềm chế lạm phát trên cơ sở phân tích những nguyên nhân của lạm phát và giá mà nền kinh tế phải trả cho 1% giảm lạm phát, nghĩa là xác định cho được tỷ lệ hi sinh của lạm phát.

Việt Nam đã trải qua thời kỳ lạm phát phi mã trong thập kỷ 80 với những hậu quả của một cuộc lạm phát xuất phát từ tổng các nguyên nhân cầu kéo, chi phí đẩy, nguyên nhân mất cân đối cơ cấu và yếu tố tâm lý. Một hệ thống các giải pháp được đánh giá là đồng bộ và có hiệu quả đã được sử dụng và đem lại kết quả nhất định trong thập kỷ 90. Đặc biệt là lạm phát năm 90 là mức lạm phát thấp nhưng thiếu ổn định kèm theo giảm phát vào những năm cuối thập kỷ 90. Lý do chủ yếu của tình trạng này do thu nhập của đại bộ phận dân cư, đặc biệt là nông dân tăng chậm hơn mức tăng giá hàng công nghiệp làm cho sức mua giảm sút.

Như vậy, có thể khẳng định lạm phát chính là nguyên nhân chính làm biến đổi lãi suất. Với xu thế hiện nay, chúng ta luôn phải cảnh giác với những cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát để luôn bình ổn giá cả đồng thời bình ổn mức lãi suất. Với nền kinh tế hội nhập, đặc biệt khi ra nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), Việt Nam sẽ đứng trước những triển vọng lớn và những thách thức lớn. Một vấn đề đáng lo ngại là lạm phát và tỉ lệ phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Có những người dư thừa của cải có nhu cầu cho vay tiền còn những người không đủ chi trả cho cuộc sống hay muốn đầu tư thì đi vay. Vậy lãi suất luôn là yêu cầu “nóng bỏng” của nhiều người, nhiều nhà đầu tư nên Nhà nước cần quan tâm và quản lí sát sao.

Chương 5

NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

Hợp đồng vay tiền là quan hệ tương đối phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Nó có tác động giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn khi thiếu thốn để sản xuất và lưu thông hàng hoá, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Hợp đồng vay tiền trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh.

Dựa trên những phân tích ở các chương trước, tác giả xin có một số nhận xét về quy định của pháp luật và quá trình thực hiện. Cụ thể như sau:

Lãi suất cho vay trong nền kinh tế nói chung, của các ngân hàng nói riêng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định. Giới hạn này đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 theo Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, cho đến tận ngày 19/5/2008 các ngân hàng mới “phải” thực hiện, sau khi có Quyết định số 16 của NHNN. Trước đó, các ngân hàng tha hồ cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản. Chính NHNN cũng áp lãi suất đấu thầu giấy tờ có giá lên tới 171% lãi suất cơ bản vào giữa tháng 02/2008.

Điều luật trên vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng lại được các văn bản dưới luật vận dụng ngược lại. Ngày 3/12/2008, NHNN ban hành Quyết định số 33, cho phép Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay với mức khống chế là 165% lãi suất cơ bản. Ngày 23/01/2009, NHNN ban hành Thông tư số 01 hướng dẫn các TCTD được cho vay phục vụ đời sống không bị giới hạn theo mức lãi suất 150% nói trên.

Tuy trong văn bản không thể hiện rõ điều này, nhưng trên thực tế được chấp nhận lãi suất cho vay trên 200% lãi suất cơ bản. Các văn bản này được ban hành sau khi có Nghị quyết ngày 6/11/2008 của Quốc hội, trong đó có nội dung: “Các TCTD điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất – kinh doanh có hiệu quả cao”.
Với câu chữ như thế này, thì không thể hiểu rằng pháp luật đã cho phép cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản, đặc biệt là đối với loại cho vay tiêu dùng. Không những thế, cả về nguyên lý cũng như thực tế, thì những “dự án sản xuất – kinh doanh có hiệu quả cao” sẽ là những khoản vay có lãi suất thấp nhất chứ hoàn toàn không cần đến nghị quyết “bật đèn xanh” để cho vay vượt trần lãi suất.

Như vậy, trước yêu cầu thực tiễn thì có thể là cần thiết, nhưng tất cả lại đều chưa đủ cơ sở pháp lý và việc được làm hay phải làm của các ngân hàng đều không bảo đảm về luật pháp. Ngân hàng không thể không lo ngại nếu giao dịch bị đưa ra xử kiện trước toà án.

Thực tiễn hoạt động cho thấy TCTD thường xác định mức lãi suất cho vay khác nhau đối với từng loại khách hàng khác nhau. Do vậy, việc khống chế mức lãi suất trần cho vay đối với hoạt động cho vay của TCTD ngoài ngân hàng thì có thế hạn chế được việc cho vay nặng lãi nhưng nếu áp dụng cho các ngân hàng thương mại là không cần thiết. Đây cũng chính là một lý do để NHNN thay đổi chính sách lãi suất, từ việc khống chế mức lãi suất cho vay tối đa sang tự do hoá lãi suất – cho phép TCTD và khách hàng tự thoả thuận lãi suất trên cơ sở cung cầu của thị trường từ 01/6/2002.

Ngoài ra, các quy định của BLDS về lãi suất không khả thi trên thực tế vì theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, hàng tháng Ngân hàng Nhà nước chỉ công bố một mức lãi suất cơ bản duy nhất. Do vậy, các quy định về mức lãi suất cơ bản của loại cho vay tương ứng tại điều 476 BLDS 2005 là không thÓ thực hiện trên thực tế.

Với quy định khống chế mức lãi suất cho vay tối đa tại Điều 476 BLDS 2005, rất nhiều thoả thuận về mức lãi suất cho vay trong các Hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng có mức lãi suất trên 10,5%/năm tại thời điểm hiện tại (quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố). Hậu quả là các TCTD có thể không thu được tiền lãi từ các hợp đồng tín dụng có mức lãi suất cho vay vi phạm pháp luật này, nếu khách hàng yêu cầu Toà án tuyên vô hiệu thoả thuận vi phạm điều cấm của pháp luật. Để giải quyết bất cập này, về lâu dài việc sửa đổi Điều 476 BLDS 2005 theo hướng không áp dụng quy định này đối với hoạt động cấp tín dụng của các TCTD là rất cần thiết.

Một vấn đề nữa, những dấu hiệu của lãi suất quá cao, tín dụng “nóng” được thể hiện ở 3 mặt: thứ nhất: khối lượng tiền lưu thông và dư nợ tín dụng tăng cao; thứ hai: lãi suất huy động vốn và cho vay vốn liên tục tăng; thứ ba: kinh doanh tiền tệ luôn sôi động. Các ngân hàng thương mại liên tục tung ra các chiến dịch huy động vốn với lãi suất cao, hình thức đa dạng kèm theo khuyến mãi hấp dẫn.

Các ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động vốn tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn của họ và là quyền của họ. Tuy nhiên, một khi cuộc chiến đã được khơi ra thì dù muốn hay không muốn cũng phải theo nhưng chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra trở nên đáng lo ngại. Tình trạng thiếu vốn, đặc biệt là vốn dài hạn cho các dự án lớn đã được kí kết, buộc các ng©n hàng phải gia tăng lãi suất huy động vốn thực tế. Tuy nhiên, nguy cơ tiềm ẩn vẫn có thể xảy ra khi mặt bằng lãi suất huy động vốn tăng nhanh trong khi mặt bằng lãi suất cho vay tăng chậm.

Ngay từ đầu năm nay, lãi suất huy động tiền göi tiết kiệm đã được các ngân hàng liên tục điều chỉnh. Thực tế, nhiều ngân hàng bất đắt dĩ bước vào cuộc đua này. Với các ngân hàng cổ phần mới xuất hiện trên thương trường, lãi suất là công cụ chủ yếu để huy động vốn. Các ngân hàng khác điều chỉnh tăng lãi suất, không lẽ ngân hàng mình lại đứng yên. Với việc liên tục đẩy lãi suất huy động tăng cao như hiện nay, các ngân hàng đã tự đẩy mình vào tình thế khó khăn. Mặt bằng lãi suất huy động chung của các ngân hàng hiện nay ở mức 8,5%/năm, trong khi lãi suất cho vay ở mức 9%/năm. Rõ ràng hiệu quả kinh doanh rất thấp. Khi tăng lãi suất huy động thì đương nhiên các ngân hàng phải cho đầu ra tăng theo, theo đó các doanh nghiệp đi vay buộc lòng phải cho tăng sản phẩm đầu ra theo tỷ lệ thuận. Do vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm đi, kéo theo đó là kinh doanh dễ gặp rủi ro, và cuối cùng người cho vay là ngân hàng sẽ gặp rủi ro rất lớn. Tình trạng này sẽ dẫn tới nợ quá hạn trong các ngân hàng tăng lên. Nhu cầu vốn trong nền kinh tế tăng là điều tốt, người gởi tiền được hưởng lãi suất cao cũng là điều tốt nhưng nếu lãi suất huy động tăng mà lãi suất cho vay không tăng được thì các chuyªn gia tài chính cần xem xét lại.

ở một khía cạnh khác, nếu coi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung tr­ước kia là một ngôi nhà ba tầng và lãi suất tín dụng là cầu thang trong ngôi nhà đó thì khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trư­ờng đư­ợc ví nh­ư một toà nhà chọc trời và lãi suất tín dụng là chiếc cầu thang máy giúp việc đi lại, l­ưu thông trong toà nhà đư­ợc dễ dàng, thuận tiện. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là phải đặt vị trí của cầu thang ở chỗ nào để mang lại hiệu quả sử dụng tốt nhất. Tại Việt Nam, trong những năm qua lãi suất tín dụng đã đư­ợc cải cách rất nhiều và đã mang lại những hiệu quả nhất định, cũng nh­ư vẫn còn tồn tại một số mặt còn yếu kém như:

· Tại Việt Nam ngân hàng Nhà Nư­ớc đóng vai trò là ngân hàng trung ương, là cơ quan quản lý Nhà N­ước giám sát hoạt động khu vực tiền tệ và kiểm soát khối l­ượng tiền trong nền kinh tế. Ngân hàng Nhà N­ước là cơ quan duy nhất có khả năng phát hành tiền. Và ngân hàng Nhà N­ước có ba chức năng: thứ nhất, kiểm soát các ngân hàng th­ương mại hoạt động đúng luật; là ngư­ời cho vay cuối cùng, hay là ngân hàng của các ngân hàng và cuối cùng là chức năng kiểm soát mức cung tiền. Trong khi đó thì ngân hàng th­ương mại là ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay với lãi suất, thông qua đó thu đư­ợc một khoản tiền lời từ sự chênh lệch lãi suất. Nh­ư vậy có thể nói lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam chủ yếu là do các ngân hàng thư­ơng mại đảm trách. Các ngân hàng th­ương mại quốc doanh của Việt Nam nhìn chung vẫn là các chủ thể giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống này.

· Về vấn đề nợ quá hạn: Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thư­ơng mại, là nguồn chủ yếu đem lại lợi nhuận. Nghiệp vụ này luôn phải gắn với rủi ro tín dụng, có thể ảnh h­ưởng nghiêm trọng đến an toàn của ngân hàng. Trong hệ thống ngân hàng th­ương mại Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn là một vấn đề khá nghiêm trọng. Các nguyên nhân của tình trạng tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng gia tăng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tóm lư­ợc là: một số khoản nợ từ thời bao cấp không chi trả đư­ợc; hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đi vay vẫn ch­ưa cải thiện đ­ược nhiều; nhiều doanh nghiệp vẫn đư­ợc cho vay theo chỉ thị chỉ đạo … mà không tính toán đến rủi ro tín dụng, đến điều kiện hoàn vốn và có lãi, các doanh nghiệp này lại chiếm một tỷ lệ vốn vay rất lớn; bản thân hoạt động của ngân hàng còn nhiều yếu kém, bất cập, một số cán bộ ngân hàng trình độ chư­a đáp ứng yêu cầu, một số khác bị biến chất, gây các vụ thiệt hại lớn.

Các ngân hàng vẫn thường xuyên áp dụng các biện pháp hỗ trợ lãi suất trong nhiều năm gần đây tuy nhiên bên cạnh hầu hết các đối tượng được hỗ trợ có nhu cầu và đủ điều kiện để tiếp cận được nguồn vốn rẻ này vẫn có nhiều trường hợp chưa thụ hưởng ưu đãi, hoặc chủ động không nhận ưu đãi dãi do khó và ngại đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một số doanh nghiệp sẽ vay theo hình thức thông thường mà không nhận hỗ trợ. Lý do của các doanh nghiệp này là ngại thủ tục, xét duyệt và quá trình chứng minh nhiêu khê có thể làm lỡ cơ hội cần vốn gấp để kinh doanh. Hơn nữa, lượng vốn vay không lớn, trong khi nhu cầu vốn “nóng” để nắm cơ hội kinh doanh, đặc biệt là ở những doanh nghiệp phân phối và dịch vụ với vòng quay vốn nhanh. Khi cân nhắc giữa lợi ích từ hỗ trợ với yếu tố cơ hội, tính “đơn giản” trong thủ tục và trách nhiệm, họ chọn vay thông thường. Thực tế cho thấy “hiện tượng” từ chối ưu đãi có một nguyên nhân chính nữa là doanh nghiệp không “đào” đâu ra hoá đơn để đáp ứng điều kiện của chính sách hỗ trợ đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động trong các làng nghề, hoặc có đầu vào gắn với các cá thể sản xuất kinh doanh. Từ đây, tình trạng bí hoá đơn đầu vào là trở ngại lớn để chính sách kích cầu thực sự đến được với doanh nghiệp. Phía ngân hàng tiếp vốn đứng trước một thực tế là doanh nghiệp có triển vọng phát triển, sẽ sử dụng vốn hiệu quả, có đầu vào đầu ra “nhìn tận mắt” nhưng lại lưỡng lự khi cấp vốn có hỗ trợ lãi suất. Nhiều doanh nghiệp trong các làng nghề thu mua phế liệu, nông lâm sản phục vụ sản xuất, hay những doanh nghiệp xây dựng trả lương nhân công bên ngoài… đều bó tay trước yêu cầu trình hoá đơn cho ngân hàng. Ngân hàng cũng khó xuôi với những trường hợp này bởi hoá đơn liên quan đến nghĩa vụ thuế và có thể bị truy cứu trách nhiệm sau đó. Trước thực tế ngân hàng theo sát các bước chi tiết của đồng vốn và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và vẫn quyết định giải ngân. Và để có thể hợp thức chính sách hỗ trợ, một giải pháp “lách” quy định là doanh nghiệp tập hợp chi phí đầu vào bằng bảng kê thay cho hoá đơn, tập hợp chữ ký của các đối tượng liên quan và xin chứng thực của chính quyền địa phương để trình ngân hµng nhưng trong các văn bản hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất không có chỗ nào dùng từ “bảng kê” để xét duyệt cả vµ thanh tra ngân hàng đã vào cuộc.

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trong năm 2008 đãcó Công văn gửi Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội và Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội về việc cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng không áp dụng trần lãi suất có dẫn Điều 476 của Bộ luật Dân sự. Lý do để xoá trần lãi suất:

Thứ nhất, việc khống chế trần lãi suất cho vay như thời gian qua là một biện pháp can thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và linh hoạt của các ngân hàng thương mại trong vấn đề huy động vốn và cho vay, vì lãi suất (giá cả) hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường. Mức lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi, chi phí huy động vốn, chi phí cho vay, uy tín của khách hàng, mức độ rủi ro của từng khoản vay và yếu tố cạnh tranh trên thị trường.

Thứ hai, việc khống chế trần lãi suất cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín dụng làm cho các ngân hàng rất khó đa đạng hóa các sản phẩm dịch vụ, vì mỗi loại hình tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác nhau, vì vậy lãi suất cho vay khác nhau, lãi suất tín dụng tiêu dùng và tín dụng bán lẻ khác với lãi suất cho vay doanh nghiệp và các loại hình tín dụng thông thường. Mặt khác, chính sách lãi suất trần cứng nhắc cũng làm hạn chế sự phát triển của các dịch vụ tài chính mới của các ngân hàng như tín dụng bán lẻ, tín dụng tiêu dùng, đây là những sản phẩm tất yếu của ngân hàng hiện đại.

Thứ ba, để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, NHNN đã có các công cụ để kiểm soát như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và điều hành khối lượng tiền cung ứng mà không cần giải pháp hành chính cứng nhắc như điều 476 của Bộ Luật dân sự đã quy định. Thứ tư, Nghị quyết số 23/2008/NQ-QH12 ngày 6/11/2008 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư, trong đó có cho phép “Các tổ chức tín dụng điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao”. mục tiêu chính của quy định này là nhằm ngăn chặn việc cho vay nặng lãi trong nền kinh tế, thường xảy ra trong quan hệ giữa dân với dân và để tạo ra căn cứ cho tòa án xét xử khi có tranh chấp xảy ra Tuy nhiên, quy định trên trong thực tế vẫn được hiểu là áp dụng để xử lý lãi suất cho vay cho các tổ chức tín dụng, mặc dù hoạt động của tổ chức tín dụng được điều chỉnh bởi 2 Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Tổ chức tín dụng.

Vì vậy, căn cứ vào quy định trên tại Bộ Luật dân sự, ngày 16/5/2008, NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng VND; trong đó, định kỳ hàng tháng, NHNN công bố lãi suất cơ bản.

Kể từ đó đến nay, NHNN đã 7 lần công bố thay đổi mức lãi suất cơ bản, do vậy, mức trần lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng cũng thay đổi tương ứng theo từng lần công bố.

Đối với các hình thức họ, hụi, biêu, phường: các hình thức cho vay này vẫn diễn ra một cách tự do và các cơ quan chức năng rất khó kiểm soát. Việc chơi họ, hụi, biêu, phường ngày càng được tổ chức lén lút và tinh vi hơn. Thực trạng cũng cho thấy các tranh chấp về họ, hụi, biêu, phường ngày càng gia tăng. Vậy nên cần quán triệt ngay các việc chơi họ, hụi, biêu, phường không lành mạnh.

Để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng vay tiền, dựa vào thực trạng và những nhận xét nêu trên tác giả xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, trong Bộ luật dân sự cần có quy định rõ về khái niệm lãi suất và các loại lãi suất.

Việc quy định của pháp luật còn bất cập ở chỗ vô tình đồng nhất lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn, cần có một sự điều chỉnh. Như đã biết lãi suất không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, nhưng khi tính lãi suất quá hạn thì được tính như thế nào? Nếu vẫn áp dụng lãi suất quá hạn nhỏ hơn hoặc bằng 150% lãi suất cơ bản thì chẳng khác nào khẳng định hai loại lãi suất này không có gì khác nhau. Vậy có thể tính lãi suất quá hạn như sau:

Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất đúng hạn

Lưu ý lãi suất đúng hạn không được vượt quá bằng 150% lãi suất cơ bản (để phù hợp với điều 476 – BLDS 2005).

Ví dụ: A cho B vay 1.000.000 đồng trong thời hạn 1 năm với lãi suất là 10%/năm (lãi suất cơ bản tại thời điểm hiện nay do Ngân hàng Nhà nước công bố là 7%/năm). Sau 1 năm kể từ ngày hợp đồng được giao kết, B phải trả cho A 1.000.000 đồng (gốc) cộng với một khoản lãi là: 100.000 đồng. Nhưng 2 năm sau B mới trả tiền cho A, lúc này phát sinh lãi suất quá hạn, ngoài số tiền gốc và lãi suất đúng hạn, A còn được nhận lãi quá hạn vì 1 năm chậm trả của B. Hai bên thoả thuận mức lãi suất quá hạn là 150% lãi suất đúng hạn tức khoản tiền là 150.000 đồng x 2 năm = 300.000 đồng.

Nếu lãi suất đúng hạn là 10.5%/năm (150% lãi suất cơ bản (7%) do Ngân hàng Nhà nước công bố), khi tính lãi suất quá hạn vẫn áp dụng cách tính là nhỏ hơn hoặc bằng 150% lãi suất cơ bản thì không ổn, lúc này lãi suất đúng hạn bằng lãi suất quá hạn. Có nghĩa là: A cho B vay 1.000.000 đồng, lãi suất là 10,5%/năm trong thời hạn là một năm. Sau 1 năm B phải trả cho A 105.000 đồng tiền lãi cho A. Nhưng sau một năm B vẫn chưa trả, lúc này sẽ phát sinh lãi suất quá hạn. áp dụng công thức: Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất đúng hạn thì lúc này lãi suất quá hạn sẽ lớn hơn lãi suất cơ bản:

Lãi suất quá hạn = 150%/năm x 10.5%/năm = 15.75%/năm.

Do vậy, BLDS cần bổ sung thêm khái niệm lãi suất và các loại lãi suất như sau:

Lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian.

Lãi suất đúng hạn là tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà các bên đã thoả thuận.

Lãi suất quá hạn là tỉ lệ phần trăm tính trên nợ gốc mà bên vay phải trả cho bên cho vay tương ứng với thời gian chậm trả.

Để không gây mâu thuẫn trong các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật nhất thiết phải chỉ rõ:

– Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng;

– Lãi suất đúng hạn mà các Ngân hàng thương mại, các TCTD hoặc các hình thức chơi họ, hụi, biêu, phường chọn không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản;

– Lãi suất quá hạn không được vượt quá 150% lãi suất đúng hạn.

Thứ hai, về việc xử lí hậu quả của hợp đồng vay tiền vi phạm quy định về lãi suất: đối với một số hợp đồng vay tiền đã có hiệu lực và việc thoả thuận lãi suất vượt quá quy định cho phép của Nhà nước của bên cho vay thì không nên tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền lợi cho các bên Toà án sẽ áp dụng và quy định lại lãi suất chuẩn và hợp lí tại thời điểm bấy giờ trong hợp đồng vay tiền và hợp đồng cho vay tiền này tiếp tục có hiệu lực. Cũng cần phải cân nhắc điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và dự liệu “những trường hợp khác do pháp luật quy định” để không gây mâu thuẫn trong chính Bộ luật dân sự.

Thứ ba, về vấn đề hụi, họ, biêu, phường: có thể thấy việc quy định lãi suất trong hợp đồng vay là rất cần thiết, nó càng hiện thực hơn nữa trong nền kinh tế hiện nay khi trị giá của đồng tiền luôn có những biến đổi không ngừng. Làm sao để quy định mức lãi suất có thể đem lại lợi nhuận cho người cho vay nhưng cũng đem lại khả năng đầu tư có hiệu quả trong việc vay lãi của người vay để họ có khả năng trả nợ, trả lãi và có thể đem lại lợi nhuận. Trên thực tế, không phải lúc nào các hợp đồng vay tiền cũng đảm bảo đầy đủ các giá trị pháp lí. Hơn nữa các hình thức cho vay có thể biến thái thành các hình thức tiêu cực. Trong nhân dân, các hình thức họ, hụi, biêu, phường diễn ra phổ biến mang tích chất là giúp đỡ nhau trong sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt… là chính. Tuy nhiên không phải lúc nào các hình thức cho vay này cũng lành mạnh nhất là trong xã hội ngày nay, các tệ nạn xã hội diễn ra ngày càng phức tạp. Hơn nữa để định nghĩa một cách rõ ràng thế nào là họ, là hụi, là biêu, là phường rất khó. Có nhiều người cho rằng bốn hình thức cho vay này trong nhân dân có cùng bản chất. Với ý kiến Ông Hà Đức Lệnh – Đại biểu quốc hội cho hụi và họ bản chất không giống nhau: "Họ mang tính chất tương trợ, không tính lãi. Còn hụi là cho vay với lãi suất cao, dễ phát sinh tiêu cực, ảnh hưởng lớn tới xã hội, nhất là khi đường dây hụi đổ bể". Ông Lệnh cũng như nhiều đại biểu nhất trí Nhà nước cần quản lý hụi bằng cách khống chế mức lãi suất cho vay, nếu vượt quá giới hạn quy định thì có chế tài xử lý. Theo quan điểm của tác giả, cả bốn hình thức này đều có thể thoả thuận có lãi suất. Bởi bản chất của hợp đồng vay tiền mà nhờ bản chất này có thể phân biệt dễ dàng với các hợp đồng khác đó là lãi suất. Hợp đồng vay tiền có lãi suất chính là thể hiện đặc điểm “đền bù” trong các hợp đồng dân sự.

Ví dụ về đường dây hụi ngày: Vay 30.000 đồng một ngày, trả lãi 500 đồng/ngày, sau 1 tháng phải trả cả vốn và lãi là 45.000 đồng (tương đương lãi suất 100%). Nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp chơi hụi với hình thức cho vay lãi cao: 200%, 300%… thậm chí còn cao hơn thế nữa. Vì thế nhà nước cần quản lý hụi, không thể cứ không quản được thì cấm, biến hụi trở thành cái gì đó xấu xa.

Theo tác giả, đối với các hình thức cho vay trong nhân dân: họ, hụi, biêu, phường cần phải được kiểm soát sát sao. Các chủ họ, hụi, biêu, phường (nhà cái) cần phải được đăng kí và được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền mới được phép hoạt động. Làm như vậy để kiểm soát được sự hoạt động của các hình thức này. Thông thường việc quy định lãi suất của các hình thức cho vay này rất khó kiểm soát và hầu hết là trái với quy định tại Điều 476 – BLDS 2005. Các hình thức cho vay này thường quy định mức lãi suất rất cao, nếu như cho vay với mục đích tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và áp dụng mức lãi suất phù hợp với pháp luật thì Đảng và Nhà nước ta rất khuyến khích, bởi trong tình hình hiện nay với sự khan hiếm của đồng tiền các ngân hàng và các tổ chức tín dụng đôi khi không xoay sở kịp cần phải có những hình thức cho vay khác để đảm bảo được nhu cầu của người dân. Tuy nhiên trên thực tế các nhà cái lại lợi dụng tình hình này để hoạt động cho vay nặng lãi. Hơn nữa có một số các chủ hụi cũng huy động góp vốn với lãi suất cao rồi sau đó “ôm tiền bỏ chạy” để những người góp vốn không biết tìm đâu để thấy tiền của mình. Việc chơi họ, hụi, biêu, phường có thể coi là một hình thức kinh doanh vậy nên việc đăng kí hoạt động với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là rất cần thiết, không chỉ giúp Nhà nước quản lý được các giao dịch dân sự mà còn đảm bảo quyền lợi cho nhân dân.

Thứ tư, về chính sách lãi suất: Có thể nói khi lãi suất của ngân hàng Nhà nước tăng cao hoặc việc cho vay tiền của các cá nhân có quy định mức lãi suất quá cao sẽ làm giảm nhu cầu đầu tư. Nhu cầu đầu tư là lượng tiền được nắm giữ nhằm quản lý tài sản một cách linh hoạt và có hiệu quả trên cả hai góc độ: tối đa hoá lợi nhuận và an toàn. Nói cách khác, công chúng nắm giữ tiền với tư cách như là một công cụ đầu tư mà không phải là phương tiện để trao đổi. Mức sinh lời của tiền tệ là bằng 0 hoặc rất thấp so với các hình thức đầu tư khác. Mặc dù loại hình đầu tư này vẫn tốt hơn mức sinh lời âm mà các loại hình đầu tư đó có thể mang lại. Tỷ lệ sinh lời của một công cụ đầu tư trong một giai đoạn là tổng của tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ tăng giá; trong khi mức sinh lời từ lãi suất luôn lớn hơn 0 thì tỉ lệ biến động giá có thể là một số âm. Trong chừng mực sự thiệt hại từ mức giá biến động vượt quá lợi nhuận mang lại từ lãi suất thì tỉ lệ sinh lời của một công cụ đầu tư là một số âm. Việc đầu tư vừa phải mang lại lợi nhuận, vừa phải an toàn. Với mức lãi suất cao, người đi vay khó có khả năng cáng đáng được được cả gốc lẫn lãi. Hệ quả xảy ra là ít người, ít công ty… vay hoặc vay nhiều để đầu tư có quy mô. Ngược lại, với lãi suất quá thấp, người dân sẽ không gửi tiền và dẫn đến hoạt động của các Ngân hàng kém hiệu quả, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy, ban hành một chính sách lãi suất phù hợp kích thích được các hoạt động cho vay tài sản nói chung và vay tền nói riêng sẽ có tác động không nhot tới sự phát triển ổn định của kinh tế – xã hội.

Thứ năm, cần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ ngân hàng nói riêng và nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân nói chung: sự biến đổi của đồng tiền và sự khan hiếm của chính nó tại một số thời điểm trong thời gian qua đã tạo cơ hội cho các đối tượng cho vay nặng lãi vượt nhiều lần so với sự quy định của Nhà nước. Trên thực tế, các Ngân hàng có những lúc không có đủ tiền để cho vay hay chỉ là đưa ra những lí do để tạo khó khăn cho người đi vay? Chính phủ đưa ra các gói giải pháp để hỗ trợ cho những người nghèo nhưng việc tiếp cận của các gói giải pháp này tới người dân còn rất khó khăn. Người dân không chạm tới được những sự hỗ trợ của Nhà nước, may chăng được tiếp cận nó nhưng cơ chế cho vay tiền của các Ngân hàng đặc biệt là các tổ chức tín dụng ở vùng sâu, vùng xa đã gây khó khăn cho người đi vay. Từ những nguyên nhân trên, những người có nhu cầu đi vay, để tránh “phiền phức”, họ không vay ở các Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng mà vay của những người “dư dật” của cải và có nhu cầu cho vay để thoả mãn nhu cầu vật chất của chính mình, nhưng sự biến đổi bất thường của giá trị đồng tiền và việc vay khó khăn tại các Ngân hàng khiến cho những người cho vay đã cố tình nâng lãi suất. Một đòi hỏi bức thiết là Nhà nước cần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ Ngân hàng và tăng cường kiểm soát các hợp đồng vay tiền.

Thứ sáu, có thể sửa đổi Điều 474 và 476 của Bộ Luật dân sự theo 2 phương án([39]):

Phương án 1: Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Điều 474 và Điều 476 Bộ Luật dân sự theo hướng “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”, quy định này không điều chỉnh các quan hệ tín dụng của các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hoạt động theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng.

Phương án 2: Chỉnh sửa Điều 474 và Điều 476 của Bộ Luật dân sự theo hướng quy định này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.

Theo tác giả các cơ quan làm luật nên sửa Bộ Luật dân sự theo phương án 1 để đáp ứng kịp thời cho tình hình kinh tế hiện nay với một nền kinh tế đa dạng, năng động và nhiều thách thức, nếu chậm ngày nào sẽ gây ách tắc và sự cứng nhắc trong hoạt động ngân hàng, không đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn ®ang suy thoái do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu mang lại. Nếu chọn phương án 2, chúng ta sẽ mất nhiều thời gian để sửa đổi luật vậy nên Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích luật theo tác giả là phương án tối ưu. Về lâu dài, để hợp lý hơn chúng ta có thể quy định điều 476 không áp dụng đối với hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm giảm bớt khó khăn cho các ngân hàng thương mại và đảm bảo phù hợp với chủ trương tự do hoá lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước đang phấn đấu.

Thứ bảy, về vấn đề tranh cãi có nên nâng trần lãi suất? Quy định của pháp luật hiện hành tại điều 476 BLDS 2005 nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về vay, cho vay vốn và các giao dịch dân sự, nhằm ngăn chặn cho vay nặng lãi, mang tính bóc lột không phù hợp với bản chất của Nhà nước ta. Trong bối cảnh lạm phát hiện nay, chúng ta cần tính đến các nhà sản xuất bởi khi không có vốn họ đi vay nhưng vay với lãi cao không đủ sức trả nợ thì phá sản, lại ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế. Tác giả cho rằng, tạm thời Nhà nước nên giữ nguyên quy định của điều 476 bởi việc thay đổi lãi suất cần phải cân đối giữa các lợi ích nhằm chống cho vay nặng lãi, suy giảm kinh tế… và đặc biệt cần phải phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội. Đồng thời kết hợp hài hoà với việc giải thích luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về vấn đề điều 476 BLDS 2005 không điều chỉnh các quan hệ tín dụng của các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hoạt động theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng. Khi nền kinh tế đi vào ổn định, lạm phát phi mã chấm dứt, kinh tế phát triển… chúng ta sẽ nghĩ đến việc nâng trần lãi suất.

PHẦN KẾT LUẬN

Việc nghiên cứu đề tài liên quan đến lãi suất trong hợp đồng vay tiền không chỉ có ý nghĩa trên mặt lý luận bởi các quy định của pháp luật về lãi suất còn quá khái quát và khó hiểu mà còn có ý nghĩa trên thực tế. Cuộc sống hàng ngày với những giao dịch nhỏ con người cũng có những lúc túng thiếu và đi vay của nhau, đó là những điều dễ hiểu và cho thấy hợp đồng vay tiền có ý nghĩa thiết thực như thế nào. Thực trạng về các hợp đồng vay tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức… đi vay để đầu tư, sản suất cũng ngày càng gia tăng. Hơn nữa trong các giao dịch dân sự mang tích chất tài sản thường phải mang lại lợi nhuận cho ít nhất một bên hoặc cả hai bên chủ thể để đảm bảo và thoả mãn về nhu cầu vật chất hoặc tinh thần lại càng củng cố thêm phần quan trọng của lãi suất đối với hợp đồng vay tiền trong cuộc sống hàng ngày. Một đòi hỏi bức thiết là phải có quy định của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng vay tiền một cách cụ thể, rõ ràng. Đồng thời cần kiểm soát việc cho vay với mức lãi suất nào để phù hợp với quy định pháp luật.

Với những ý nghĩa quan trọng của nó, hình thức của hợp đồng vay tài sản nói chung và hợp đồng vay tiền nói riêng đã trở thành một công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng (đặc biệt là hợp đồng dưới hình thức văn bản). Theo quan điểm của tác giả, cần tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân về ý nghĩa thiết thực của hợp đồng và cho họ thấy rằng việc lập một hợp đồng vay tiền bằng văn bản sẽ đảm bảo quyền lợi sát sườn cho chính mình. Đồng thời những người tham gia giao dịch dân sự nói chung và tham gia kí kết hợp đồng nói riêng cũng nên ý thức được điều này để góp phần làm giảm những vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tiền đặc biệt là lãi suất trong hợp đồng vay.

Có thể nói hoạt động cho vay tiền là một hoạt động kinh doanh bởi có bỏ vốn ra đầu tư (đối tượng đầu tư là tiền tệ), có thu được lợi nhuận (tiền lãi) và có những khả năng rủi do (bên vay không có khả năng chi trả…) nên “hoạt động kinh doanh” này cần phải được pháp luật chú trọng nhiều bởi đã là kinh doanh thì phải có nhiều hình thức kinh doanh mà đằng sau những hình thức kinh doanh hợp pháp còn có những hình thức biến thái đi…

Qua những nỗ lực của mình, tác giả đã cố gắng làm nổi bật lên những ưu điểm, nhược điểm của vấn đề nghiên cứu. Có thể nói lãi suất có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế và một quốc gia vững mạnh cần có một nền kinh tế phát triển bền vững, lâu dài. Quan tâm hơn nữa đến lãi suất sẽ là cơ sở để kinh tế nước nhà phát triển. Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tiền không chỉ liên quan đến Luật Dân sự, Luật Ngân hàng mà còn liên quan đến lĩnh vực tiền tệ nên khá phức tạp cộng với rất nhiều bất cập của lãi suất tác giả rất hi vọng các nhà làm luật xem xét và sửa đổi. Triển vọng của đất nước đang rất cần sự nỗ lực của tất cả chúng ta.

CHÚ THÍCH

  1. Điều 471 – BLDS 2005
  2. Điều 2, Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quy?t d?nh s? 652/2001/Qé-NHNN ngày 17/5/2001 c?a Th?ng d?c Ngân hàng Nhà nu?c
  3. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.63
  4. Điều 476 – BLDS 2005
  5. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.64
  6. Khoản 12, Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước 1997
  7. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.67
  8. Lấy tên của nhà kinh tế học nổi tiếng Irving Fisher (1867 – 1947) người đã phát hiện ra mối quan hệ giữa ba biến số trên
  9. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.69
  10. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.70
  11. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.95
  12. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.95
  13. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.96
  14. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.98
  15. Khoản 12 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997
  16. Điều 18 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997
  17. ản 1 Điều 476 BLDS năm 2005
  18. Luật sư Trương Thanh Đức chủ tịch công ty luật BASICO, nguồn VnEconomy.com.vn
  19. Nguồn
  20. Khoản 1 éi?u 476 BLDS nam 2005
  21. Luật sư Lưu Trường Hận, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng Bộ phận Pháp Chế Ngân hàng Phương Đông
  22. M?c b kho?n 4 ph?n I thông tu s? 01 – TT/LT ngày 19/6/1997 c?a Liên t?ch Tòa án nhân dân T?i cao – Vi?n Ki?m sát Nhân dân T?i cao – B? Tu Pháp – B? tài Chớnh
  23. Kho?n 1 éi?u 476 BLDS 2005
  24. Kiến nghị của tác giả được trình bày ở Chương 5: Nhận xét và kiến nghị
  25. Luật sư Nguyễn Sa Linh, Đoàn Luật sư Thành Phố Hồ Chí Minh, nguồn VnEconomy
  26. Luật sư Nguyễn Thanh Lương Đoàn Luật sư B?n Tre, nguồn VnEconomy
  27. Tham khảo phần phụ lục để nhận thấy rõ điều này
  28. Đi?u 163 B? lu?t Hình s? 1999
  29. Theo bản án số 44/2008/DS-ST vụ việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm Tỉnh Bến Tre
  30. Ngày Nghị định 144/2006/Né-CP quy d?nh v? hỡnh th?c h?, h?i, biờu, phu?ng; quy?n, nghia v? và trỏch nhi?m c?a nh?ng ngu?i tham gia h? có hiệu lực thi hành
  31. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.92
  32. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.92
  33. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.93
  34. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.94
  35. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.94
  36. Theo bài viết của Cẩm Vân và Đại An, nguồn
  37. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.239
  38. Học viện ngân hàng, Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Thống kê, tr.249
  39. Theo Hiệp Hội Ngân hàng Việt Nam

PHỤ LỤC

Bảng lãi suất tiền gửi đối với cá nhân tại thời điểm ngày 28-06-2009

(so sánh lãi suất của các ngân hàng và đối chiếu với quy định của Pháp luật)

qưe

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật dân sự 1995;

2. Bộ luật dân sự 2005;

3. Luật số 06/1997/QH10 về Ngân hàng Nhà nước do Quốc hội ban hành;

4. Luật số 10/2003/QH11 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội ban hành;

5. Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12 1997;

6. Nghị định 144/2006/NĐ-CP quy định về hình thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ;

7. Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 về việc ban hành quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành;

8. Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về việc cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành;

9. Quyết định số 479/QĐ-NHNN về việc mức lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành;

10. Thông tư số 01 – TT/LT ngày 19/6/1997 của Liên tịch Tòa án nhân dân Tối cao – Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ tài Chính;

11. Quyết định số 479-QĐ/NHNN ngày 29/02/2008 về lãi suất cơ bản;

12. Quyết định 241/2000/QĐ-NHNN1 về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước ban hành;

13. Công điện 02/CĐ-NHNN ngày 26/2/2008 của Ngân hàng Nhà nước;

14. Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLDS 2005 S?: 272/UBPL12 của Uỷ ban pháp luật ngày 26/3/2008;

15. Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005;

16. So sánh Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005, Toà án nhân dân tối cao, Viện khoa học xét xử;

17. Trường Đại Học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân;

18. Trường Đại Học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân;

19. Học viện Ngân hàng (2005), Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng, Nxb Thống kê;

20. Trang web của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

21. Trang web của Ngân hàng Công thương;

22. Trang web của Ngân hàng Ngoại thương;

23. Trang web của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn;

24. Trang web của Ngân hàng HD BANK;

25. Trang web của Ngân hàng HABU BANK;

26. Trang web của Ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn;

27. Trang web của Ngân hàng Kiến long;

28. Trang web của Ngân hàng Đại dương;

29. Trang web của Ngân hàng Việt Nam – Russia;

30. Trang web của Ngân hàng SHB;

31. Trang web của Ngân hàng Đông á;

32. Trang web của Ngân hàng Phương Nam;

33. Trang web của Ngân hàng BIDV;

34. Trang web của Ngân hàng Techcombank;

35. Trang web của Ngân hàng VINASAM;

36. Trang web của Ngân hàng Shinhanvina;

37. Trang web của Ngân hàng ngoài quốc doanh;

38. Trang web của Ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải;

39. Trang web của Ngân hàng Sài gòn;

40. Trang web của Ngân hàng quân đội;

41. Trang web của Ngân hàng Bảo Việt;

42. Trang web của Ngân hàng Gia đình;

43. Trang web của Ngân hàng OBC;

44. Trang web của Ngân hàng Seabank;

45. Trang web của Ngân hàng Việt ;

46. Trang web của Ngân hàng Liên Việt;

47. Trang web của Ngân hàng Nam á;

48. Trang web của Ngân hàng Western bank;

49. Trang web của Ngân hàng An Bình;

50. Trang web của Ngân hàng Nam Việt;

51. Trang web của Ngân hàng Tiền phong;

52. Trang web của Ngân hàng Đại á;

53. http://www.laisuat.vn;

54. http://www.VnEconomy.com.vn;

55. http://www.viettock.com.vn;

56. http://www.baobinhduong.org.vn

VIỆC SỬ DỤNG LẠI BÀI VIẾT PHẢI ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: