Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

ĐIỀU TRẦN TẠI ỦY BAN: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ĐỨC LAM

I- MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, trên đường chuẩn bị tiến tới chuyên nghiệp, Quốc hội đã có những bước đổi mới, trong đó có đổi mới trong quy trình lập pháp. Nằm trong tiến trình chung đó, một số giải pháp đã được thực hiện nhằm nâng cao vai trò của các uỷ ban trong hoạt động của Quốc hội nói chung và trong quy trình lập pháp nói riêng. Chẳng hạn như mới đây Uỷ ban Pháp luật cũ đã được tách thành Uỷ ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp. Tuy nhiên, nói chung dấu ấn của hệ thống uỷ ban vẫn còn chưa đậm nét. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng vị thế, vai trò của các uỷ ban của Quốc hội trong quy trình lập pháp hiện nay?

Bài viết này thử nhìn ra ngoài một chút, cụ thể là tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức phiên điều trần của uỷ ban một số nghị viện trên thế giới trong quy trình lập pháp, những ích lợi mà hình thức này mang lại đối với hoạt động làm luật của nghị viện. Từ đó, đối chiếu với giai đoạn thẩm tra trong quy trình lập pháp ở nước ta để nghiên cứu khả năng áp dụng thủ tục điều trần trong hoạt động thẩm tra của các Uỷ ban của Quốc hội nước ta. Bài viết này sẽ chứng minh rằng, mặc dù gặp phải một vài khó khăn, nhưng có thể ứng dụng những khía cạnh hợp lý của hình thức điều trần vào giai đoạn uỷ ban trong quy trình lập pháp Việt Nam.

II – Giới thiệu chung về điều trần

1. Định nghĩa, tầm quan trọng của điều trần

Điều trần là phiên họp của UB nghị viện một số nước như Mỹ, Canada, Úc, Braxin, Thuỵ Điển, Na Uy, Philipinnes[1], thường là mở công khai, để thu thập thông tin và ý kiến về một dự luật nào đó, hoặc để tiến hành điều tra về một vấn đề thời sự nào đó, hoặc để giám sát, đánh giá hoạt động của chính phủ hoặc việc thực thi pháp luật. Trong một số trường hợp, điều trần hoàn toàn mang tính chất giải thích, cung cấp những chứng cứ hoặc số liệu về một vấn đề đang diễn ra. Có bốn loại điều trần: điều trần lập pháp, điều trần giám sát, điều trần điều tra, và điều trần thông báo[2]. Trong số này, điều trần lập pháp là phổ biến nhất, và thậm chí nhiều khi các dạng điều trần khác cũng phục vụ cho hoạt động lập pháp. Mục đích của bài viết này cũng chính là bàn về dạng điều trần lập pháp này.

Điều trần là một khâu không thể thiếu trong quy trình lập pháp ở Mỹ và một số nước khác. Trong những năm gần đây, rất hiếm khi các UB của QH Mỹ trình báo cáo ra phiên họp toàn thể về các dự luật quan trọng mà không tổ chức các phiên điều trần về dự lụât đó. Thậm chí, nếu một dự luật không được xếp vào lịch điều trần thì coi như dự luật đó đã “chết”[3]. Hoặc nếu một dự luật được đưa ra Quốc hội Mỹ mà không qua bước điều trần sẽ trở thành mục tiêu công kích kịch liệt.[4] Có tác giả ví điều trần như một “phiên toà lập pháp” đối với dự luật, có tiếng nói quyết định đối với số phận của dự luật[5]. Bởi lẽ, tại phiên điều trần, các nghị sỹ không quyết định về dự luật, nhưng họ tiếp nhận thông tin, lý lẽ, luận chứng, sự việc ủng hộ hay phản đối dự luật để có cơ sở sau đó quyết định có để dự luật được đưa ra toàn thể nghị viện hay không.[6]

2- Thành phần tham dự

Đại diện cho mọi lợi ích trong xã hội có thể được mời tham dự những cuộc điều trần: ví dụ, ở Mỹ đó là những người vận động hành lang, các chuyên gia, người của Lầu Năm Góc, người của Phố Wall, nhà buôn, nhà nông, luật sư, thẩm phán (Xem hộp 1). Tất cả đều muốn lên tiếng tại “cơ quan lập pháp nhỏ” này, nơi mà những báo cáo UB có thể có tiếng nói quyết định lên tiến trình biểu quyết ở phiên họp toàn thể. Tại đây Quốc hội có thể tiếp xúc công chúng, cơ quan lập pháp gặp công dân để đáp ứng những đòi hỏi của một xã hội luôn thay đổi.[7] Để bảo vệ và khuyến khích các nhân chứng được mời đến phiên điều trần, pháp luật các nước có cơ chế này đã quy định cho họ những đặc quyền như đặc quyền của nghị sỹ. Ví dụ, ở Úc các nhân chứng có thể thoải mái cung cấp chứng cứ cho phiên điều trần mà không sợ bị kiện về tội vu khống; không được sử dụng thông tin mà họ cung cấp cho uỷ ban điều trần để chống lại họ trong kiện tụng sau này nếu xảy ra kiện tụng; đặc quyền của nhân chứng cũng bảo vệ họ trước mọi sự hăm dọa hay ý đồ khác nhằm ngăn cản việc cung cấp chứng cứ[8].

Hộp 1: Phiên điều trần về trao quy chế PNTR cho Việt Nam

Vào năm 2006, Uỷ ban Tài chính Thượng viện Mỹ đã tổ chức các phiên điều trần về việc trao quy chế PNTR cho Việt Nam. Được mời tham dự và trình bày tại một trong những phiên điều trần đó có: Phó Đại diện Thương mại Mỹ Karan Bhatia; Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách khu vực Đông Á-Thái Bình Dương Eric John; 3 nhân chứng đến từ Hiệp hội các nhà sản xuất Thịt heo quốc gia (NPPC), Hiệp hội làm vườn khu vực tây bắc Mỹ và tập đoàn Citigroup; Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ-Việt Virginia Foote.

Về sự tham gia của nghị sỹ, chẳng hạn hàng tháng các UB Hạ viện Mỹ có hơn 500 phiên họp, hơn nữa một nghị sỹ có thể tham gia nhiều uỷ ban. Vì vậy hiếm khi các phiên điều trần có đầy đủ thành viên UB. Tác giả cuốn “Quốc hội Mỹ ngày nay” mô tả sự tham gia của thành viên UB ở các phiên họp như sau: “Thông thường thành viên UB vội vàng đến, đưa cho chuyên viên giúp việc những ghi chép của mình, hỏi vài câu, lúng búng vài lời xin lỗi rồi vội vàng rời phiên họp”[9]. Bởi vậy, nhiều khi trong các phiên điều trần các chuyên viên giúp việc đông hơn nghị sỹ, và mặc dù các chuyên viên này ít khi được nói, nhưng những câu hỏi ghi trong những mảnh giấy mà nghị sỹ đưa cho họ trước đó đã được chuyển đến chủ toạ phiên họp để chủ toạ hỏi các bên liên quan.

Thành công và hiệu quả của các phiên điều trần phụ thuộc nhiều vào báo chí. Ví dụ, vào năm 1956, một hạ nghị sỹ Mỹ tổ chức một loạt cuộc điều trần về an toàn ô tô, nhưng báo chí bỏ qua và QH Mỹ cũng bỏ qua chuyện ấy, dự luật bị chìm vào quên lãng. Chín năm sau, hai nghị sỹ khác đưa vấn đề này ra điều trần, được các báo đưa tin trang nhất, góp phần lớn vào sự ra đời của đạo luật 1966 về an toàn của xe ô tô.[10] Tuy nhiên, nếu nhân chứng yêu cầu, báo chí và công chúng có thể phải rời phòng họp trong một thời gian ngắn, ví dụ trong khoảng 10-15 phút[11].

3- Cách thức tiến hành

Trước khi diễn ra phiên điều trần, UB phải quyết định có cần đưa dự luật ra phiên đó không. Các uỷ ban phải quyết định xem họ cần thông tin gì, các điểm trong dự luật cần trao đổi, sau đó mới quyết định điều trần có phải là phương thức tốt nhất để đạt các mục đích đó hay không. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định dạng này của uỷ ban gồm tầm quan trọng của vấn đề đối với quốc gia, tiếng nói của cử tri và các nhóm lợi ích, tác động của cá nhân nghị sỹ.[12] Theo thủ tục làm việc, các UB quyết định về việc có đưa dự luật ra phiên điều trần hay không bằng cách biểu quyết theo đa số. Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, chủ nhiệm UB quyết định về việc tổ chức phiên điều trần.[13]

Ở Mỹ phiên điều trần có thể tổ chức bất cứ lúc nào, trừ khi có phiên họp hỗn hợp giữa Thượng viện và Hạ viện. Tuy nhiên, khi sắp xếp thời điểm, các Ủy ban thường phải sắp xếp để không bị trùng nhau về thời gian với các hoạt động khác của Uỷ ban, của Uỷ ban khác và của cá nhân nghị sỹ để nghị sỹ có thể tham gia tốt nhất. Uỷ ban phải thông báo muộn nhất là một tuần trước khi tiến hành phiên điều trần về địa điểm, thời gian, các vấn đề sẽ đưa ra điều trần, thành phần tham dự. Những thông tin này phải được đăng trên Congressional Record. Các Uỷ ban còn phải gửi đến các nghị sỹ và những người tham dự khác các tài liệu cần thiết như giấy mời, tóm tắt các vấn đề đưa ra điều trần, danh sách nhân chứng…Các thành viên Uỷ ban còn nhận được từ bộ phận phục vụ các báo cáo của các bộ ngành về đến các vấn đề đưa ra điều trần.

Tại phiên điều trần, sau khi đại diện chính phủ trình bày, đến lượt đại diện các nhóm lợi ích thể hiện quan điểm. Họ có thể ủng hộ toàn bộ dự luật hoặc từng phần. Họ có thể yêu cầu sửa đổi một số nội dung trong dự luật, hoặc có thể phản đối toàn bộ dự luật, và đưa ra một dự luật khác do mình tự soạn thảo. Tiếp theo đến lượt các thành viên UB hỏi, bắt đầu bằng chủ toạ. Mọi thành viên UB đều có quyền hỏi, mỗi người được hỏi trong 10 phút. Một phiên điều trần kéo dài từ vài giờ đồng hồ cho đến hàng tháng.[14]

Biên bản phiên điều trần là một nguồn thông tin và nguồn tuyên truyền có giá trị. Thành viên UB được phát một số lượng lớn đủ để phát lại cho các nghị sỹ khác không tham dự phiên điều trần. Các thành viên UB và những nhân vật đã phát biểu trong phiên điều trần được phép xem lại và sửa lại câu chữ nếu thấy cần thiết.[15] Phần lớn biên bản điều trần và các tài liệu khác sử dụng trong phiên điều trần được xuất bản sau đó sáu tháng đến một năm. Một số tài liệu điều trần không được xuất bản rộng rãi trong vòng 20 đến 30 năm. Ở nghị viện Mỹ, biên bản của hầu hết các phiên điều trần được in và phát hành rộng rãi hoặc được đăng tải trên Internet[16].

Các UB Quốc hội Mỹ còn tổ chức các cuộc điều trần hỗn hợp với các UB khác, hoặc điều trần “tại chỗ” (field hearings) bên ngoài toà nhà Quốc hội. Chẳng hạn, UB Tư pháp của Hạ viện Mỹ đã tổ chức nhiều phiên điều trần tại chỗ năm 1995 nhằm thu thập ý kiến đóng góp và tranh thủ sự ủng hộ của công chúng đối với dự luật sửa đổi Hiến pháp về tín ngưỡng học đường.[17] Quốc hội Mỹ cũng đã thử nghiệm phương thức điều trần từ xa qua hội nghị truyền hình (video conference), có nghĩa là người làm chứng có thể giải trình các vấn đề cần trình bày trước một UB từ một nơi khác qua phương tiện này[18].

III- Khả năng áp dụng

Muốn áp dụng điều trần vào Việt Nam, trước hết phải xem xét nó có ích lợi gì không. Bởi vậy, phần này trước hết sẽ kể ra những ích lợi mà điều trần có thể mang lại cho quy trình lập pháp. Câu hỏi tiếp theo là áp dụng vào khâu nào. Nhìn lại cơ chế điều trần trên đây, so sánh với quy trình lập pháp ở Việt Nam, có vẻ như điều trần có đôi nét giống với thẩm tra. Như vậy, phần này cũng sẽ đối chiếu những nét giống và khác nhau giữa hai quy trình, những khó khăn nếu áp dụng vào khâu thẩm tra.

1. Những ích lợi do điều trần mang lại

1.1.Thông tin

Các phiên điều trần nhằm đến một số mục đích thực tế. Vai trò quan trọng nhất của điều trần là thu thập thông tin để các nghị sỹ có cơ sở đánh giá các dự luật được đưa ra thảo luận ở UB, cung cấp những chứng cứ có sức thuyết phục cho việc xem xét dự luật.[19] Có người gọi đây là “mỏ vàng thông tin” về tất cả các vấn đề tầm quốc gia đang diễn ra.[20] Các nhân chứng đến từ các cơ quan chính phủ, các thành viên UB, học giả, tầng lớp trí thức, các nhóm lợi ích đến tham dự điều trần để góp ý về ưu khuyết điểm của dự luật. Có tác giả cho rằng, thông tin trong các phiên điều trần rất có ích trong việc xác định tương quan giữa chi phí và lợi ích của một dự luật.[21] Qua thông tin thu nhận được, các vị nghị sỹ cũng có thể xác định liệu có cần ban hành đạo luật mới, hay là chỉ cần sửa đổi luật hiện hành. Các phiên điều trần là diễn đàn đầu tiên nơi dự luật có cơ hội ra mắt công chúng, nơi UB xem xét dự luật có đáng đưa ra trước toàn thể nghị viện hay không. Bên cạnh đó, nhiều phiên điều trần nhằm mục đích đánh giá tình hình thực hiện một đạo luật đã ban hành trong một thời gian nhất định, qua đó làm cơ sở để quyết định về việc sửa đổi đạo luật. Chẳng hạn, Uỷ ban Tài chính và Thuế khoá Hạ viện Mỹ đã làm việc cật lực trong suốt một năm với nhiều phiên điều trần về luật thuế thu nhập cá nhân liên bang để quyết định đưa ra Hạ viện Luật về cải cách thuế năm 1986 với hơn 1300 điều[22]. Nói tóm lại, thông tin của phiên điều trần dung hoà tính chất dân chủ rộng rãi của nghị viện với yêu cầu kiến thức chuyên môn chuyên sâu của hoạt động lập pháp.[23]

Do tính chất thông tin này nên tại các phiên điều trần, các bên tham gia điều trần, trong đó có các nghị sỹ chủ yếu có những hành vi để nắm thông tin (Xem hộp 2).

Hộp 2: Hành vi của những người tham dự tại một phiên điều trần[24]

Người ta đã tính phần trăm của từng hành vi trên tổng số hành vi dựa trên các lượt phát biểu được ghi lại trong biên bản tại phiên điều trần liên quan đến Luật Giáo dục đại học 1965 (Higher Education Act of 1965), Tiểu ban Giáo dục thuộc Uỷ ban Giáo dục và Lao động của Hạ viện Mỹ và Tiểu ban Giáo dục thuộc Uỷ ban Lao động và Thịnh vượng chung của Thượng viện Mỹ. Trong quá trình điều trần ở Tiểu ban của Hạ viện Mỹ có 9 nghị sỹ tham dự, còn ở Tiểu ban của Thượng viện có 6 nghị sỹ trong số 10 thành viên Tiểu ban tham dự. Những hành vi liên quan đến thông tin như cung cấp thông tin, hỏi thông tin, có ý kiến, đề nghị đưa ra ý kiến chiếm đến trên dưới 80% tổng số hành vi.

1.2. Xoa dịu căng thẳng

Theo các tác giả cuốn “Quốc hội và các thành viên”, là những diễn đàn cho các cuộc tranh luận công khai, các uỷ ban giúp xoa dịu, dung hoà, giải toả tình trạng căng thẳng trong đời sống chính trị…” [25]. Một tác giả khác ví von, các phiên điều trần có tác dụng như cái van an toàn, xả hơi khi áp lực trong nồi xúp le lên đến độ nguy hiểm[26]. Bởi lẽ phiên điều trần tạo điều kiện cho công dân, các tổ chức trong xã hội vốn lâu nay có nhiều điều bức xúc được dịp lên tiếng “trút nỗi bực dọc”, qua đó sự căng thẳng trong xã hội chùng xuống, cho dù đạo luật có thể sẽ không được thông qua.

1.3. Tăng tính minh bạch

Thủ tục liên quan đến nguyên tắc công khai cả trong các phiên điều trần giúp làm tăng tính minh bạch của nghị viện. Ví dụ, các uỷ ban trong Quốc hội Mỹ tổ chức những phiên điều trần không thể thiếu báo chí, phát thanh, truyền hình và gần đây là Internet, những thành tựu công nghệ thông tin khác. Tháng Chín năm 1998, Uỷ ban Nông nghiệp của Hạ viện trở thành Uỷ ban đầu tiên của Quốc hội Mỹ truyền trực tiếp các tư liệu hội nghị của mình qua Internet .[27] Như vậy, điều trần có thể làm tăng lòng tin của công chúng vào một quy trình làm việc minh bạch của nghị viện. Các cuộc điều trần tạo điều kiện cho công dân và các nhà lãnh đạo của xã hội công dân có thể trình bày quan điểm của mình, và cũng là cơ hội để các nhà lập pháp đặt ra các câu hỏi cho các quan chức ngành hành pháp. Mặt khác, chính vì tính chất công khai này nên các bên tham gia điều trần phải chuẩn bị kỹ càng. Chính phủ và các chủ thể được mời đến điều trần phải chuẩn bị các tài liệu làm chứng. Thậm chí họ còn tổ chức phiên điều trần giả để tập làm quen trước khi vào phiên điều trần thật.[28] Còn các UB và bộ máy giúp việc chuẩn bị sẵn các câu hỏi, luận chứng để ủng hộ hay phản đối dự luật.

1.4. Tranh thủ sự ủng hộ

Điều trần cũng có tác dụng thu hút sự chú ý của công chúng, vì đây là một kênh truyền tải thông tin đến công chúng, một khâu được tổ chức rầm rộ nhất và là một phần trong chiến lược chung nhằm biến dự luật thành luật. Ví dụ, mời những người nổi tiếng đến tham dự điều trần là một cách rất hiệu quả để thu hút sự chú ý của công chúng đến vấn đề của dự luật. Khi ngôi sao màn bạc Liz Taylor được mời đến đóng góp ý kiến về sự cần thiết phải tăng ngân sách cho hoạt động nghiên cứu chống AIDS, bà đã tạo ra cơn sốt báo chí, đến nỗi Chủ nhiệm một UB của Hạ viện Mỹ nhận xét: “Tôi chưa bao giờ thấy điều gì tương tự xảy ra trong suốt 30 ngày chúng tôi tham gia điều trần”[29]. Hoặc một phiên điều trần có thể thu hút sự chú ý vì mời được những nhân chứng với những trải nghiệm cá nhân rất sống động, làm cho dự luật gần hơn với công chúng (Xem hộp 3).

Hộp 3: Nhân chứng 10 tuổi

Khi phát biểu trong phiên điều trần của một Uỷ ban trong Quốc hội Mỹ liên quan đến vấn đề chăm sóc trẻ em, một bé gái 10 tuổi mà bố mẹ không đủ thời gian chăm sóc em vào ban ngày đã nói: “Có những thứ làm cháu sợ khi ở nhà một mình, như gió, tiếng cạch cửa, và cả bầu trời sầm tối. Những thứ đó có gì là đáng sợ đối với các ông đâu- cô bé nói với Uỷ ban gồm toàn người lớn- nhưng thật đáng sợ với trẻ em ở nhà một mình”[30]

Qua đây những người tổ chức điều trần thường muốn thúc đẩy, nhân rộng sự hậu thuẫn đối với dự luật. Đồng thời cách thức tổ chức như thế cũng làm cho việc làm luật của Quốc hội gần hơn với người dân, hay nói cách khác, góp phần “đưa luật vào cuộc sống” bằng cách đưa cuộc sống vào quá trình làm luật.

1.5. Tác dụng “gạn lọc”

Các phiên điều trần có tác dụng như một “bộ lọc” đầu tiên, “lọc” bớt những dự luật thực sự không cần thiết ra khỏi chương trình xem xét, thảo luận của nghị viện. Tính trung bình mỗi nhiệm kỳ 2 năm của Hạ viện Mỹ có khoảng 20.000 dự luật được gửi đến các Uỷ ban, nhưng nhờ có bước “gạn lọc” này mà Hạ viện chỉ phải xem xét khoảng 1000 dự luật.[31] Ở Italia, 20% dự luật của Chính phủ và 80% dự luật của nghị sỹ phải chịu dừng ở giai đoạn này của UB[32].

2- Điều trần và thẩm tra: một vài nét tương tự

Ở Việt Nam, các dự án luật, pháp lệnh trước khi được trình ra Quốc hội hoặc UBTVQH phải trải qua khâu thẩm tra (thường là nhiều lần) ở HĐDT và các uỷ ban. Hoạt động này có những nét tương tự điều trần, có thể giúp cho việc áp dụng điều trần dễ dàng hơn. Những yếu tố đó là:

2.1. Cung cấp thông tin

Điều trần và thẩm tra đều có mục đích thu thập thông tin, trước hết là thông tin để thẩm tra, và sau đó là thông tin để chỉnh lý văn bản pháp luật sau này. Về điều trần đã nói ở trên. Về thẩm tra, Điều 32 Luật ban hành tại Khoản 2 quy định: “Cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan soạn thảo báo cáo về những vấn đề thuộc nội dung của dự án; tự mình hoặc cùng cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan thẩm tra yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết”.

Để chuẩn bị cho việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, Thường trực HĐDT, Thường trực Uỷ ban thực hiện một số công việc như: Giao cho Tiểu ban hoặc thành viên HĐ, UB nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến; yêu cầu cơ quan soạn thảo, các cơ quan hữu quan trình bày những vấn đề liên quan; tổ chức việc lấy ý kiến chuyên gia; tổ chức khảo sát thực tế (Điều 21, Quy chế hoạt động của HĐDT và các uỷ ban của Quốc hội).

Lấy Uỷ ban các vấn đề xã hội làm ví dụ, hoạt động thẩm tra hiện nay đã có nhiều hình thức thu thập thông tin như: tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị lấy ý kiến chuyên gia, nhà quản lý, đối tượng chịu tác động trực tiếp của dự luật; nghe cơ quan soạn thảo; cung cấp thông tin cho các thành viên; tổ chức các hoạt động thảo luận, trao đổi, tranh luận trong Thường trực Uỷ ban, Thường trực mở rộng và toàn thể Uỷ ban[33].

2.2.Thời điểm tiến hành

Điều trần và thẩm tra đều được tiến hành trước khi dự luật được trình ra toàn thể Quốc hội. Đối với điều trần, sau khi dự luật được gửi đến UB, và UB quyết định đồng ý xem xét dự luật, lúc đó thông thường UB tổ chức phiên điều trần, trong đó đại diện chính phủ và các tổ chức dân sự, công dân cung cấp thông tin, chứng cứ ủng hộ hay phản đối dự luật. Sau phiên điều trần, UB mới tổ chức phiên thảo luận về dự luật[34]. Còn đối với thẩm tra, chậm nhất là ba mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội hoặc chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phải gửi tờ trình, dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tới cơ quan thẩm tra để tiến hành thẩm tra (Điều 33, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Đây là yếu tố thuận lợi để áp dụng điều trần vào phiên thẩm tra, vì sẽ không bị xáo trộn về mặt trình tự.

2.3. Cơ sở để chỉnh lý văn bản

Theo một số ý kiến, thẩm tra là một trong những cơ sở quan trọng để chỉnh lý và hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh. Kết quả của quá trình này là, so với văn bản ban đầu được gửi đến HĐDT và các uỷ ban, các văn bản đã được thông qua có sự thay đổi rất lớn, kể cả hình thức và nội dung.[35] Thế nhưng, ý kiến khác lại cho rằng, khi dự luật đã được soạn thành chương, điều, việc thẩm tra các dự án này chỉ đạt được kết quả là sửa câu, chữ, cách sắp xếp; rất khó thay đổi quan điểm để làm dự luật đó[36]. Dù thế nào chăng nữa, thẩm tra là cơ sở để chỉnh lý dự luật. Khía cạnh này tương tự như ở nghị viện một số nước, khi kết quả thu nhận được từ phiên điều trần là cơ sở để các uỷ ban thảo luận, chỉnh sửa dự luật trước khi trình ra nghị viện.

3. Điều trần và thẩm tra: Một số điểm khác nhau

Phiên điều trần, nhất là ở các uỷ ban Quốc hội Mỹ được đánh giá là có tính “tranh tụng” (adversarial)[37]. Như đã thấy ở phần trên, tính chất tranh tụng này thể hiện ở chỗ các bên tham dự đại diện cho những quan điểm khác nhau, có sự phản biện đối với chủ thể của dự luật. Trong khi đó, khác với điều trần, việc tiến hành các hoạt động chuẩn bị, tham gia thẩm tra nhiều khi còn mang tính hình thức, chiếu lệ cho xong khá nhiều[38]. Thậm chí có chuyện một Uỷ ban họp thẩm tra một dự án luật ở Tp. Hồ Chí Minh, nhưng người chuyên viên được giao viết báo cáo thẩm tra lại ngồi tại Hà Nội, “khẩn trương chuẩn bị báo cáo để kịp trình tiến độ”; thành viên Uỷ ban cứ phát biểu, người viết báo cáo thẩm tra cứ mặc sức viết theo ý mình[39]. Điều này cho thấy, các ý kiến, kết luận của phiên điều tra dường như đã được quyết trước, hoặc na ná nhau, cho nên chuyên viên mới “đoán” được để viết báo cáo “từ xa”.

Điểm khác nhau tiếp theo giữa điều trần và điều tra thể hiện qua sự tham gia của thành viên uỷ ban. Đa số thành viên HĐDT và các uỷ ban của Quốc hội hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, bộ phận Thường trực chỉ có vài người. Trên thực tế, thông thường, ví dụ tại Uỷ ban Pháp luật cũ, chỉ có một vị trong Thường trực Uỷ ban phát biểu ý kiến cá nhân trong các phiên thẩm tra[40]. Trong khi đó, theo quy định, hoạt động thẩm tra đòi hỏi phải tiến hành phiên họp toàn thể; còn về mặt thực tế, sự tham gia đầy đủ của các thành viên Hội đồng, Uỷ ban sẽ: đem lại cái nhìn toàn diện hơn của toàn thể Hội đồng, Uỷ ban với những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm khác nhau[41], bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số.

Còn ở các nước, mặc dầu hầu như các phiên điều trần chỉ có một số thành viên uỷ ban tham dự (thông thường khoảng 5-10 người), nhưng tất cả các thành viên tham dự đều được phát biểu, hỏi nhân chứng. Họ cố gắng tận dụng tối đa phiên điều trần để thu thập thông tin về dự luật. Theo quan sát của một tác giả về hành vi của các nghị sỹ Mỹ tại các phiên điều trần, thông thường các nghị sỹ cố gắng thu thập được nhiều thông tin tại các phiên điều trần càng tốt[42]. Còn một cuộc thăm dò ý kiến của các nghị sỹ hai viện của Quốc hội Mỹ cho thấy, các nghị sỹ sử dụng thông tin của các phiên điều trần nhiều nhất trong số 10 nguồn thông tin được hỏi đến[43].

Thành phần tham dự các phiên thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội nước ta khác với thành phần tham dự các phiên điều trần. Theo quy định của pháp luật nước ta, ngoài thành viên HĐDT hoặc Uỷ ban thẩm tra, có đại diện ban soạn thảo, đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan. Còn thành phần tham dự phiên điều trần đa dạng hơn nhiều, và quan trọng hơn, liên quan rất sát sườn đến dự luật. Kể cả ví dụ về sự có mặt của ngôi sao màn bạc Liz Taylor trong một phiên điều trần cũng cho thấy, mỗi một cá nhân được mời đến tham dự điều trần đều có chủ đích. Hơn nữa, ở ta chỉ có những chủ thể nói trên được quy định trong luật mới được tham dự phiên thẩm tra. Còn ở họ, nếu thấy cần thiết phải trình bày về một vấn đề của dự luật tại phiên điều trần, công dân hoặc tổ chức có thể gửi đơn đề nghị (submission) đề nghị được tham dự phiên điều trần kèm theo những tài liệu cần thiết đến uỷ ban, và thường là được uỷ ban đồng ý mời đến dự.

Hoạt động thẩm tra của HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội nước ta thường được tiến hành theo các nội dung đã được quy định trong pháp luật[44], còn hoạt động điều trần được tiến hành đối với một số vấn đề nhất định của một dự luật nhất định. Đôi khi những vấn đề mà một phiên điều trần thường hướng tới cũng tương tự như trong luật của Việt Nam quy định đối với phiên thẩm tra. Nhưng nhiều khi có những vấn đề không hề có trong phiên thẩm tra, bởi lẽ những vấn đề đó thuộc về nội dung cụ thể của dự luật. Điều quan trọng nhất là, cách làm của thẩm tra có thể bỏ sót những vấn đề rất quan trọng của một đạo luật, ví dụ như tính hiệu quả kinh tế của đạo luật trong tương quan chi phí-lợi ích[45]. Trong khi đó, như đã nói ở trên, những thông tin thu nhận được từ phiên điều trần rất có ích cho phiệc phân tích chi phí-lợi ích.

Điểm khác biệt quan trọng giữa hai hình thức này là hệ quả của chúng. Điều trần là cơ sở chủ chốt để uỷ ban quyết định về việc có đưa dự luật ra toàn thể nghị viện hay không; trong khi đó kết quả thẩm tra chỉ có ý nghĩa tham khảo. Nhiều nội dung của phiên điều trần được đưa vào báo cáo cuối cùng của Uỷ ban gửi toàn thể nghị viện[46]. Báo cáo này là tài liệu không chỉ có tác dụng giải thích, mà còn thuyết phục; thậm chí báo cáo còn có thể hướng dẫn cho các cơ quan hành pháp và toà án hiểu được thứ ngôn ngữ không rõ ràng và phức tạp của văn bản luật[47]. Còn ở nước ta, báo cáo thẩm tra của các Uỷ ban chỉ làm nhiệm vụ “phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan thẩm tra” như quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Có ý kiến cho rằng, điều này cho thấy, các Uỷ ban của Quốc hội nước ta chỉ mới đóng vai trò cơ quan tham mưu cho Quốc hội, UBTVQH, trong đó có hoạt động thẩm tra; và báo cáo thẩm tra chỉ có giá trị như một tài liệu tham khảo[48]; tính phản biện của báo cáo thẩm tra chưa cao[49]. Qua đây cũng thấy các uỷ ban của Quốc hội nước ta không những không có thẩm quyền, mà còn thiếu năng lực thực tế để có thể quyết định đưa dự luật ra thảo luận tại hội trường. Hình thức điều trần có thể giúp các uỷ ban của Quốc hội nước ta “gánh vác” vai trò phản biện, canh cổng như các ủỷ ban nghị viện các nước vẫn làm.

IV- Một vài đề xuất

Từ việc phân tích những ích lợi do điều trần mang lại, so sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa điều trần và thẩm tra, có thể tạm đưa ra vài đề xuất sau đây:

1. Thêm thẩm quyền cho uỷ ban?

Muốn thẩm tra có “sức nặng” như điều trần, cần có quy định cơ quan thẩm tra có thẩm quyền được bác yêu cầu trình dự án luật, pháp lệnh hoặc gửi trả dự án luật, pháp lệnh cho cơ quan soạn thảo. Hoặc như có tác giả đề nghị cần đề cao vai trò của các uỷ ban trong việc đề xuất các vấn đề (trong đó có liên quan đến chức năng lập pháp) để thảo luận tại hội trường.[50] Tuy nhiên, vấn đề này liên quan đến thẩm quyền của Uỷ ban, cho nên phải sửa đổi các quy định pháp luật liên quan như Luật tổ chức Quốc hội. Mà sửa đổi luật nội dung thường không dễ dàng, nhanh chóng, nhất là Luật này vừa mới được sửa đổi đầu năm 2007, nên trước mắt chưa thể được.

Tuy nhiên, ngay cả khi không có thẩm quyền nói trên, các uỷ ban vẫn có thể học cách làm của điều trần để “gạn lọc” những dự luật không cần thiết hoặc chất lượng chưa đạt. Lâu nay một thực trạng mà các vị ĐBQH, nhà nghiên cứu và chuyên gia thường hay nêu lên là chưa năm nào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được hoàn thành đúng tiến độ, mà chậm nhiều so với kế hoạch đề ra[51]. Theo con số thống kê, hàng năm Quốc hội chỉ thông qua được từ 50-70% số dự án có trong Chương trình[52]. Có khá nhiều nguyên nhân, nhưng thiết nghĩ, những nguyên nhân sau đây có thể khắc phục được một phần nếu có cơ chế điều trần: Chương trình được lập ra bị động theo ý kiến đề xuất, nguyện vọng chủ quan của các bộ ngành; số lượng ghi trong Chương trình nhiều, nhưng tính khả thi, độ “chín” của vấn đề chưa được đánh giá, tổng kết theo nhu cầu phát triển; nhiều chương trình chỉ liệt kê danh mục các dự án luật, pháp lệnh mà chưa nêu rõ sự cần thiết, đối tượng, phạm vi điều chỉnh; có hiện tượng “quá tải”[53]. Một phiên điều trần sẽ buộc các bộ ngành, các chủ thể khác muốn đưa dự án luật, pháp lệnh vào Chương trình phải giải trình rõ trước một Uỷ ban những vấn đề đó; và sau khi cùng nghe ý kiến của các bên khác như các hiệp hội, các nhà nghiên cứu…, Uỷ ban sẽ thể hiện quan điểm của mình về dự thảo chương trình[54]. Hoạt động này có thể lồng vào hoạt động thẩm tra của HĐDT và các uỷ ban của Quốc hội. Nhất là khi hiện nay, chưa thấy cơ quan nào tiến hành thẩm tra Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, mặc dù theo Điều 19, Luật Tổ chức Quốc hội 1992 (sửa đổi năm 2001), “HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội… có nhiệm vụ trình Quốc hội, UBTVQH ý kiến về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh”[55].

Cũng như vậy, các phiên thẩm tra của các HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội có thể học cách làm của các phiên điều trần để “lọc” những dự án luật, pháp lệnh chưa đạt yêu cầu, tránh cho Quốc hội và UBTVQH phải mất công xem xét, thảo luận lại những dự án như thế. Tuy nhiên, thời gian qua có không ít dự án luật, dự án pháp lệnh chất lương chưa đạt yêu cầu vẫn trình ra Quốc hội, UBTVQH để xem xét, thông qua[56]. Điều này có trách nhiệm không nhỏ của cơ quan thẩm tra không làm tốt vai trò “bộ lọc”. Lọc bằng cách nào, chúng ta sẽ xem xét tiếp dưới đây.

2. Những vấn đề về thủ tục

Nếu chưa tăng được thẩm quyền cho uỷ ban về mặt luật nội dung, chúng ta thử xem xét về mặt thủ tục. Trước hết, như đã nói, trên phương diện này, điều trần tương tự như thẩm tra, nhất là chúng đều được tiến hành trước khi Quốc hội họp toàn thể, cho nên có lẽ không cần thiết phải xây dựng một khâu điều trần riêng. Hơn nữa, nếu xây dựng một khâu điều trần riêng thì phải sửa các quy định pháp luật liên quan như trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đòi hỏi thời gian và phức tạp hơn. Cách đặt vấn đề thực tế hơn là: Liệu có học hỏi những yếu tố hợp lý của điều trần để cải tiến cách thức hoạt động thẩm tra của các uỷ ban về mặt thủ tục được không?

Trước hết là tính công khai, minh bạch với sự tham gia rộng rãi của công chúng và báo chí. Cần áp dụng hình thức mở như phiên điều trần nhằm tăng tính minh bạch trong họat động của Uỷ ban và cũng là của Quốc hội. Mặt khác, cũng có ý kiến cho rằng, hình thức mở có thể làm loãng sự tập trung trong công việc, giảm tính hiệu quả của thiết chế uỷ ban. Tuy nhiên, khi mà tính hình thức trong các phiên thẩm tra vẫn còn, thì có lẽ sự tranh luận về “loãng” hay không “loãng” là vô nghĩa. Ngược lại, sự tham dự của công chúng và báo chí rất cần thiết để góp phần làm cho thẩm tra được thực chất hơn từ cả hai phía Uỷ ban và cơ quan soạn thảo[57]. Về mặt thủ tục hoạt động, trong các văn bản liên quan không có quy định nào về sự tham dự của báo chí tại các phiên họp của các uỷ ban. Tuy nhiên, các nguồn quy định về thủ tục hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không chỉ có trong các văn bản, mà còn xuất phát từ thực tiễn, từ các tiền lệ. Thời gian gần đây, mặc dù Luật và Nội quy, Quy chế không quy định, nhưng vẫn có những tiền lệ như: truyền hình trực tiếp một số phiên họp; hội nghị đại biểu chuyên trách, chia việc thảo luận luật làm hai hội trường…Đặc biệt, liên quan đến thủ tục hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, gần đây báo chí đã được tham dự các phiên họp của UBTVQH. Có thể lấy đây làm tiền lệ để “mở cửa” cho báo chí vào dự các phiên họp của HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội.

Thứ hai, về phạm vi thẩm tra, có tác giả đề xuất cần xác định những tiêu chí cụ thể hơn về các nội dung cần thẩm tra; theo đó, báo cáo thẩm tra về một dự án luật cần xác định rõ những vấn đề chủ yếu sau: nội dung chính sách của dự án luật đó là gì; dự báo những kết quả đạt được khi thực hiện chính sách đó; cơ chế để thực hiện chính sách đó được thể hiện như thế nào trong dự án luật; điều kiện bảo đảm để thực hiện chính sách (bao gồm ba yếu tố: tài chính, tổ chức, con người; tính hợp hiến; phù hợp với các cam kết quốc tế, không mâu thuẫn với những luật khác[58]. Theo chúng tôi, đây là một đề xuất đáng chú ý; nhưng cần tiếp tục bàn luận về các vấn đề đưa ra xem xét tại một phiên thẩm tra. Phải chăng có thể thay đổi cách làm lâu nay, bằng cách không chỉ chú trọng vào bốn nhóm vấn đề, mà có thể tuỳ vào từng dự án luật để xác định vấn đề cần ưu tiên thẩm tra. Nhất là câu chữ, tinh thần của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật không cấm cách làm này[59].

Thứ ba, về thành phần, có thể học cách của phiên điều trần để mời thành phần đa dạng và linh hoạt hơn, tuỳ thuộc vào từng dự án luật, pháp lệnh cụ thể được đưa ra thẩm tra. Có thể mời đại diện của các khối trong xã hội như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội phát biểu về dự luật để có cái nhìn phản biện. Nhất là phải mời họ đến dự cùng một lúc với đại diện ban soạn thảo để tăng tính tranh luận, “ba mặt một lời”. Cách làm này cùng với sự có mặt của báo chí có thể khắc phục tính hình thức và tăng sự thực chất cho hoạt động thẩm tra. Hơn nữa, cách làm này cũng cung cấp cho các thành viên uỷ ban thêm những nguồn thông tin có giá trị để có cơ sở hoàn thiện báo cáo trình Quốc hội và UBTVQH. Về mặt thủ tục, cũng như đối với sự tham dự của báo chí, các uỷ ban có thể tự tạo ra tiền lệ trong việc này trong khi đợi sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động. Bên cạnh đó, liên quan đến thành phần tham dự, như nhiều tác giả từng kiến nghị[60], cần nghiêm túc tổ chức các phiên họp toàn thể, mà không nên duy trì họp Thường trực để thẩm tra để các thành viên có thể tham gia nhiều hơn.

V- Kết luận

Nói ngắn gọn, ở các nước, đối với những ai quan tâm đến chuyện kinh bang tế thế, các phiên điều trần là chìa khoá để giải ô chữ phức tạp về chu trình lập pháp của Quốc hội, là đầu mối dẫn dắt để tìm hiểu các đạo luật. Đối với những ai muốn bảo vệ một chính sách nào đó trước Quốc hội, phiêu điều trần là dịp tiếp xúc trực tiếp với các nghị sỹ. Đối với các nghị sỹ, các phiên điều trần là cơ hội để nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra, cơ hội để tìm kiếm giải pháp dung hoà.[61] Có thể ví điều trần là hàn thử biểu của cơ quan lập pháp đo tâm trạng dân chúng.

Ở nước ta, phiên thẩm tra có những nét “hao hao” phiên điều trần. “Hao hao” thì không có nghĩa là giống hoàn toàn, và cũng không bao giờ giống được cả. Nhưng có thể học được những nét hợp lý trong cơ chế điều trần áp dụng vào cơ chế thẩm tra của ta. Điều này sẽ có lợi cho tất cả: làm cho các phiên điều tra thực chất, hiệu quả hơn; tăng cường vai trò của các uỷ ban trong quy trình lập pháp; giúp Quốc hội thực hiện đúng vai trò của mình trong quy trình lập pháp[62]; tạo điều kiện cho các chủ thể trong xã hội được lên tiếng trong quá trình làm luật của Quốc hội; qua đó tạo ra những sản phẩm lập pháp có thể sử dụng tốt, bền trong cuộc sống.


[1] Bài này chủ yếu nói về điều trần ở Quốc hội Mỹ, vì tài liệu liên quan hiện có chủ yếu nói về nước này.

[2] Richard C.Sachs, “Types of Committee Hearings”, Congressional Reserch Service Report for Congress, 2004.

[3] Edward V. Schneier & Bertram Gross, Congress Today, 1993, p.382.

[4] Walter J. Oleszek, “Thủ tục và hoạt động phân tích chính sách của Nghị viện”, tái bản lần thứ tư (sách dịch), 2002.

[5] Paul Lutzker, “The Behavior of Congressmen in a Committee Setting: A Research Report” (1969) The Journal of Politics, Vol.31, No.1, pp. 140-166, tr. 141.

[6] Paul Lutzker, như chú thích 5.

[7] George B. Galloway, Development of the Committee System in the House of Representatives (1959) 65 The American Historical Review 17, p.25.

[8] NSW Legislative Council, Committee Hearings: Giving Evidence in Person, 2004.

[9] Edward V. Schneier & Bertram Gross, xem chú thích số 3, tr.396.

[10] Mark J. Green, James M. Fallows, David R. Zwick, Ai chỉ huy Quốc hội? Người dịch: Anh Thư, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.86.

[11] NSW Legislative Council, xem chú thích 8.

[12] Thomas P.Carr, “House Committee Hearings: Scheduling and Notification”, Congressional Research Service Report for Congress, 2003.

[13] Edward V. Schneier & Bertram Gross, xem chú thích số 3, tr.382; Thomas P.Carr, xem chú thích số 12.

[14] David M.Olson, The Legislative Process: A Comparative Approach, 1980, tr.288.

[15] Edward V. Schneier & Bertram Gross, xem chú thích số 3, tr.

[16] Xem trang web của US Government Printing Office http://www.gpoaccess.gov

[17] Walter J.Oleszek, xem chú thích 4.

[18] Walter J. Oleszek, xem chú thích 4.

[19] M.Kenneth Bowler, “Preparing Members of Congress to Make Binary Decisions on Complex Policy Issues: The 1986 Tax Reform Bill”, Journal of Policy Analysis and Management, Vol.8, No.1 (1989), pp.35-45, tr.36; George B. Galloway, xem chú thích số 7, trang 26.

[20] George B. Galloway, xem chú thích số 7, trang 26.

[21] Paul Sabatier & David Whiteman, “Legislative Decision Making and Substantive Policy Information: Models of Information Flow”, Legislative Studies Quarterly, Vol.10, No.3 (1985), pp.395-421, tr.397.

[22] M.Kenneth Bowler, xem chú thích số 19.

[23] David Whiteman, “The Fate of Policy Analysis in Cogressional Decision Making: Three Types of Use in Committees”, The Western Political Quaterly, Vol.38, No.2 (1985), pp.294-311, tr.294.

[24] Paul Lutzker, xem chú thích số 5.

[25] Roger H. Davison, Walter J. Oleszek, Quốc hội và các thành viên, NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2002, tr. 308.

[26] Paul Lutzker, xem chú thích số 5; George B. Gallowen, xem chú thích số 7.

[27] Roger H. Davison, Walter J. Oleszek, xem chú thích số 25, tr. 338-339.

[28] David M. Olson, xem chú thích số 14, tr.288.

[29] Walter J. Oleszek, xem chú thích số 4.

[30] Walter J. Oleszek, xem chú thích 4.

[31] David M.Olson, xem chú thích số 14, tr.286.

[32] Di Palma, “Institutional Rules and Legislative Outcomes in the Italian Parliament”, p.163; trích theo David M.Olson, xem chú thích số 14, tr. 286.

[33] Lương Phan Cừ, “Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội: Sự phát triển về tổ chức và hoạt động”, Nghiên cứu Lập pháp, số 12/2005.

[34] Michael L.Mezey, Comparative Legislatures, 1979, p.67.

[35] Nguyễn Đình Quyền, “Tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 7/2002, tr.22.

[36] Mai Hồng Quỳ, “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 11/2001.

[37] George Galloway, xem chú thích 7.

[38] Nguyễn Đình Quyền, xem chú thích số 35, tr.18; Đỗ Ngọc Quang, “Trình tự, thủ tục xem xét các văn bản luật, pháp lệnh trước khi trình kỳ họp Quốc hội”, bài tham luận tại Hội thảo “Đánh giá thực trạng quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh”, Trung tâm Nghiên cứu, Tư vấn chính sách, pháp luật và Phát triển, Hà Nội, 15/06/2007.

[39] Nguyễn Quang Minh, “Xây dựng báo cáo thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và dự thảo nghị quyết”, Nghiên cứu Lập pháp, số 7/2002.

[40] Nguyễn Đình Quyền, xem chú thích số 35, tr.28; Nguyễn Văn Thuận, “Ảnh hưởng và tác động của quy trình lập pháp hai bước đến thủ tục làm việc của HĐDT và các uỷ ban của Quốc hội: Thực trạng và giải pháp”, bài tham luận tại Hội thảo “Quy trình, thủ tục làm việc của HĐDT, các uỷ ban của Quốc hội”, Hải Phòng, 28-29/6/2007.

[41] Đặng Đình Luyến, “Thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh tại HĐDT, các Uỷ ban của Quốc hội: Thực trạng, phương hướng, kiến nghị đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng, Uỷ ban”, bài tham luận tại Hội thảo “Quy trình, thủ tục làm việc của HĐDT, các uỷ ban của Quốc hội”, Hải Phòng, 28-29/6/2007.

[42] Michael J.Scicchintano, “Congressional Oversight: The Case of the Clean Air Act” (1986) 11 Legislative Studies Quarterly 393, tr.394.

[43] Lowell H. Hattery, Susan Hofheimer, “The Legislator’s Source of Expert Information”, The Public Opinion Quaterly, Vol.18, No.53 (1954), pp.300-303.

[44] Bốn nhóm vấn đề tại Điều 34, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[45] Hoàng Văn Minh, “Vai trò của HĐDT, các uỷ ban của Quốc hội tại phiên họp toàn thể thảo luận dự án luật”, bài tham luận tại Hội thảo “Quy trình, thủ tục làm việc của HĐDT, các uỷ ban của Quốc hội”, Hải Phòng, 28-29/6/2007.

[46] Báo cáo cuối cùng của các Uỷ ban một số nước có cơ chế điều trần bao gồm các nội dung của phiên điều trần, phiên họp của các tiểu uỷ ban và toàn thể uỷ ban thảo luận về dự luật.

[47] Roger H.Davison & Walter J.Oleszek, Quốc hội và các thành viên (sách dịch), Hà Nội, 2002, tr.341.

[48] Nguyễn Quang Minh, xem chú thích số 39.

[49] Hoàng Văn Minh, xem chú thích số 45.

[50] Ngô Đức Mạnh, “Suy nghĩ về việc đổi mới tổ chức các uỷ ban của Quốc hội”, Hiến kế Lập pháp, số 5/2006.

[51] Văn phòng Quốc hội, “Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội”, Hà Nội, 2004, tr.118.

[52] Văn phòng Quốc hội, như chú thích số 51.

[53] Văn phòng Quốc hội, xem chú thích số 51, tr.120.

[54] Những nguyên nhân này còn có thể khắc phục được bằng cách đưa công đoạn phân tích chính sách vào quy trình lập pháp, nhưng đó lại là vấn đề khác.

[55] Văn phòng Quốc hội, xem chú thích số 51, tr.122.

[56] Một vị cựu ĐBQH nhiều khoá từng nói về việc bấm nút thông qua luật: “không bấm thì không đảm bảo tiến độ, bấm thì không yên tâm” vì chất lượng luật chưa đạt yêu cầu.

[57] Xem chú thích số 28.

[58] Hoàng Văn Minh, xem chú thích số 45.

[59] Điều 34 quy định: “Cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra về tất cả các mặt của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nhưng…”.

[60] Xem Nguyễn Đình Quyền (chú thích số 35), Nguyễn Quang Minh (chú thích số 39), Đặng Đình Luyến (chú thích số 41).

[61] Edward V. Schneier & Bertram Gross, xem chú thích số 3, tr.395.

[62] Chúng tôi quan niệm, vai trò thiết yếu của Quốc hội trong quá trình làm luật thể hiện ở chỗ Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện cho những lợi ích khác nhau –từ lợi ích quốc gia, địa phương, cử tri, đến các nhóm người- sẽ chỉ thông qua những dự luật đáp ứng được lợi ích chủ yếu, gạt lại những dự luật chỉ bảo vệ được quyền lợi của một số ít người trong xã hội (Xem thêm: Nguyên Lâm, “Làm luật: thay đổi từ quan niệm”, Nhà quản lý số 46, 4/2007).

SOURCE: HỘI THẢO «Vai trò của các Ủy ban trong hoạt động lập pháp của Quốc hội », Văn phòng Quốc hội, 28-29/6/2007

Trích dẫn từ: blog cá nhân của tác giả – http://echxanh1968.wordpress.com

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: