TRANH CHẤP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: VỤ “TRANH CHẤP TIỀN ĐẶT CỌC” Ở VĨNH PHÚC – TÒA SƠ THẨM XÉT XỬ CHƯA THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ?

NGUYỄN VŨ

Trung tuần tháng 7 và những ngày đầu tháng 8.2009, Báo ĐS&PL liên tiếp nhận được đơn đề nghị của gia đình ông Nguyễn Duy Á và bà Đặng Thị Xuân ở số nhà 28, phố Nguyễn Trãi, phường Liên Bảo, TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trình bày về vụ "Tranh chấp tiền đặt cọc" với Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc.

Trong đơn, ông Á trình bày như sau: Gia đình ông ký hợp đồng cho Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc thuê nhà căn nhà số 28 đường Nguyễn Trãi, phường Liên Bảo, TP. Vĩnh Yên, có diện tích là 700 m2 sàn để CPK dùng làm văn phòng, cho nhân viên, khách của công ty ở. Hợp đồng thuê nhà được 2 bên ký tại Phòng Công chứng Nhà nước số 02 tỉnh Vĩnh Phúc. Đại diện Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc ký hợp đồng thuê nhà là Tổng giám đốc Trần Lượng. Thời hạn thuê là 3 năm, tính từ ngày 1.3.2007 đến 1.3.2010. Giá thuê là 900 USD/tháng, được quy đổi ra tiền Việt Nam; giá thuê này không bao gồm thuế liên quan đến việc cho thuê nhà. Giá thuê không thay đổi trong suốt thời gian hợp đồng còn hiệu lực, không bao gồm các chi phí như sử dụng điện, nước, điện thoại. Hết thời gian thuê theo hợp đồng, hai bên có thể thoả thuận để tiếp tục thuê. Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc đặt cọc cho gia đình ông Á là 5.400 USD, tương đương với 86.670.000 đồng. Tiền đặt cọc này sẽ được gia đình ông Á hoàn trả lại công ty khi hợp đồng hết hạn hoặc chấm dứt hợp đồng. Trong hợp đồng thuê nhà, gia đình ông Á và Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc cam kết điều khoản chấm dứt hợp đồng gồm 5 lý do. Lý do quan trọng nhất là một trong 2 bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải thông báo cho bên kia trước ít nhất 30 ngày bằng văn bản. Nếu những nội dung khác được pháp luật quy định không nêu trong hợp đồng này thì 2 bên cần phải chấp hành nghiêm chỉnh. Bên nào vi phạm thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đang thực hiện hợp đồng, ngày 17.10.2008, Công ty CPK đã gửi thông báo đề nghị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn vào ngày 31.3.2009 đến cho gia đình ông Á. Tức là công ty thông báo chấm dứt hợp đồng bằng văn bản trước 6 tháng. Tại văn bản thông báo này, Công ty CPK tính toán số tiền đặt cọc 5.400 USD sẽ được trả luôn cho 6 tháng thuê nhà còn lại. Gia đình ông Á có văn bản trả lời không đồng ý với thông báo của Công ty CPK, không đồng ý tính tiền đặt cọc vào việc trả luôn tiền nhà cho 6 tháng thuê nhà tiếp theo. Sau đó, Công ty CPK vẫn trả tiền thuê nhà của 6 tháng, tức quý VI năm 2008 và quý I năm 2009 cho gia đình ông Á được thể hiện ở các hoá đơn ngày 8.10.2008 và ngày 12.1.2009; đến ngày 31.3.2009 thì bàn giao nhà. Theo ông Á thì việc gia đình có văn bản không đồng ý đối trừ tiền đặt cọc vào tiền thuê nhà, không đồng ý việc đơn phương chấm dứt hợp đồng, yêu cầu trả tiền thuê nhà theo hợp đồng thoả thuận, Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc vẫn thực hiện mà không có ý kiến gì, chứng tỏ, đồng ý với thông báo phản ứng của gia đình ông Á là không được đơn phương chấm dứt hợp đồng. Dù đã thực hiện đúng theo văn bản phản ứng của gia đình về việc nộp tiền thuê nhà nhưng Công ty CPK vẫn đơn phương chấm dứt hợp đồng và vẫn đòi tiền đặt cọc 5.400 USD. Ông Á không trả. Công ty CPK kiện ra toà án TP. Vĩnh Yên. Ông Á giãi bày rằng: Quá trình xét xử cũng như lời văn trong bản án sơ thẩm số 08/2009/DS-ST, ngày 16.7.2009 do thẩm phán Vũ Văn Mạnh làm chủ toạ chưa thấu tình, đạt lý, chưa đưa ra được những chứng cứ cụ thể nhưng vẫn buộc gia đình ông phải hoàn trả 5.400 USD đặt cọc cho Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc. Công ty này vi phạm hợp đồng, còn chủ toạ phiên toà thì chỉ lấy điều kiện cần – tức việc chấm dứt hợp đồng phải thông báo trước – làm cả điều kiện đủ để xử gia đình ông thua kiện mà không xem xét đến tất cả những khoản trong Hợp đồng thuê nhà giữa 2 bên. Đã ra đến toà, tức là 2 bên phải đưa ra lý để chủ toạ xem xét. Ông Á còn cho rằng, việc chủ toạ nhận xét trong phần xét thấy của bản án rằng: "Trong hợp đồng tại điều 6 có nêu rõ: Trường hợp một trong hai bên ngừng hợp đồng trước thời hạn đã thoả thuận thì phải thông báo cho bên kia trước ít nhất 30 ngày bằng văn bản. Như vậy, phải được hiểu là đây là điều khoản thoả thuận chấm dứt hợp đồng để cho 2 bên thực hiện" là chủ quan và là ý kiến riêng của chủ toạ. Chủ toạ không đưa ra các quy định của pháp luật dân sự để xét thấy phải được hiểu như thế là đúng. Chính vì thế mà gia đình ông Á có quyền nghi ngờ về tính minh bạch trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp của chủ toạ phiên toà.

Được biết, gia đình ông Á đã làm đơn kháng cáo. Hy vọng, với những trình bày của ông Á, toà phúc thẩm, toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sẽ xét xử để cho nguyên đơn và bị đơn đều phải "tâm phục, khẩu phục".

SOURCE: BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT

Trích dẫn từ:

http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=5&ID=1569

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: