TÌM HIỂU ĐIỀU 418 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – TANDTPHCM

Chương XXXVI Bộ Luật tố tụng dân sự quy định về tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự – Điều 418. Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận

“1.Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

2.Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài phải được gửi cho Tòa án Việt Nam kèm theo bản dịch ra tiếng Việt đã được công chứng chứng thực hợp pháp.”

Điều luật đã quy định rõ: “Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận..”, như vậy chỉ có các loại giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận muốn được Tòa án Việt nam công nhận thì các loại giấy tờ tài liệu đó phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Các loại giấy tờ, tài liệu do cá nhân (là người nước ngoài hoặc người ViệtNam ở nước ngoài lập) thì không cần hợp pháp hóa lãnh sự.

Ví dụ:

1. Một người mang quốc tịch Cannada kết hôn với một người Việt Namtheo quy định của pháp luật Việt Nam. Chung sống được một thời gian thì người mang quốc tịch Cannada có đơn khởi kiện ra Tòa án Việt Nam để xin ly hôn với người mang quốc tịch Việt nam (đơn khởi kiện được thực hiện bằng tiếng ViệtNam). Đơn khởi kiện do chính người có quốc tịch nước ngoài mang đến Tòa án để nộp, Tòa án đã kiểm tra đối chiếu giấy tờ tùy thân như passport và visa nhập cảnh của họ để xác định đúng là người đứng đơn khởi kiện thì Tòa án nhận đơn, đơn của họ không cần phải hợp pháp hóa lãnh sự vì trong đơn không có cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hay xác nhận gì.

2. Cũng trong ví dụ trên, nếu người mang quốc tịch Cananda gửi đơn khởi kiện từ Cannada về Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam, đơn của họ có xác nhận chữ ký thì đơn này phải được hợp pháp hóa lãnh sự về cơ quan và người đã xác nhận chữ ký của người khởi kiện.

Về trường hợp: “trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác”, nội dung này quy định đối với những điều ước cụ thể có quy định về những loại giấy tờ, tài liệu được xem là hợp lệ khi không có hợp pháp hóa lãnh sự.

Ví dụ: Công ước về việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài.

“Điều 4: Để đạt được việc công nhận và thi hành một quyết định trọng tài như nói ở điều trên, bên yêu cầu công nhận và thi hành, khi nộp đơn yêu cầu phải cung cấp:

a. Bản quyết định gốc có xác nhận hợp lệ hoặc một bản sao quyết định có chứng nhận hợp lệ;

b. Thỏa thuận gốc theo điều II hoặc bản sao thỏa thuận đó được chứng nhận hợp lệ,

Nếu quyết định hoặc thỏa thuận nói trên không được lập bằng thứ tiếng chính thức của nước nơi quyết định sẽ được thi hành, bên yêu cầu công nhận và thi hành quyết định phải xuất trình bản dịch các tài liệu đó ra thứ tiếng nói trên. Bản dịch phải được chứng nhận bởi một thông dịch viên chính thức hay đã tuyên thệ hoặc bởi một cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự.”

Trong trường hợp này, quyết định của trọng tài nước ngoài chỉ cần xác nhận hợp lệ mà không cần phải hợp pháp hóa lãnh sự khi nộp đơn yêu cầu.

Trong thực tế, có Tòa án đã hiểu sai về việc hợp pháp hóa lãnh sự nên đã yêu cầu người khởi kiện trong ví dụ 1 phải hợp pháp hóa lãnh sự đơn khởi kiện của họ; cá biệt khi Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án trong ví dụ 1, vụ án có kháng cáo, cấp phúc thẩm khi xử phúc thẩm đã hủy bản án của cấp sơ thẩm, các lý do để hủy án có lý do đơn của người khởi kiện không được hợp pháp hóa lãnh sự.

Ví dụ: ông Yu Baikun quốc tịch Trung Quốc, tạm trú tại 323/1 Nguyễn Trãi, phường 7, quận 5, tp Hồ Chí Minh có đơn khởi kiện Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, trú tại: 20 khu C đường Trường Sơn, phường 15, quận Tân phú, tp Hồ Chí Minh tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. ông Yu BaiKun có vợ là bà Hoàng Lệ Anh, trú tại: 323/1 Nguyễn Trãi, phường 7, quận 5, tp Hồ Chí Minh. Vì sinh sống cùng vợ ở Việt Nam nên ông Yu BaiKun đã trực tiếp mang đơn đến nộp tại Tòa án và sau đó ủy quyền tham gia tố tụng cho người đại diện là ông Bùi Văn Tư, người đại diện cùng địa chỉ tạm trú với nguyên đơn.

Cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Yu Baikun và bà Hoàng Lệ Anh. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo bản án. Cấp phúc thẩm giải quyết kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận xét: “ Nguyên đơn ông Yu Baikun là người quốc tịch Trung quốc, ông làm đơn khởi kiện ngày 02/08/2007 đòi bà Nguyễn Thị Thúy Hằng tiền nợ 2 tỷ 200 triệu đồng cùng lãi xuất. Nhưng đơn khởi kiện của ông Yu Baikun chưa được hợp pháp lãnh sự là vi phạm điều 418 Bộ luật tố tụng dân sự”.

Trong ví dụ trên ta thấy, đơn khởi kiện của ông Yu Baikun là của cá nhân ông Yu Baikun thực hiện, đây không phải là loại “giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam” theo quy định tại Điều 418 Bộ luật dân sự nên không cần phải hợp pháp hóa lãnh sự như nhận xét của cấp phúc thẩm.

Nếu áp dụng như nhận xét của cấp phúc thẩm đối với các vụ khác sẽ không đúng và gây khó khăn cho đương sự khi tiếp cận Tòa án trong việc nộp đơn khởi kiện. Vấn đề này Tòa án nhân dân tối cao cần thống nhất nhận thức trong toàn ngành để thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận đơn và giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TANND TPHCM

Trích dẫn từ: http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/DetailNews.asp?ID=1381

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: