CẦN QUI ĐỊNH PHÙ HỢP VỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Ngày 18.1.2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản. Qua thời gian thi hành cho thấy, Nghị định 05 còn một số quy định chưa rõ, cần bổ sung, hướng dẫn thêm. Do đó, ngày 20.8.2009, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ Dự thảo Nghị định mới thay thế Nghị định số 05 nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục, trình tự, bảo vệ quyền bán đấu giá tài sản và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia đấu giá. Tuy nhiên, Dự thảo Nghị định mới vẫn có một số điểm còn bất cập.

Thứ nhất, theo Dự thảo Nghị định mới: “Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh quyết định thành lập để bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền từ cấp huyện trở xuống quyết định xử phạt và chuyển giao theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Hội đồng  bán đấu giá tài sản cấp huyện không bắt buộc phải có đấu giá viên tiến hành, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, Điều 4 của Dự thảo quy định về nguyên tắc bán đấu giá tài sản cũng không có khoản, điểm nào bắt buộc phải có đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản đối với Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Quy định như vậy chưa phù hợp, không bảo đảm hiệu quả của các cuộc bán đấu giá đối với các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Trên thực tế, việc bán đấu giá tài sản khá quan trọng lại mang nhiều rủi ro, đòi hỏi trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại do quá trình bán đấu giá tài sản gây ra. Và, trách nhiệm cá nhân ở đây phải là trách nhiệm cụ thể của Đấu giá viên – người trực tiếp điều hành cuộc bán đấu giá. Không thể quy trách nhiệm chung chung cho cả Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Vì lẽ đó, Ban soạn thảo nên quy định rõ về vấn đề này. Cụ thể, phải quy định bắt buộc các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện trong quá trình bán đấu giá thuộc thẩm quyền phải có Đấu giá viên điều hành; nếu các địa phương chưa có Đấu giá viên thì phải ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản cấp tỉnh tiến hành cuộc bán đấu giá. Có như vậy mới tránh được những sai sót, thiệt hại có thể xảy ra đối với cá nhân, tổ chức liên quan.

Thứ hai, về doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, Điều 8 của Dự thảo Nghị định mới quy định: “Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản thực hiện việc đăng ký kinh doanh đối với ngành, nghề có điều kiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc đăng ký kinh doanh cho Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính”. Quy định này cũng chưa rõ ràng. Bơi, theo quy định, ngoài việc kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản, doanh nghiệp có thể kinh doanh nhiều ngành, nghề khác (trừ kinh doanh dịch vụ thẩm định giá) và có thể có nhiều trụ sở khác nhau; trụ sở chính của doanh nghiệp có thể được đặt ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau. Trong khi đó, chưa có quy định bắt buộc trụ sở chính của doanh nghiệp phải là nơi kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản. Như vậy, có thể có trường hợp trụ sở chính đặt ở một tỉnh nhưng nơi kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản lại được đặt ở cơ sở của tỉnh khác, thì việc đăng ký được thực hiện như thế nào? Nếu theo quy định, doanh nghiệp phải đăng ký ở tỉnh có trụ sở chính, nhưng nơi đó không có trụ sở kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản thi có hợp lý không? Sở Tư pháp ở tỉnh có trụ sở chính có nhất thiết phải biết về việc doanh nghiệp kia có kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản ở tỉnh khác không? Trong khi đó, Sở Tư pháp ở tỉnh có trụ sở kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản lại không thể biết và không được báo cáo về việc có doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán đấu giá trên địa bàn để quản lý về mặt Nhà nước. Vì vậy, cần quy định cụ thể vấn đề này, có thể là bắt buộc thông báo bằng văn bản đối với Sở Tư pháp- nơi có trụ sở và tiến hành việc kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản. Như vậy mới hợp lý và phù hợp vớái thực tế.

Thứ ba, theo quy định tại Dự thảo Nghị định mới: “Bộ Tư pháp thống nhất tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ bán đấu giá tài sản, cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá, chứng chỉ này có giá trị trong phạm vi toàn quốc; Sở Tư pháp được giao thẩm quyền cấp thẻ Đấu giá viên cho các đối tượng đảm bảo yêu cầu theo quy định”. Vấn đề ở đây là một người có thể xin phép được cấp thẻ Đấu giá viên ở hai hoặc nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau cùng lúc không? Nếu theo Dự thảo này thì đượåc. Một người khi đã có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ bán đấu giá tài sản và các điều kiện khác thì hoàn toàn có đủ điều kiện đề nghị Sở Tư pháp cấp thẻ Đấu giá viên. Như vậy, có thể sẽ xảy ra nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước và dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực trong việc cho thuê thẻ Đấu giá viên hoặc cho thuê tên Đấu giá viên để thành lập doanh nghiệp bán đấu giá. Vì vậy, nên quy định giới hạn địa giới hành chính, bắt buộc Đấu giá viên chỉ hoạt động trong một địa giới nhất định, có thể là trong một tỉnh. Bên cạnh đó, nên quy định bắt buộc một Đấu giá viên chỉ được đăng ký hoạt động, làm việc tại một đơn vị, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Như vậy mới bảo đảm cho các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương thực hiện tốt  nhiệm vụ liên quan.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

Trích dẫn từ:

http://nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/83075/Default.aspx

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: