Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG NỀN CHÍNH TRỊ MỸ VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

TRẦN BÁCH HIẾU – Bộ môn Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
 
Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này.  Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật  tại quốc gia này.Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật  tại quốc gia này.

1. Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ

Vận động hành lang (lobby) được hiểu là những hoạt động hậu trường thường thấy ở nhiều nước trên thế giới. Qua hoạt động này, những người vận động (là người chuyển tải quan điểm của một bộ phận dân cư trong xã hội) có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới những thành viên của cơ quan lập pháp, thuyết phục họ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi lập pháp mới để đạt được kết quả như những người vận động hành lang mong muốn.

Có thể nói, Mỹ là nơi hoạt động vận động hành lang diễn ra sôi nổi nhất thế giới và vận động hành lang cũng được coi là một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị, lập pháp). Xuất hiện từ khi nước Mỹ mới thành lập, lobby chính là một “thói quen chính trị trong việc hình thành các chính sách của Mỹ và thói quen này đã được luật pháp Mỹ quy định và bảo hộ (1). ở Mỹ, lobby được hiểu là sự vận động các nghị sĩ, dân biểu trong Quốc hội Mỹ ở cả Thượng viện và Hạ viện để họ đưa ra hay ủng hộ các đạo luật, các nghị quyết, các quyết định mang tính chính sách có lợi cho các nhóm lợi ích khác nhau. Người làm nhiệm vụ này được gọi là nhà vận động hành lang. Người đó được trả lương để tác động tới bộ máy lập pháp hoặc dư luận. Hiện nay, phố K chính là nơi đặt trụ sở của các công ty lobby hàng đầu nước Mỹ.

Mỹ đã có nhiều văn bản pháp luật thừa nhận và quy định các hoạt động lobby. Đạo luật quan trọng nhất áp dụng cho hoạt động lobby ở Mỹ là Đạo luật vận động hành lang được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1946 (The Federal Regulation of Lobbying Act). Ngày 19/12/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký ban hành Đạo luật về Công khai hóa hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) điều chỉnh các mối quan hệ trong và ngoài nước ở Mỹ và quy định: “Bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hóa các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, công khai hóa các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả. Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang tồn tại như một loại hình kinh doanh mang tính chính trị – xã hội, có tác động mạnh mẽ vào quá trình hình thành chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ.

2. Vị trí, vai trò của các nhóm lợi ích trong hoạt động vận động hành lang ở Mỹ

Tại Mỹ, quá trình xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng khá mạnh từ hoạt động vận động hành lang mà những người thực hiện hoạt động này là các nhóm lợi ích. Do đó, cũng có thể nói việc xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng bởi sự tranh giành hay thỏa hiệp giữa các nhóm lợi ích. Các nhóm lợi ích là tổ chức của những người có cùng quan tâm, có cùng quan điểm với từng vấn đề xã hội khác nhau; cố gắng tác động đến việc xây dựng chính sách của Chính phủ và đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ thành các chính sách để phục vụ lợi ích của nhóm dân cư có cùng mối quan tâm mà họ là người đại diện (2) . Ngoài ra, “các nhóm lợi ích vận động chính quyền cho những lợi ích của họ chính là biểu hiện của nền dân chủ tự do” (3). Lời khẳng định đó của Tổng thống Jefferson đã chứng tỏ các nhóm lợi ích có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. “Ngày nay, có hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức ở Mỹ, và hàng chục ngàn người đăng ký chính thức làm nghề vận động hành lang tại Washington” (4). Có khoảng 60% dân Mỹ tham gia vào các nhóm lợi ích. Như vậy, sự tham gia của công dân vào chính trị nói chung và quá trình ra quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống dân chủ truyền thống Mỹ.

Có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau: (i) Nhóm lợi ích về kinh doanh như các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia; (ii) Nhóm hiệp hội nghề nghiệp; (iii) Nhóm liên Chính phủ; (iv) Nhóm lợi ích công; (v) Nhóm công đoàn. Các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng và về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Họ đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của Chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Nguồn gốc ra đời của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh tế; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc…; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Các nhóm này có tính chất phi tập trung hóa quyền lực chính trị với các bang và các địa phương, tức được hình thành ngẫu nhiên và dựa trên nhu cầu lợi ích xã hội. Các nhóm lợi ích này hoạt động rất năng động không chỉ dồn sức cho hoạt động chính trị mà còn cho cả những vấn đề mà họ quan tâm và thời gian tồn tại của những nhóm này là rất ngắn. Chúng xuất hiện khi có các vấn đề xuất hiện, rồi lại biến mất khi vấn đề được giải quyết.

Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của Chính phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các Uỷ ban hành động chính trị (PAC). Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là: Tổ chức nông nghiệp Liên bang Mỹ; Tổ chức công đoàn AFL – CIO; Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America Conservative Union); … Các nhóm lợi ích này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó, trong không ít trường hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Các nhóm lợi ích này thực hiện chức năng tiếp điểm, thể hiện quan điểm và đại diện cho lợi ích của các nhóm riêng biệt trong xã hội. Ngoài ra, còn cung cấp nhiều thông tin và kiến thức chuyên biệt về việc bố trí sắp xếp những thiết chế chính thức.

Nước Mỹ đứng trước sự trái ngược: vừa phải thừa nhận tính đa dạng về lợi ích; vừa phải ngăn ngừa các nhóm lợi ích này thông qua hoạt động vận động hành lang có thể gây lũng đoạn chính sách. Một mặt, họ tạo ra hàng loạt luật và án lệ mới bảo vệ hệ thống chính trị và các đảng phái khỏi ảnh hưởng lobby về tài chính (tiền chi cho vận động hành lang tại Mỹ vào năm 2004 lên đến 2, 1 tỷ USD)(5). Mặt khác, họ thừa nhận và luật hóa các nhóm lợi ích, các công ty vận động hành lang như đã nói ở trên. Chính sự tự do trong việc lobby chính sách đã tạo ra rất nhiều nhóm lợi ích cạnh tranh và đối trọng lẫn nhau và đã có lúc cả hệ thống chính quyền Mỹ bị chao đảo vì các nhóm lobby. Một cơn sốc chính trị nổ ra trong Quốc hội Mỹ khi Abramoff, nhà vận động hành lang có thế lực nhất của Mỹ bị kết tội trong một loạt scandal chính trị cao cấp. Tại tòa án, Abramoff đã nhận tội biển thủ, gian dối tài chính và mua chuộc chính khách. Tạp chí Time gọi ông ta là “người đã mua cả Washington”. Trung tâm điều tra độc lập Center for Responsive Politics cho biết đã điểm danh được hơn 300 nghị sĩ của cả hai đảng từng hưởng dân huệ từ Abramoff từ năm 1999. Sau vụ khủng hoảng này, hàng loạt các kiến nghị cải tổ luật về các nhóm lợi ích được đưa ra. Luật Lobby sửa đổi ngày 18/1/2006 quy định cấm các hình thức quà cáp “bồi dưỡng” cho các nghị sĩ có giá trị từ 20 USD trở lên, tặng vé máy bay, chiêu đãi các kỳ nghỉ, các chuyến đi thực tế của các nghị sĩ theo lời mời của các tổ chức, cá nhân, mời cơm thân mật…

Nhưng bên cạnh đó, lịch sử chính trị Mỹ cũng có rất nhiều ví dụ về những ảnh hưởng tích cực của các nhóm lợi ích với chính sách: Vào cuối thập kỉ 90, dưới sự lobby của các tập đoàn dược phẩm hùng mạnh, việc nhập khẩu thuốc theo đơn vào Mỹ rất ngặt nghèo. Không chịu nổi giá thuốc leo thang, các cụ già vùng Đông Bắc Mỹ, dưới sự tổ chức của các hội hưu trí, đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc (trái phép). Phong trào bất tuân dân sự này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền. Dù cuộc chiến pháp lý giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng còn tiếp diễn, nhưng hàng loạt tiểu bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá cho người nghèo hay nới lỏng quy định nhập khẩu thuốc (6).

3. Hoạt động vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ

Vận động hành lang (lobby) là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ, đã được thể chế hoá và gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích – hay nhóm gây áp lực. “Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình” (7). Các nhóm lợi ích thường gây ảnh hưởng mạnh tới các cơ quan làm luật ở cả cấp bang và liên bang, nhưng hoạt động của các nhóm lợi ích ở cấp bang mạnh hơn cấp liên bang. Các nhóm này vận động để thông qua hoặc bác bỏ các dự luật ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Do tính chất của hệ thống chính trị Mỹ, không có một nhánh quyền lực nào có quyền lực tuyệt đối, các nhánh kiềm chế quyền lực lẫn nhau, khiến cho các nhóm lợi ích có thể tác động đến hoạt động lập pháp hay hoạt động hành chính của chính quyền về các khâu, các giai đoạn của quá trình làm luật và chính sách. Các nhóm này hoạt động trên phạm vi rộng lớn, tham gia làm lobby vào mọi loại hình và trong tất cả các giai đoạn của hoạt động chính trị. Những đối tượng cần đến các nhóm vận động là các tổ chức chính trị, các công ty, chính quyền tiểu bang, chính quyền nước ngoài và nhiều nhóm khác…

Về mặt lý thuyết và nguyên tắc, vận động hành lang là nhằm làm cho hệ thống làm luật và thi hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành vận động hành lang. Các hoạt động vận động hành lang được tiến hành theo quy trình: các nhóm vận động hành lang Quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu trung ương và sau đó những người làm lobby tham gia một phiên họp điều trần của các nhà lập pháp để nghe báo cáo, những chất vấn chính thức và không chính thức với các quan chức nhà nước được bầu hay bổ nhiệm. Sau đó, họ gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ trình, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà làm luật… Các nghị sĩ Quốc hội sau khi tiếp xúc với những người làm lobby có thể đệ trình các dự luật theo yêu cầu của họ. Và để hoạt động vận động hành lang thu được hiệu quả, một nhà vận động phải hiểu rõ hệ thống chính trị Mỹ, phải có quan hệ tốt với các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Chính vì vậy mà có rất nhiều nhà vận động hành lang giỏi lại chính là các cựu quan chức của Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Không ai khác, họ là người có nhiều kinh nghiệm và xây dựng được nhiều mối quan hệ sau nhiều năm làm việc và công tác. Ví dụ điển hình là cựu Nghị sĩ Mỹ Bob Livingston đã trở thành một nhà vận động hành lang thành công sau khi rời khỏi chính trường. Chỉ trong vòng 6 năm, nhóm lobby do ông thành lập đã phát triển thành 1 trong 12 công ty lobby lớn nhất, với doanh thu gần 40 triệu USD tính tới cuối năm 2004. Những năm gần đây, không chỉ có những nhóm lợi ích thuê các nhà vận động hành lang để tiến hành vận động cho mình mà ngay cả Chính phủ và các công ty nước ngoài cũng tìm sự vận động theo hướng này. Những nhà vận động hành lang được coi là nhịp cầu nối giữa các nhóm lợi ích và các nhà chính trị, các nhà làm luật và hoạt động chính sách. Hoạt động của họ vừa có tính thuyết phục các nhà làm luật, vừa tạo điều kiện để họ hiểu được quan điểm của các nhóm lợi ích. Người dân Hoa Kỳ, các nhóm lợi ích cần các chuyên gia lobby để có thể nhận được sự chú ý nhiều hơn đối với các lợi ích và mong muốn của mình từ các cơ quan hành pháp, lập pháp; còn bản thân các nghị sỹ Hoa Kỳ cũng thấy các chuyên gia lobby thực sự hỗ trợ họ rất nhiều trong việc thông qua các dự luật và các quyết định quan trọng, bởi tình trạng quá tải về công việc của các nghị sỹ Hoa Kỳ trước yêu cầu cần được điều chỉnh của các quan hệ phát sinh trong xã hội hiện nay. Chính các chuyên gia lobby là người hướng các nghị sỹ Hoa Kỳ đến gần hơn với những bức xúc của xã hội, người dân và những chủ thể có quyền lợi liên quan khác.

Nhưng mặt khác, điều không thể phủ nhận là vận động phải có năng lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều tra, thu thập thông tin và tác động. Thực tế hiện nay, tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của các nhóm lợi ích. Ngay cả một số cơ quan Chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Nhưng đồng tiền khi dính với quyền lực chính trị sẽ dẫn đến nguy cơ bè đảng, cướp đi cơ hội của những nhóm yếu thế được có tiếng nói trong quá trình ra quyết định. Đây cũng là khe hở để các thế lực tài chính hùng mạnh có thể giành lợi thế trong các cuộc chạy đua vận động và bóp méo công lý. Một số người vận động hành lang đã lợi dụng cơ chế này để đóng góp tiền cho các chiến dịch chính trị và dành cho các quan chức được bầu những đặc lợi và tất nhiên toàn bộ những đóng góp này cũng luôn luôn kèm với kỳ vọng sẽ được đối xử thuận lợi trong một số vấn đề sau này. Và thực tế, có thể gọi chúng là “của đút lót tế nhị được nguỵ trang khéo léo”. Còn về hình thức hoạt động, lobby không phải lúc nào cũng ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà chủ yếu ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Một số những chuyên viên vận động hành lang có những hành động kèm theo những quà cáp bất hợp pháp trong lúc đề đạt ý nguyện của khách hàng đến các nhà làm luật. Những món quà đó có thể là tiền bạc hay những chuyến đi nghỉ, đi chơi xa thật đắt tiền. Những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. Các chuyên gia lobby cũng bằng nhiều cách khác nhau tự tìm những con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sam Ward, một trong những người được mệnh danh là “ông vua lobby” của Hoa Kỳ, đã triệt để áp dụng nguyên tắc: “con đường ngắn nhất để đạt được sự ủng hộ của một nghị sỹ đối với một dự luật chưa được thông qua là đi qua dạ dày của ông ta” (8).

Chính vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của nó. Với khoản tiền thu hàng năm về tới 4 tỷ USD từ các khoản tiền ủng hộ, tài trợ của các nhà đầu tư, có thể nói ưu thế về tài chính và những vận động “ngoài lề” trong vận động hành lang đã và đang có ảnh hưởng to lớn tới chính trường Mỹ và cụ thể là tới quá trình xây dựng chính sách và pháp luật nói riêng. Điều nguy hiểm ở đây là sự nhập nhằng ranh giới giữa việc đầu tư ủng hộ cho các chiến dịch tranh cử với hối lộ; giữa nhận tiền tài trợ cho quỹ bầu cử với tham nhũng.

Ở Mỹ, những nhóm lobby mạnh nhất là những nhóm đại diện cho lợi ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản (chiếm tới 72%): Lobby công nghiệp quốc phòng, Lobby dầu khí, Lobby phục vụ nước ngoài. Chỉ có 8% đại diện cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện cho các nhóm bảo vệ dân quyền, phúc lợi xã hội, 2% đại diện cho người nghèo và 1% đại diện cho những nhóm yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật. Như vậy, số người hành nghề vận động hành lang đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh và doanh nghiệp chiếm số lượng áp đảo. Các nhóm lobby này có một sức mạnh đáng kể trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật ở Mỹ. Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo của các nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại các quận hay bang của mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số lượng đáng kể cử tri về một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu cầu vị này phải bỏ phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri mới là nhân tố chi phối kết quả bỏ phiếu cuối cùng. Khi các nhóm lợi ích cùng kết thành một hiệp hội, có sự liên kết hơn, họ sẽ hình thành một tổ chức vận động hành lang có tính chất chuyên nghiệp. Với các chuyên gia chuyên vận động hành lang dựa vào mối quan hệ tương hỗ giữa các nghị sĩ, tiếng nói của họ sẽ được chú ý hơn trước Quốc hội, khiến cho Quốc hội khó có thể bỏ qua ý kiến của các liên minh trước những vấn đề chính sách lớn. Hoặc có trường hợp các nghị sĩ phe thiểu số khi cần có tiếng nói ủng hộ thì tiếng nói của liên minh là bằng chứng cho sự ủng hộ rộng rãi đối với quan điểm, chính sách đó.

Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị – pháp lý – xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Ví dụ như, do đặc thù của việc bầu cử rất tốn kém, nên hệ thống chính trị cần nhiều tiền để thực hiện các hoạt động. Vì thế, khi các công đoàn, công ty và tổ chức đóng góp tiền bạc cho các đảng và các nhà chính trị thì đồng thời họ đóng luôn vai trò quan trọng trong việc định đoạt chương trình chính trị nhà nước. Mỹ có một hệ thống chính trị và pháp luật rất phức tạp và trong đó vận động hành lang là hoạt động liên quan trực tiếp đến cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống pháp luật, nên chính bản thân nó cũng hết sức phức tạp.

Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ đồng thời còn là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Thêm nữa, đây là một cơ chế quan trọng thể hiện được tính dân chủ rất lớn mà qua đó các công dân Mỹ có thể phản ánh trực tiếp những ý tưởng, nguyện vọng, nhu cầu và quan điểm của mình tới các vị quan chức được bầu. Lobby không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang đậm tính chất xã hội, nhưng về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Bản chất của “vận động hành lang nhìn chung không phải là xấu …” (9), tuy nhiên, với muôn màu muôn vẻ của các kiểu vận động mà không có sự kiểm soát chặt chẽ, nó cũng không tránh khỏi việc bị lạm dụng, gây nhiều tệ nạn và tai tiếng.

4. Một số liên hệ tới Việt Nam

Các nhóm lợi ích và “vận động hành lang” còn chưa phổ biến ở Việt Nam, và đôi khi những khái niệm này còn được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Dù nền tảng Hiến pháp đã ghi nhận quyền tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước, đặc biệt là quyền yêu cầu người đại biểu nhân dân lắng nghe, truyền đạt ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với chính sách, pháp luật, nhưng việc thực hiện còn khá khiêm tốn và hạn chế. Cũng có khi các hiệp hội, tổ chức, cá nhân gặp gỡ người có thẩm quyền đề nghị xem xét lại chính sách, qui định… nhưng đây không phải là hoạt động lobby đúng nghĩa mà là sự “chạy chọt”. Cơ sở của lobby là quyền lợi mâu thuẫn nhau, đặt trên nền tảng đa nguyên. Mục đích lobby là vì lợi ích kinh tế. Và để thực hiện nó phải bằng tiền. ở Việt Nam, lợi ích là thống nhất nên việc lobby trong lập pháp thực chất không tồn tại. Tuy nhiên, lobby là một vấn đề mới và cần phải nghiên cứu để xây dựng một hành lang pháp lý cho hoạt động này ở nước ta (10).

Có một thực tế là sau những lần thua liên tiếp trong các vụ kiện bán phá giá tôm, cá basa hay hạn ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần dần, Việt Nam cũng thấy rõ một điều rất vô lý, khi phía Việt Nam thậm chí còn chưa kịp đưa ra các bằng chứng chống kiện, thì Quốc hội Mỹ đã thông qua dự thảo đánh thuế hàng hoá của Việt Nam. Lý do rất đơn giản: các tổ chức tại Việt Nam lúc này chưa hề nắm rõ thị trường Mỹ và cũng đã không có một ý tưởng nào về việc thuê các nhà vận động hành lang (Lobbyist) trong vụ kiện (chi phí thuê Lobby cho dù là có khá lớn, nhưng thực chất không ăn thua gì so với thiệt hại khoảng 20 triệu USD từ việc Mỹ nâng mức thuế chống bán phá giá đánh vào sản phẩm cá tra, basa đông lạnh). Trong khi đó, những tổ chức như Liên minh Tôm miền Nam (SSA) và Hiệp hội Tôm bang Lousiana (LSA), ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine, họ còn sử dụng hàng loạt các công ty chuyên hành nghề lobby nổi tiếng tại đây như Livingston, Jones Walker, Waechter, Poitevent&Denegre… để vận động các quan chức hai viện Mỹ ủng hộ họ trong vụ kiện bán phá giá Việt Nam.

Theo tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, “ở khu vực Đông Nam á, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campuchia, Hongkong, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Philippines đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD cho hoạt động lobby ở Mỹ (11). Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là được hưởng quy chế “tối huệ quốc” trong vấn đề về thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ hay để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế… Bên cạnh những hoạt động lobby của Chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần Chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty này ở Mỹ.

Chính vì lợi ích do lobby mang lại là cực kỳ to lớn nên hiện nay, ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động lobby và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính lobby để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa… Tuy nhiên, cũng có những lobby đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cuba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam…

Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến nayT, hoạt động vận động hành lang đã được các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận, còn các Chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ. Do đó, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ, thì phải biết lobby. Không có phương tiện lobby thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, và cũng sẽ không có khả năng trở tay khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Lobby ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không tính đến, cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn. Bên cạnh đó, cần hiểu rõ ý nghĩa của lobby là luôn gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ để có thể đưa ra những chính sách phù hợp để áp dụng trong quan hệ thương mại song phương, nhất là qua các vụ tranh chấp thương mại quốc tế. Ra đời và tồn tại trong hơn 200 năm qua, hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ. Hoạt động này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền chính trị Mỹ đến mức, không ít nghị sỹ Hoa Kỳ đã từng phát biểu rằng, thật khó tưởng tượng được sự vắng mặt của các chuyên gia lobby đối với hoạt động của Quốc hội Hoa Kỳ.

Có thể nhận thấy, vận động hành lang là một hoạt động có hai mặt: một mặt, nó là phương thức có hiệu quả rất lớn để tác động đến hoạt động của Quốc hội, cũng như nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của đại biểu Quốc hội và cũng là một hình thức để giới lập pháp nhận được các thông tin và yêu cầu của một bộ phận trong xã hội. Nhưng, mặt trái của nó là dễ bị các bộ phận khác nhau lợi dụng, tác động trực tiếp vào quá trình lập pháp, uốn hoạt động lập pháp theo hướng có lợi nhất cho quyền lợi cục bộ của mình. Theo khía cạnh đó, vận động hành lang thường được đánh giá là một hiện tượng mờ ám mang tính mua chuộc, không minh bạch. Trong hoạt động vận động hành lang, các nghị sĩ cũng có thể bị các nhóm lợi ích mua chuộc. Khắc phục điểm yếu này, pháp luật phải có các quy định về tính minh bạch, công bằng của hoạt động lobby. Và quan trọng hơn là trách nhiệm của các nghị sĩ, một nghị sĩ chân chính cần cảm nhận được sức ép từ các cuộc vận động kiểu này để xác định và giữ vững lập trường của mình.

Vận động hành lang sẽ không dẫn đến việc lệch lạc của công tác lập pháp, nếu nó được sử dụng đúng đắn – tức là như một kênh để nắm bắt các nguyện vọng và đòi hỏi của một bộ phận dân cư. Nếu được tổ chức tốt, việc vận động cho sự ra đời hoặc vận động để ngăn cản sự ra đời của luật có thể lại là một yếu tố để phát huy phản biện xã hội, nâng cao tính dân chủ trong xã hội.

Chú thích:

(1) Lobby trong nền chính trị Mỹ: Chìa khóa để thành công, http://www.vietnamnet.vn/thegioi/vn_tg/2006/05/571485/

(2) Nguyễn Tuấn Minh, (2004), “Hệ thống chính trị Mỹ và vận động hành lang”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 11), tr. 43-49.

(3) Làm ăn với Mỹ phải biết lobby, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/story/2006/10/061012_transichuong_lobby.shtml.

(4) Lobby United States of America, http://espromote.com/forums/showthread.php?p=537.

(5) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ChannelID=20. 

 

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/van-111ong-hanh-lang-trong-nen-chinh-tri-my-va-mot-so-lien-he-toi-viet-nam

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: