Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

THS. DƯƠNG THỊ BÌNH – Bộ Tư pháp

Công khai thông tin làm gia tăng mạnh mẽ niềm tin của người dân vào Chính phủ, còn che giấu sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt tạo ra sự ổn định chính trị, nên công khai thông tin cần phải được coi là một ưu tiên của Chính phủ. Nhà nước Việt Nam, trong thời gian tới sẽ ban hành Luật Tiếp cận thông tin, nhằm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân và thi hành tốt Luật này sẽ làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, phát huy trí tuệ, tính tích cực của nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và tăng cường dân chủ, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, vốn là điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững.

1. Quyền tiếp cận thông tin trong hệ thống pháp luật nước ta

Ở nước ta, để đảm bảo quyền được thông tin, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua Đại hội VII năm 1991. Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sau đó ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật”. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và quyền con người nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng có mối quan hệ tác động qua lại rất mật thiết. Quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời nội luật hoá một số quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành có quy định về quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ (các thông tin về môi trường, thông tin về quy hoạch, về xây dựng, về đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toàn thực phẩm, về chi tiêu ngân sách…), như Luật Báo chí năm 1989 (sửa đổi, bổ sung năm 1999), Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/07/2003 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002); Luật Xuất bản năm 2004; Luật Kiểm toán năm 2005; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005; Luật Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí năm 2005, Luật Nhà ở năm 2005… Việc quy định trách nhiệm công khai, minh bạch và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước trong các văn bản pháp luật được ban hành sau ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn so với các văn bản được ban hành trước.

Thông tin là nhu cầu thiết yếu trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, là công cụ để điều hành quản lý, lãnh đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia dân tộc, là nguồn cung cấp trí thức, cũng là nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội. Thông tin được coi là yếu tố quyết định cho cơ hội phát triển, thành đạt và tự chủ của mỗi quốc gia, tổ chức và mỗi con người. Quyền tiếp cận thông tin là một trong những hình thức, phương thức, phương tiện để nhân dân làm chủ đất nước, thật sự tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Nó có vai trò chính trị – xã hội quan trọng, vừa là quyền được hưởng, vừa là tiền đề để đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản bao gồm các quyền: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Chỉ khi tiếp cận thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước một cách công khai, trung thực thì người dân mới có thể tham gia vào quản lý xã hội và thực hiện quyền làm chủ thực sự của mình. Với bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước ta luôn mở rộng dân chủ, tổ chức tốt các điều kiện để nhân dân tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào quản lý xã hội theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Vấn đề “dân biết” là cơ sở đầu tiên để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, gắn liền với quyền được thông tin của công dân. Tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin không phải là quyền không giới hạn. Thực hiện quyền tiếp cận thông tin phải kèm theo nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, với một số hạn chế nhất định. Trong hầu hết các luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đều có những quy định về những thông tin, tài liệu mật liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, nghề nghiệp… không được công bố công khai hay không được tiếp cận.

Tiếp cận thông tin hiện đã trở thành một nhu cầu và một quyền cấp thiết cần phải bảo đảm không chỉ đối với các tổ chức và doanh nghiệp, mà còn đối với mọi công dân, bởi thông tin, đặc biệt là thông tin về pháp luật, chính sách và hoạt động của các cơ quan nhà nước được coi là yếu tố cốt yếu trong mọi hoạt động khi mà xã hội được quản lý và vận hành theo những nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền.

2. Thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở nước ta

2.1. Thực trạng tiếp cận thông tin trong một số lĩnh vực

a. Thực trạng tiếp cận thông tin hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật

Việc chủ động công khai, minh bạch các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật trong thời gian qua đã được thực thi khá tốt trên thực tế. Điều này cũng đã được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định đến quá trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có các quy định về việc phải công khai thông tin để người dân có cơ hội tham gia đóng góp ý kiến. Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo đã chủ động trong việc công khai dự thảo văn bản để người dân tham gia đóng góp ý kiến qua các cuộc hội thảo, toạ đàm, phiếu lấy ý kiến, đăng dự thảo trên trang thông tin điện tử của cơ quan… Bên cạnh đó, nhiều báo, tạp chí cũng đã đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng các diễn đàn để công dân tham gia đóng góp ý kiến. Quốc hội, Chính phủ đã mở chuyên mục, diễn đàn để công dân, tổ chức, doanh nghiệp đóng góp ý kiến trên trang thông tin điện tử của mình. Nhiều phiên họp của Quốc hội khi thảo luận về việc hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cũng đã được truyền hình trực tiếp đến với người dân.

b. Thực trạng tiếp cận thông tin trong việc giải quyết yêu cầu của người dân

Trong giải quyết công việc của công dân, cơ chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đã tạo thuận lợi cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia giao dịch với cơ quan nhà nước. Các thông tin về thủ tục hành chính, thời gian giải quyết, phí, lệ phí trong một số lĩnh vực được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan hành chính. Nhiều cơ quan còn chủ động công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trang thông tin điện tử. Qua ba năm thực hiện, cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở địa phương đã giải quyết cơ bản những yêu cầu của nhân dân và doanh nghiệp trong các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, các quyết định về đầu tư, các lĩnh vực về đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, chính sách xã hội v.v.. Thời gian được rút ngắn, chất lượng giải quyết công việc được nâng lên, người dân chỉ cần đến một nơi, với thời gian nhất định, để được giải quyết công việc đúng nguyện vọng, không phải đi lại nhiều lần.

c. Thực trạng tiếp cận thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước

Các vấn đề, lĩnh vực thuộc phạm vi hoạt động của cơ quan công quyền, phải công khai, được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Pháp lệnh Dân chủ cơ sở năm 2007; Luật Kế toán năm 2003; Luật Kiểm toán năm 2005; Luật Nhà ở năm 2005; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005; Luật Thực hành tiết kiệm năm 2005; Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…

Theo Luật Tổ chức Quốc hội, Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực và Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày, kêt từ ngày thông qua (Điều 91).

Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân những vấn đề quan trọng thông qua những báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội, trả lời của Chính phủ đối với chất vấn của đại biểu Quốc hội và ý kiến phát biểu với các cơ quan thông tin đại chúng (Điều 20 Luật Tổ chức Chính phủ).

Điều 11 Luật Phòng§, chống tham nhũng quy định: Nguyên tắc và nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, theo đó: cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ.

Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí còn quy định, các cơ quan nhà nước thực hiện việc cung cấp thông tin cho báo chí thông qua người phát ngôn, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của cơ quan mình, về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình (Điều 2).

Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định công khai thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự án, công trình đầu tư, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã… bằng hình thức niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã, công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã, công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân (Điều 5, 6).

Nghĩa vụ công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước theo yêu cầu của công dân thường liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân gắn với những công việc cụ thể, nếu thiếu các thông tin từ cơ quan nhà nước, người dân có thể mất khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Mặc dù có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng việc thực hiện công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước theo yêu cầu của công dân đang có rất nhiều hạn chế, gây ra sự chậm trễ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Cụ thể là, mặc dù Luật Báo chí và Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của công dân, nhưng tình trạng cơ quan nhà nước không trả lời bằng văn bản hoặc từ chối cung cấp mà không có lý do chính đáng vẫn còn phổ biến và chưa có biện pháp xử lý. Tình trạng này dẫn đến trong nhiều vụ việc người dân và chính quyền không tìm được tiếng nói chung, người dân buộc phải khiếu kiện vượt cấp, thậm chí gây mất trật tự xã hội.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là đa số các quy định của pháp luật về công khaiN, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước theo yêu cầu của công dân mới chỉ dừng lại ở mức độ có tính chất nguyên tắc, thiếu cụ thể nên cơ quan nhà nước có thể trốn tránh nghĩa vụ của mình mà không bị xử lý.

d. Thực trạng tiếp cận thông tin trong lĩnh vực tư pháp

Đối với Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, chủ trương từng bước công khai các bản án, phán quyết của Toà án đã xây dựng nền tảng cho việc công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Tổ chức Toà án nhân dân xác định nguyên tắc: Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ (Điều 7).

Các quy định pháp luật về tố tụng và thi hành án như quy định về quy trình thụ lý và giải quyết các vụ án, quy định việc cung cấp thông tin cho các đương sự trong vụ kiện dân sự, quy định công khai, minh bạch trong quá trình tranh tụng, quy định cho phép luật sư được tiếp cận với vụ án cũng như sao chụp các tài liệu phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp… đã thể hiện nghĩa vụ công khai, minh bạch hoạt động tư pháp trong thời gian qua.

Hạn chế lớn nhất trong công khai, minh bạch hoạt động trong lĩnh vực tư pháp hiện nay là các cơ quan tư pháp chưa chủ động niêm yết, công bố công khai, rộng rãi thủ tục, trình tự trong hoạt động tư pháp nên người dân gặp khó khăn khi yêu cầu cơ quan tư pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

đ. Thực trạng tiếp cận thông tin thông qua báo chí

Điều 2 Luật Báo chí năm 1989 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí… Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trách nhiệm của báo chí là: đăng, phát sóng tác phẩm, ý kiến của công dân; trong trường hợp không đăng, phát sóng, phải trả lời và nói rõ lý do. Bên cạnh việc thông tin cho công chúng, các cơ quan báo chí còn đóng vai trò là cầu nối để đưa yêu cầu cung cấp thông tin của công chúng tới các cơ quan nhà nước và chuyển tiếp câu trả lời của các cơ quan nhà nước tới công chúng. Điều này thể hiện ở việc hầu hết các cơ quan báo chí đều có các chuyên mục như “Trả lời bạn đọc”, “Chính sách mới, quyết định mới”, “Văn bản pháp luật”, “Đường dây nóng”, “Trả lời thư bạn đọc”, “Trả lời bạn xem truyền hình”, “Trả lời bạn nghe đài”, “ý kiến bạn đọc”… nhằm mục đích này.

Ngoài các hình thức yêu cầu cung cấp thông tin một cách trực tiếp và thông qua báo chí như đã nêu, công chúng còn có thể đưa ra yêu cầu tiếp cận với thông tin của các cơ quan nhà nước qua một số kênh khác, ví dụ như thông qua các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, hoặc thông qua các cuộc họp dân (họp đại diện gia đình trong thôn, tổ dân phố, họp cử tri…) hay thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đây là những kênh gián tiếp nhưng đang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tìm kiếm thông tin ở nước ta, vì đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn còn chưa quen với việc gửi đơn trực tiếp yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

2.2. Một số hạn chế trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Tuy nhiên, thực tế thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân còn chưa đạt được như quy định của pháp luật. Trên thực tế, việc công bố, công khai thông tin còn chậm và hình thức, thiếu hiệu quả. Trong nhiều trường hợp, việc khai thác, tìm kiếm thông tin từ các cơ quan nhà nước thường bị gây phiền hà. Quyền làm chủ, quyền được thông tin của người dân có lúc, có nơi bị hạn chế, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng.

Ví dụ như trường hợp một người dân cần thông tin về quy hoạch để mua đất nhưng bị UBND quận từ chối và giải thích đó là thông tin nội bộ; trường hợp một nhà báo công bố thông tin trong một văn bản lên báo, sau đó bị kiện với lý do văn bản đó có đóng chữ “mật”, trong khi chưa có quy định đáng tin cậy nào cho việc đóng chữ “mật” đó. Một địa phương đóng chữ “mật” cả lên danh bạ đại biểu HĐND, trong khi những đại biểu đó là do dân bầu lên để đại diện cho mình…

Việc tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ vẫn còn khó khăn, dẫn tới tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan công quyền chưa được thực hiện, biểu hiện rõ nhất là trên lĩnh vực đất đai, đền bù giải tỏa, các dự án ưu đãi…Hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch trong cơ quan nhà nước vẫn còn phổ biến, dẫn đến khiếu kiện đông người kéo dài, khiếu kiện vượt cấp.

Việc công khai các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công việc làm ăn, sinh sống của doanh nghiệp, đến người dân không được đầy đủ, đồng bộ và không gắn liền với việc tuyên truyền rộng rãi, giải thích, giải đáp thắc mắc cụ thể để mọi người đều biết, đều hiểu được một cách cụ thể.

Một thực tế đáng phải suy nghĩ mà các doanh nghiệp Việt Nam đề cập đến nhiều lần, đó là thông tin đàm phán của Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO. Với nhiều nước, những yêu cầu, đòi hỏi của doanh nghiệp nhanh chóng chuyển thành yêu cầu của quốc gia đó trên bàn đàm phán, thì đối với Việt Nam, những cam kết mở cửa thị trường, những thông tin trong quá trình đàm phán khác của đang dường như là những thông tin không thể tiếp cận đối với doanh nghiệp.

Công khai mà không minh bạch là nhận định của nhiều doanh nghiệp, chuyên gia về cách thức lấy ý kiến văn bản pháp luật của nhiều cơ quan nhà nước hiện nay. Nhiều ý kiến đóng góp, phản hồi về văn bản, chính sách từ doanh nghiệp, hiệp hội đối với cơ quan nhà nước như rơi vào khoảng không thinh lặng. Không phản hồi, không giải trình, không lập luận, không phản biện tại sao không tiếp thu từ chính cơ quan lấy ý kiến. Đây thường là cách thức lấy ý kiến cho đủ thủ tục, tỏ ra cầu thị mà không đạt mục tiêu như mong muốn là văn bản pháp luật cần phản ánh được và cân nhắc đầy đủ các quan điểm khác nhau trong xã hội.

Việc cung cấp thông tin theo yêu cầu còn phức tạp, phiền hà, do trình tự, thủ tục chưa được luật hoặc văn bản của Chính phủ quy định, nên việc cung cấp thông tin theo yêu cầu cá nhân, tổ chức còn phổ biến tình trạng gây khó khăn, phiền hà.

Thường người dân rất khó để tiếp cận những thông tin cần thiết. Kém minh bạch luôn đi kèm với nhũng nhiễu. Các cơ quan nhà nước quản lý chuyên ngành, cơ quan chuyên về thống kê cũng chỉ có thói quen báo cáo theo yêu cầu của cấp trên. Thái độ không thiện chí trong cung cấp thông tin cũng phần nào xuất phát từ tình trạng thông tin gì cũng có thể dễ dàng quy là thông tin mật.

Những hiện tượng này cho thấy, Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyền tiếp cận thông tin của người dân, chưa quy định rạch ròi thông tin nào được phép cung cấp, thông tin nào không. Như vậy, chưa có khuôn khổ pháp lý để đẩy mạnh công khai, minh bạch, góp phần vào việc phát triển xã hội, chống tham nhũng. Thực tế cho thấy, việc công khai, cho phép được tiếp cận tất cả các thông tin về hoạch định chính sách pháp luật, về hoạt động của các cơ quan nhà nước, về chính sách thu hút đầu tư, quy hoạch, định hướng, kế hoạch phát triển kinh tế, các thống kê về tình hình kinh tế – xã hội của địa phương, các thủ tục hành chính cụ thể… là yêu cầu quan trọng. Để mọi người dân, tổ chức có thể tiếp cận những thông tin này cần phải có cơ chế bảo đảm việc thực hiện quyền được thông tin của người dân, quy định rõ cơ chế bảo đảm quyền yêu cầu tiếp cận thông tin của người dân cũng như việc bảo đảm thực hiện tốt việc công khai thông tin thuận tiện cho người cần sử dụng. Cung cấp được các thông tin cơ bản, tin cậy để mọi công dân, tổ chức, doanh nghiệp có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, sẽ khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước một cách chủ động, thực chất và hiệu quả hơn, các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh… Thông tin phản hồi từ phía người dân sẽ giúp các cơ quan nhà nước cân nhắc, lựa chọn và đưa ra những chính sách, quyết định đúng đắn hơn, phù hợp với lòng dân hơn, tăng hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước.

3. Một số kiến nghị

3.1. Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin

Từ thực trạng như đã nêu trên, để hoàn thiện chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền được thông tin của công dân, để người dân dễ dàng tiếp cận thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước và khắc phục sự thiếu cân đối về thông tin giữa các vùng, miền và các nhóm đối tượng, Nhà nước cần ban hành Luật Tiếp cận thông tin. Nội dung của Luật này không chỉ quy định rõ quyền tiếp cận thông tin, quyền được biết thông tin của người dân, trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong việc cung cấp thông tin, mà còn có nhiệm vụ bổ khuyết các văn bản pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin, đặc biệt là đối với thông tin không công bố rộng rãi mà sẽ phải được cung cấp theo yêu cầu của cá nhân công dân; đối với các lĩnh vực chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh riêng thì sẽ thực hiện theo các quy định của Luật. Khi xây dựng Luật Tiếp cận thông tin, cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, rà soát hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành trong tất cả các lĩnh vực có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công dân. Đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước /lĩnh vực hành chính công và cả trong lĩnh vực tư pháp; trên cơ sở đó, xác định mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật hiện hành với Luật Tiếp cận thông tin sẽ được xây dựng để từng bước sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành theo hướng bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước phù hợp với quy chuẩn chung quốc tế.

Thứ hai, cần xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật Tiếp cận thông tin. Dự thảo Luật nên quy định rõ về phạm vi thông tin được tiếp cận; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm tiếp cận thông tin; quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu tiếp cận thông tin; hình thức, trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin và cơ chế bảo đảm việc tiếp cận thông tin.

Ở bất kỳ quốc gia nào, việc công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng đều có giới hạn. Giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin của công dân xuất phát từ các yêu cầu bảo đảm an ninh, quốc phòng, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp… Chính vì vậy, để thực hiện tốt nghĩa vụ công khai, minh bạch, thì trước hết Nhà nước cần xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, quyền của người yêu cầu tiếp cận thông tin, cũng như hình thức, trình tự, thủ tục để thực hiện những quyền này, trên cơ sở giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin của công dân. Cụ thể là, Nhà nước phải rà soát và hệ thống lại để từ đó xác định rõ những thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh là những thông tin không thuộc phạm vi thông tin được phép tiếp cận theo quy định của Luật, nhằm hạn chế tối đa việc viện dẫn các lý do không chính đáng để từ chối việc cung cấp thông tin cho công dân, tổ chức.

3.2. Thực thi Luật Tiếp cận thông tin cùng các giải pháp đồng bộ khác

Một là, tăng cường sự chủ động công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Việc chủ động công khai hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, từ thực trạng như đã phân tích, các quy định pháp luật để bảo đảm quyền được thông tin của công dân cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi công khai và quy định rõ nghĩa vụ chủ động công khai của các cơ quan nhà nước. Cụ thể là:

– Thông tin phải công khai: cần xác định rõ những loại thông tin mà các cơ quan nhà nước bắt buộc phải công khai để người dân, tổ chức có thể dễ dàng tiếp cận cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quy định về công khai thông tin.

– Quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin: cần quy định rõ nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân, trình tự, thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin của công dân; cơ chế giải quyết khiếu nại liên quan đến giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin của công dân; cơ chế xử lý trách nhiệm đối với người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin và người có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong trường hợp không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

– Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức: Để quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực thi trong thực tiễn, đồng thời, để hạn chế việc các cơ quan, tổ chức quản lý thông tin lạm dụng quyền hạn của mình từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không kịp thời cho người dân, cần thiết phải có cơ chế theo dõi, đánh giá và giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin. Một trong những cơ chế giám sát có tính chất truyền thống là cơ chế giám sát trong nội bộ hệ thống hành chính thông qua việc giải quyết khiếu nại hành chính. Quy trình này được cho là ít tốn kém và nhanh chóng, nhưng thực tiễn ở phần lớn các quốc gia cho thấy, đây là một quy trình kém hiệu quả, vì các cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính thường có xu hướng ủng hộ các quyết định từ chối cung cấp thông tin của cơ quan cấp dưới. Xu hướng chung của các quốc gia thời gian gần đây là thành lập một Uỷ ban thông tin độc lập để chuyên trách thực hiện chức năng giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin. Quyết định của Uỷ ban này có tính chất cưỡng chế và các cơ quan hành chính phải tuân theo.

– Thiết lập trang thông tin điện tử công khai thông tin: Đây là một trong những phương thức hữu hiệu để người dân được chủ động và dễ dàng hơn trong việc tiếp cận thông tin mà không phải yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp. Việc tiếp cận thông tin của người dân có hiệu quả hay không tuỳ thuộc vào việc các cơ quan, tổ chức quản lý, nắm giữ thông tin có chủ động và tích cực đăng tải, phổ biến các loại thông tin này ngay cả khi không có yêu cầu của người dân. Các trang thông tin điện tử này là một kênh quan trọng trong việc đăng tải thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức.

– Cán bộ phụ trách thông tin: Để ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước trong việc công khai thông tin theo yêu cầu của công dân, cần quy định rõ đầu mối chịu trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước để giúp người dân có thể dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin.

– Thiết lập hệ cơ sở dữ liệu thông tin trong cơ quan: Các cơ quan cần tổ chức tốt việc cập nhật các thông tin do mình đang quản lý, công bố thông tin, lưu giữ thông tin sao cho việc tìm kiếm thông tin dễ dàng; bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất khác nhằm mục đích tạo thuận lợi cao nhất cho việc tiếp cận thông tin.

Hai là, xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp.

Hệ thống các thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp hiện nay rất phức tạp, trên mỗi lĩnh vực cụ thể lại có quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết cũng như phí, lệ phí khác nhau. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp không chỉ giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận khi giao dịch với các cơ quan nhà nước mà còn giúp các cơ quan nhà nước áp dụng thống nhất pháp luật.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/thuc-trang-quyen-tiep-can-thong-tin-o-viet-nam

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: