Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

GS. PHẠM PHỤ

Có hay không "thị trường GDĐH" ở Việt Nam?

Có những sản phẩm đi vào quá trình tiêu dùng thông qua việc mua bán hoặc trao đổi kiểu "cho không", trong cơ chế thị trường vẫn được gọi là hàng hóa. Như vậy, hàng hóa không nhất thiết gắn với việc mua bán hay thương mại. Dịch vụ GD do vậy vẫn được gọi là một hàng hóa, còn việc có đem ra "mua bán", có thu học phí hay hoàn toàn miễn phí lại là việc khác.

Ở VN, hiện có khoảng 40.000 sinh viên (SV) đang du học tự túc ở nước ngoài, nghĩa là đang "mua" GDĐH ở nước ngoài, xã hội mỗi năm tốn khoảng 300 triệu đô la. (Nói như vậy không có nghĩa là không du học, mà là phải ước lượng: tỷ lệ "học" bao nhiêu, "du" bao nhiêu, có bao nhiêu phần trăm đã rơi vào bẫy của các "cỗ máy cấp bằng" (Degree Mills), nên học những ngành nghề nào, có phương án du học tại chỗ nào tốt hơn hay không?).

Hiện nay cũng đã có 4 trường ĐH và 8 trường CĐ nước ngoài đang kinh doanh, với lợi thế cạnh tranh rất cao, về dịch vụ GDĐH trên đất nước ta. Và, cũng có khoảng 120.000 SV đang theo học các trường ĐH dân lập và tư thục mà toàn bộ chi phí của nhà trường chủ yếu là dựa vào học phí. Như vậy, ít ra đã có một mảng GDĐH đang được thương mại và thị trường hóa ở Việt Nam. Ngay ở mảng GD phổ thông, một dịch vụ mà đến nay vẫn còn rất ít nước trong số 145 thành viên của WTO chấp nhận nhập khẩu vào nước ta cũng đang được tự do kinh doanh với mức học phí lên đến 5.000 – 10.000 đô la Mỹ/năm. Tất cả những sự kiện đó đã vượt lên trên mức quan ngại so với những câu hỏi như: "GDĐH có là hàng hóa không?", có là "công" hay "đặc biệt" mà chúng ta đang mãi tranh luận và đôi khi đã làm ngạc nhiên cho một số nhà GD ở nước ngoài.

Cần thị trường hóa giáo dục đại học

Khi nền GDĐH chuyển sang nền GD cho số đông, một áp lực ngày càng lớn đã đè lên ngân sách nhà nước (NSNN). Từ đó, đầu tư từ NSNN tính trên đầu SV đã có xu thế giảm liên tục trong những thập niên vừa qua. Vì vậy, một mặt xã hội yêu cầu ĐH phải được vận hành một cách có hiệu quả hơn, mặt khác, các trường ĐH phải tăng thu từ các nguồn thu khác ngoài NSNN, trong đó có học phí và mở rộng một số hoạt động có tính chất kinh doanh. Xã hội hiện đại rất đa dạng và phức tạp, việc ra quyết định và điều khiển tập trung là kém hiệu quả. Để có hiệu quả cần phải chuyển việc cung cấp trực tiếp các dịch vụ xã hội từ Chính phủ sang thị trường. (Theo đánh giá ở Mỹ, "Khi tư nhân hóa nhiều dịch vụ GD thì tiết kiệm được 15-40% chi phí cho GD" – Murphy 1996).

Khi nền GDĐH còn là "tinh hoa", phần lớn ĐH có định hướng nghiên cứu, sản phẩm của nó sẽ là những "con người khoa học" chủ yếu đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội. Nhưng khi GDĐH đã là nền GD cho số đông, phần lớn ĐH lại là GD nghề nghiệp, tấm bằng ĐH của từng cá nhân sẽ là "tấm hộ chiếu vào đời". Chủ yếu GD nghề nghiệp cũng là đặc điểm của nền GDĐH ở những nước mới phát triển nền GDĐH. Do vậy, GDĐH ngày nay phải được xem chủ yếu là mang lại lợi ích cá nhân.

Mục tiêu xuất phát của thị trường hóa GDĐH là làm cho ĐH phải được tổ chức và vận hành một cách hiệu quả hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của phát triển kinh tế – xã hội. Như vậy, GDĐH nên từng bước giảm bớt sự tham gia trực tiếp của Chính phủ, giao cho thị trường để có hiệu quả hơn như mở rộng ĐH tư thục, hợp đồng giao một số ĐH công lập cho tư nhân. Các trường ĐH nên gắn kết với nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp, đào tạo theo đặt hàng, cho phép lập các công ty dịch vụ hoặc "kinh doanh mạo hiểm" ở các trường ĐH, lập trường ĐH trong các công ty lớn, cho phép các thầy cô giáo ở các ĐH làm việc bán thời gian ở các doanh nghiệp…

Toàn cầu hóa và "tư thục hóa"

Khi có thị trường dịch vụ GDĐH, một mặt chúng ta có cơ hội lựa chọn chính sách khai thác tiềm lực GDĐH của nước ngoài để phát triển GDĐH của nước mình, thậm chí có thể xuất khẩu GDĐH tại chỗ nhờ vào GDĐH của nước ngoài như kiểu của Singapore, Malaysia… Ngoài ra, chúng ta có điều kiện học tập qua hợp tác với nước ngoài từ các chương trình liên kết, các chi nhánh ĐH nước ngoài ở VN… Nhưng mặt khác, chúng ta cũng phải đương đầu với những khó khăn rất lớn: phải cạnh tranh không cân sức (tương tự như các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay) với nước ngoài… Hạn chế những mặt trái này của thị trường hóa luôn là một nhiệm vụ khó khăn ở những nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước ta, một nước có nền kinh tế đang còn là nền kinh tế chuyển đổi.

Ngày nay biên giới giữa công lập và tư thục đã bị xóa mờ vì đa số ĐH tư thục đều nhận được tài trợ của Nhà nước, như ở Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ. Nói chung ĐH tư thục trên thế giới là không vì lợi nhuận (có lẽ trừ một số ít ĐH tư thục mới thành lập gần đây). Ở các nước châu Á còn có loại ĐH tư thục có mức "lợi nhuận thích hợp" hoặc "vì lợi nhuận một phần" (semi for – profit). Nhà nước vẫn kiểm soát tương đối chặt chẽ đối với ĐH tư thục. Trừ một số trường hợp ở Mỹ, Nhật, các trường tôn giáo, đa số cơ sở GDĐH ngoài công lập đều nằm ở "tầng cuối" trong "phân tầng" GDĐH của các nước và thường chỉ mở những ngành có chi phí đào tạo thấp hoặc đang là thị hiếu.

Từ những quan sát nói trên, có thể nhận ra một số vấn đề liên quan đến GDĐH Việt Nam, một mặt còn đang đứng khá xa trước xu thế và mãi băn khoăn về những hạn chế của thị trường hóa, mặt khác thị trường hóa với những tiêu cực lại vẫn đang xảy ra nhưng còn chưa có những giải pháp ngăn chặn hữu hiệu. Nước ta hiện có gần 12% số SV thuộc ĐH ngoài công lập và dự kiến sẽ tăng lên đến 40% vào năm 2010. Tuy vậy chính sách tài chính vẫn còn chưa rõ ràng. Nếu có chính sách hợp lý, hy vọng sẽ có hàng chục ngàn tỉ đồng hằng năm đầu tư vào loại trường ĐH này. Tuy vậy, hiện nay có một số đề xuất đổi mới lại "thái quá". Ví dụ, chuyển một số ĐH công lập và ĐH mở, bán công sang tư thục. ĐH tư thục hiện nay theo Quy chế là dạng công ty cổ phần vì lợi nhuận. Vậy, thiết nghĩ, việc chuyển đổi này vừa là không phù hợp với tâm lý và truyền thống, vừa là không cần thiết.

SOURCE: BÁO THANH NIÊN

Trích dẫn từ:

http://chungta.com/Desktop.aspx/GiaoDuc/Thuc-Trang-GD-Dai-Hoc/Giao_duc_dai_hoc_va_co_che_thi_truong/

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: