Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU, NGHĨ VỀ VAI TRÒ QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC

PGS. TS. ĐINH TRỌNG THỊNH – Học viện Tài chính

Trước những diễn biến khôn lường của cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu, các nhà nước trên thế giới đã có thêm nhiều biện pháp mới để đối phó. Hiện trạng này đã cung cấp thêm nhiều cách nhìn về vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế thị trường. Một điều chắc chắn là, sau cuộc khủng hoảng này, vai trò của nhà nước với quản lý và điều hành nền kinh tế sẽ có nhiều thay đổi ở các quốc gia trên thế giới…

Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chuyển sang nền kinh tế thị trường. Các nhà kinh tế học theo trường phái tân tự do và thậm chí cả các nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển đều cho rằng, nền kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế duy nhất đúng, và những nền kinh tế tư bản phát triển với sự can thiệp tối thiểu của nhà nước như Mỹ, Anh… là hình mẫu phát triển của các quốc gia trên thế giới. Các nhà kinh tế của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực đã khuyến khích các quốc gia – nhất là các quốc gia ở Đông Âu và các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường – thực hiện quá trình tư hữu hoá, cổ phần hoá, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Đặc biệt, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế bị lu mờ. Hơn thế, nhiều nhà kinh tế cho rằng, sự can thiệp của nhà nước sẽ bóp méo tín hiệu thị trường, cản trở các hoạt động, tạo ra sự phân bổ nguồn lực bất hợp lý, thậm chí làm thui chột động lực phát triển của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát ở Mỹ từ cuối năm 2007, đầu năm 2008 và nhanh chóng trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào cuối năm 2008 đang buộc các nhà kinh tế xem xét lại vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế thị trường hiện đại.

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thực hiện nhiều vai trò khác nhau. Có những vai trò mang tính tự thân, vốn có từ bản chất, yêu cầu của nhà nước; có những vai trò chỉ xuất hiện trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nào đó trong quá trình phát triển của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chưa đi tới hồi kết và còn nhiều diễn biến phức tạp, nhưng có thể bước đầu nhìn nhận sự thay đổi về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường trên một số nét cơ bản sau đây:

1, Nhà nước có vai trò cực kỳ to lớn trong việc hình thành môi trường pháp lý cho các hoạt động kinh tế thị trường.

Hệ thống pháp luật kinh tế của nhà nước và các quyết định của các chính phủ đã hình thành và quy định các nguyên tắc cơ bản và sự ràng buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân cũng như các thành phần tham gia vào các hoạt động kinh tế và các thị trường của nền kinh tế thị trường. Các quyết định này là sự vận dụng một cách khách quan các quy luật thị trường vào nền kinh tế, bảo đảm tính bình đẳng, tính cạnh tranh lành mạnh, công bằng của các chủ thể tham gia vào hoạt động và bảo đảm những an toàn tối thiểu cho các hoạt động kinh tế. Chính vì lẽ đó, các quyết định này cần được đưa ra một cách khách quan, vì lợi ích chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhà nước thường là đại diện của một hoặc một số nhóm quyền lực trong xã hội. Và đặc biệt, khi nền kinh tế đang trong quá trình phát triển tốt đẹp, mọi hoạt động trong nền kinh tế đều khá trôi chảy thì nhiều nhà nước đã lãng quên các quy luật kinh tế khách quan hoặc đã bị các nhóm lợi ích bóp méo, thậm chí làm sai lệch các quyết định của nhà nước đối với nền kinh tế. Khủng hoảng tài chính Mỹ vào năm 2008 vừa qua là một ví dụ tiêu biểu.

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nước Mỹ trở thành siêu cường độc tôn trên thế giới. Tiếp ngay sau đó là giai đoạn gần 10 năm nền kinh tế Mỹ phát triển một cách liên tục với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô “đẹp hơn mơ ước”. Trước áp lực của các tài phiệt tài chính và hơn 200 triệu USD trong năm 1998 để “vận động hành lang” Quốc hội và chính quyền của Hiệp hội Ngân hàng Mỹ, năm 1999, cựu Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn đã ký đạo luật cho phép các ngân hàng thương mại Mỹ được tham gia vào các hoạt động đầu tư, một việc từ trước đến nay vẫn bị nghiêm cấm. Cùng với đó là việc nới lỏng quản lý trong lĩnh vực ngân hàng bằng việc cho phép các ngân hàng bán công cho vay với các khoản thế chấp dưới chuẩn để các tầng lớp dân cư mua nhà ở, và cho phép phát hành các loại chứng khoán có thế chấp bằng tài sản (Morgage Back Securities- MBS), được bảo đảm bằng các tài sản thế chấp này ra thị trường.

Việc cho vay dưới chuẩn được thực hiện ồ ạt, mạnh mẽ do Cục dự trữ Liên bang Mỹ liên tục hạ thấp lãi suất từ năm 2001 và các ngân hàng thương mại cũng phải cạnh tranh hạ lãi suất, tích cực tìm người để cho vay. Chính việc vay tiền dễ dàng đã tạo nhu cầu mua nhà tăng lên nhanh chóng và giá cả các căn hộ, các biệt thự, các toà nhà tại Mỹ liên tục tăng cao trong suốt thời gian từ năm 2001 đến năm 2006, tạo ra “bong bóng” bất động sản. Các trái phiếu MBS được các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm quốc tế đánh giá cao và các nhà đầu tư trên thế giới tranh đua nắm giữ. Chính việc cho vay dễ dàng của hệ thống ngân hàng đã góp phần thúc đẩy “cầu” về nhà ở trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ luôn tăng với tốc độ cao. Và giá nhà đất, bất động sản luôn tăng cao, một mặt vừa làm yên lòng người vay tiền mua nhà; mặt khác, làm cho các ngân hàng luôn an tâm với số tài sản thế chấp “dưới chuẩn” này. Và từ năm 2000, các ngân hàng thương mại Mỹ, đặc biệt là 2 tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu Citi Group và Bank of America đã tích cực tham gia đầu tư rủi ro, tài trợ các loại chứng khoán, kể cả các loại chứng khoán MBS. Bằng cách này, “bong bóng” bất động sản đã không chỉ phình to mà còn được “xuất khẩu” ra thị trường tài chính quốc tế, bởi có đến 70% – 80% số chứng khoán này được các ngân hàng nước ngoài nắm giữ. Đó chính là nguyên nhân ban đầu và là gốc rễ của cuộc khủng hoảng tài chính trong hệ thống ngân hàng Mỹ và cơ chế chuyển hoá cuộc khủng hoảng này ra nền kinh tế thế giới.

2, Chính quyền là người cung cấp các hàng hoá công cộng cho các lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế thị trường.

Một trong các hàng hoá công cộng quan trọng trên thị trường tài chính là, thực hiện các dịch vụ về đánh giá các tín hiệu bất ổn, đưa ra các cảnh báo và thậm chí thực hiện các biện pháp cần thiết để tránh các cuộc khủng hoảng. Lý do đầu tiên, bởi thị trường tài chính là nơi huy động và sử dụng các nguồn vốn của nền kinh tế. Đây là bộ phận rất nhạy cảm và liên quan sâu sắc tới hoạt động của mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, những chấn động nhỏ trên thị trường tài chính sẽ có tác động tức thì và to lớn đến nền kinh tế. Hơn nữa, thị trường tài chính hiện đại có quá nhiều công cụ tinh vi, phức tạp để huy động và mua bán vốn, nên cần có những tổ chức của nhà nước đứng trên những lợi ích nhóm, vì những lợi ích chung của xã hội để giám sát và cảnh báo các nguy cơ có thể gây bất ổn tới thị trường tài chính và nền kinh tế. Điều quan trọng nữa là, nhà nước đã đưa ra cơ chế hoạt động cho các thị trường, đặt ra “luật chơi” của thị trường thì nhà nước phải là người giám sát việc thực hiện “luật chơi”, phải là người trọng tài công minh, chính trực giám sát sự công khai, minh bạch của các chủ thể tham gia thị trường.

Trên thực tế, một thời gian dài vừa qua, hệ thống giám sát, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá tín hiệu thị trường, cảnh báo rủi ro của Chính phủ Mỹ hầu như bị tê liệt trước tác động của các nhóm lợi ích đặc quyền nên không hề có một sự cảnh báo nào. Chỉ đến khi tình hình đã quá rõ ràng, khủng hoảng của hệ thống ngân hàng bùng phát thì Chính phủ của Tổng thống G. Bu-sơ mới lúng túng và chậm chạp đưa ra các biện pháp giải cứu. Điều này không chỉ làm xói mòn lòng tin của dân chúng và các nhà đầu tư vào sự điều hành của Chính phủ, mà tệ hại hơn, làm xói mòn cả lòng tin vào hệ thống tài chính – ngân hàng và thị trường chứng khoán. Chính điều này đã khiến các nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường, làm thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm tới 40%- 50% trong vài tháng cuối năm 2008. Và cơn tháo chạy này kéo theo sự hoảng loạn, sụt giá của thị trường chứng khoán ở hầu hết các nước phát triển và những nước đang phát triển có quan hệ kinh tế – tài chính chặt chẽ với Mỹ. Từ thị trường chứng khoán, nhà đất, cuộc khủng hoảng nhanh chóng trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính ở phạm vi toàn cầu.

3, Hành động theo một phương thức chặt chẽ và biết hướng người dân và các nguồn lực của đất nước, vào một mục đích chung của quốc gia.

Chính phủ cần có biện pháp kiểm soát các ngành tập trung nhiều vốn nhất, nhạy cảm nhất trong nền kinh tế, kịp thời có các biện pháp thích hợp để đối phó với tình hình. Trong thời gian qua, thị trường tài chính – tiền tệ Mỹ nói riêng và thế giới nói chung đã có sự mất cân đối lớn giữa giá trị thậtgiá trị danh nghĩa của các chứng khoán. Các thị trường phái sinh đã phát triển thành một nền kinh tế ảo về nhiều mặt, làm thiên lệch mọi xu hướng phát triển tự nhiên và cách xa giá trị của nền kinh tế thật. Các số liệu năm 2008 cho thấy, tổng giá trị vốn danh nghĩa trên thị trường tài chính phái sinh Mỹ ước khoảng gần 100 nghìn tỉ USD, nghĩa là lớn gấp khoảng 7 lần GDP của nước này. Tuy nhiên, chính quyền hầu như vẫn coi đây là công việc bình thường của Phố Uôn (Wall), không hề có bất kỳ động thái nào nhằm tháo ngòi cho “bong bóng” chứng khoán này. Hơn thế, từ giữa năm 2006, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã thực hiện nâng dần lãi suất từ 1% lên 5,25% để nâng giá trị đồng đô-la, kìm chế lạm phát, những người mua nhà thế chấp có nguy cơ không trả được nợ, thậm chí phải bán nhà (hoặc bị tịch thu tài sản thế chấp); các công ty xây dựng xây nhà xong cũng không bán được, phải giảm xây dựng, đã làm cho thị trường bất động sản rơi vào khủng hoảng.

Hậu quả là, các tài sản làm bảo đảm cho các hợp đồng vay theo hình thức tín dụng thế chấp dưới chuẩn bị mất giá mạnh. Các tổ chức tài chính, ngân hàng cho vay dưới chuẩn để cư dân mua nhà như Fannie Mae, Freddie Mac, Bear Stern… rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản. Việc này đã kéo theo rất nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính có tên tuổi như Lehman Brothers, Meryll Lynch, Washington Mutual, Morgan Stanley, AIG… cũng lâm vào tình trạng khó khăn, không còn khả năng thanh khoản và đứng bên bờ vực phá sản. Nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, sự chậm trễ của chính quyền cựu Tổng thống G. Bu-sơ trong việc can thiệp và sự chờ đợi can thiệp của sức mạnh thị trường đã thúc đẩy cơn hoảng loạn của các nhà đầu tư và hứng chịu hiệu ứng đô-mi-nô trên thị trường tài chính.

4, Cần sử dụng các quyền lực tài chính – tiền tệ để giải quyết các mất cân đối trong nền kinh tế, bảo đảm các cân đối vĩ mô trong nền kinh tế.

Trên thực tế, nhà nước là người nắm giữ một quyền lực tài chính lớn của xã hội. Nhà nước có thể thông qua chính phủ để chỉ đạo các ngành kinh tế bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm kích thích sự phát triển của ngành này hay ngành khác trong nền kinh tế. Và trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhà nước có thể sử dụng cả những biện pháp can thiệp trực tiếp, hoặc mang tính chất hành chính để lập lại trật tự cần thiết của thị trường. Các gói giải cứu tài chính 700 tỉ USD hay hàng nghìn tỉ USD kích cầu của Chính phủ Mỹ, 586 tỉ USD kích cầu của Chính phủ Trung Quốc, hàng trăm tỉ USD kích cầu, mua lại cổ phần và các khoản nợ của các ngân hàng Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu… trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chính là sự can thiệp chưa hề có tiền lệ. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, duy nhất chỉ có Trung Quốc, một quốc gia còn có sự quản lý tương đối chặt chẽ của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là không phải hứng chịu cuộc khủng hoảng tín dụng và lòng tin trong cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 18 (186) NĂM 2009

Trích dẫn từ:

http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=18944100

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: