VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT Ở XÃ TÂN MỸ, HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG: PHẦN NHẬN ĐỊNH TRONG BẢN ÁN GIÁM ĐỐC THẨM CỦA TÒA DÂN SỰ TANDTC LÀ KHÔNG ĐÚNG

TRƯƠNG CÔNG MINH

Hàng ngày, có nhiều vụ việc, và không phải vụ việc nào, vụ án nào cấp lãnh đạo cao nhất của Tòa án Nhân dân tối cao cũng có thể để mắt tới được. Tuy vậy, vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ở xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mà Báo NĐBND đề cập tới lâu nay, thì lãnh đạo Tòa án Nhân dân tối cao nên quan tâm và quan tâm chặt chẽ, bởi phần nhận định trong bản án giám đốc thẩm của Tòa dân sự Tòa án Nhân dân tối cao cho thấy không chỉ là trình độ của cán bộ xa với yêu cầu, mà còn thiếu sự công tâm của quan tòa.

Tóm tắt vụ án

Vào tháng 12 năm 2000, bà Trần Thị Tuyết Nhung nhờ ông Nguyễn Thiện Dân mua hộ bà diện tích đất 19.235 m2 của ông Trần Văn Phái và diện tích đất 4.933m2 đất của ông Trần Văn Sang, tổng cộng là 24.168m2, đều có nguồn gốc đất khai hoang từ năm 1980 tại xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trước đó, ông Dân đã mua cho mình diện tích đất 8.468 m2 của ông Duyên. ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên đã cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất  24.168m2 cho bà Nhung (số 01376 ngày 16/4/2001) và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất 8.468m2 cho ông Dân (số 00647 ngày 30/10/2000). Như vậy bà Nhung là chủ diện tích đất 24.168m2 và bà đã tiến hành làm nhà trên diện tích đất này.

Hơn 5 năm sau, ngày 29/6/2006 ông Dân có đơn khởi kiện đòi bà Nhung trả cho ông 7.850 m2 đất và tài sản trên đất với căn cứ do ông xuất trình là “Bản ghi nhớ về hợp tác du lịch sinh thái” được ông và bà Nhung ký ngày 21/5/2001, trong đó có các quy ước hai bên góp đất hợp tác đầu tư, bà Nhung góp 16.318m2, ông Dân góp 8.468m2 và 7.850m2 (lấy ra trong số 24.168m2 của bà Nhung). Do hai bên không thực hiện hợp tác đầu tư nên ông yêu cầu Tòa án buộc bà Nhung trả cho ông 7.850m2 đất và giá trị tài sản trên đất.

Tại bản án sơ thẩm số 26/2007/DSST ngày 15.5.2007, Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên đã xử bác yêu cầu của ông Dân đòi đất và giá trị tài sản trên đất của bà Nhung.

Ngày 25.5.2007 ông Dân kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại bản án phúc thẩm số112/2008/DSPT ngày 24.6.2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xử chấp nhận yêu cầu của ông Dân, buộc bà Nhung phải trả 7.416,9m2 đất và tài sản trên đất.

Bà Nhung làm đơn khiếu nại bản án phúc thẩm nêu trên.

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã xem xét  và ra Quyết định kháng nghị số 30/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 31.3.2009 đối với bản án phúc thẩm nêu trên, đề nghị Tòa Dân sự TANDTC xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại phúc thẩm. Nội dung kháng nghị xác định “Bản ghi nhớ” do ông Dân đưa ra là vô hiệu vì chưa phải thực tế, chưa có sự giao nhận tiền và tài sản để cùng nhau hùn vốn, chưa thông qua UBND cấp có thẩm quyền hoặc công chứng.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 173/2009/DS-GĐT ngày 18.5.2009, Tòa Dân sự TANDTC đã xử hủy cả 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên để giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử lại sơ thẩm. Trong phần nhận định của Quyết định giám đốc thẩm đã lập luận ngược lại với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, cho rằng Bản ghi nhớ giữa ông Dân và bà Nhung có giá trị là bản cam kết góp vốn, nên dù dự án có vô hiệu thì cũng không ảnh hưởng đến việc xác định góp vốn của mỗi bên (?). Từ đó, cần định giá toàn bộ 32.636m2 đất của cả 2 bên để chia cho mỗi bên 1/2 giá trị quyền sử dụng của 32.636m2 đất (?) 

Quyết định Giám đốc thẩm của Tòa Dân sự TANDTC làm cho Tòa sơ thẩm huyện Tân Uyên, Tòa phúc thẩm tỉnh Bình Dương và cả Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ấm ức

Vụ án dân sự tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ở xã Tân Mỹ, huỵện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (gọi tắt là vụ tranh chấp đất) giữa ông Nguyễn Thiện Dân và bà Trần Thị Tuyết Nhung đã được Tòa án 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử theo hai hướng khác nhau (Tòa án huyện xử bác bỏ yêu cầu của ông Dân, Tòa án tỉnh xử chấp nhận yêu cầu của ông Dân), tuy nhiên cả hai bản án của Tòa án cấp sơ thẩm (TAND huyện Tân Uyên) và Tòa án cấp phúc thẩm (TAND tỉnh Bình Dương) đều bị huỷ theo Quyết định Giám đốc thẩm số 173/2009/DS-GĐT ngày 18.5.2009 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Như vậy có nghĩa là cả 2 cấp Tòa xét xử theo hai hướng khác nhau đều không đúng? Thế nhưng rất kỳ lạ là dường như Quyết định Giám đốc thẩm nêu trên của Tòa Dân sự TANDTC đã làm cho cả hai cấp Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều vừa tạm bằng lòng lại vừa buồn bực, ấm ức (!)

Tòa án huyện Tân Uyên có phần hài lòng là bản án phúc thẩm của Toà án tỉnh Bình Dương đã bị huỷ, nhưng cũng rất buồn bực khi phần nhận định của Quyết định Giám đốc thẩm lại ngụy biện trắng trợn, hướng dẫn cho Tòa Tân Uyên xét xử lại sơ thẩm theo hướng của Tòa phúc thẩm tỉnh Bình Dương (chấp nhận yêu cầu của ông Dân).

Tòa án tỉnh Bình Dương cũng buồn bực vì bản án phúc thẩm của mình bị hủy nhưng lại hài long với phần nhận định của Quyết định Giám đốc thẩm đã hướng cho Tòa Tân uyên xử lại sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Dân, đúng như quyết định của bản án phúc thẩm lần trước.

Đối với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, có một phần tạm hài lòng là Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm đã chấp nhận Quyết định Kháng nghị để hủy bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Bình Dương, nhưng không đồng tình với Quyết định Giám đốc thẩm đã hủy luôn cả bản án sơ thẩm của TAND huyện Tân Uyên và đưa ra những lập luận rất phi lý, cố tình hướng cho Tòa án huyện Tân Uyên  xử lại sơ thẩm về cơ bản như bản án phúc thẩm của Tòa án tỉnh Bình Dương? Điều này chẳng khác nào Quyết định kháng nghị của VKSNDTC đối với bản án phúc thẩm đã bị Tòa án cấp giám đốc thẩm lợi dụng để bề ngoài chấp nhận, hủy án phúc thẩm nhưng thực chất đã không chấp nhận nội dung của kháng nghị, hướng cho Tòa án xử lại như bản án phúc thẩm (?), đưa VKSNDTC vào tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan” “gậy ông đập lưng ông”?

Những nhận định không đúng của Quyết định Giám đốc thẩm

1) Việc bà Nhung nhờ ông Dân mua hộ đất đã được hai bên xác định, thực tế ông Dân là người trực tiếp giao dịch với ông Phái, ông Sang, và chính ông Dân ghi tên bà Nhung trong giấy tờ chuyển nhượng đất với ông Phái, ông Sang (tổng là 24.168m2), còn bà Nhung đưa tiền cho ông Dân để ông Dân trả tiền cho ông Phái, ông Sang. Do đó, việc ông Phái, ông Sang không trực tiếp giao dịch với bà Nhung, không biết bà Nhung  là thực tế. Vậy mà ngay vào phần nhận định của Quyết định giám đốc thẩm, vị Thẩm phán, Chủ tọa đã viết một cách vừa ngây thơ rằng: “Căn cứ vào lời khai của ông Phái, ông Sang thì các ông bán đất cho ông Dân và không biết bà Nhung là ai, khi lập hợp đồng, ông Dân tự ghi tên bà Nhung”… và suy diễn rằng “Có cơ sở xác định ông Dân là người mua đất của ông Sang, ông Phái, ông Duyên, tổng diện tích đất là 32.636m2, sau đó ông Dân chuyển nhượng lại cho bà Nhung 1/2 diện tích đất”. Mục đích nhằm bác bỏ việc bà Nhung nhờ mua đất của ông Sang, ông Phái. Tuy nhiên, nhận định trên xác nhận việc ông Phái, ông Sang tuy là những người trực tiếp bán đất cho ông Dân nhưng khi viết hợp đồng, ông Dân lại tự ghi tên bà Nhung, như vậy càng chứng tỏ ông Dân mua đất không phải cho mình mà là mua hộ bà Nhung. Thực tế, trên hợp đồng chuyển nhượng đất của ông Phái và ông Sang đều đứng tên bà Nhung. Còn việc Tòa suy diễn để xác định ông Dân chuyển nhượng lại 1/2 diện tích đất của 3 ông (Thực tế đất của bà Nhung không liên quan gì đến đất ông Duyên) lại không có giấy tờ chứng minh, việc Tòa gộp cả đất ông Duyên bán cho ông Dân vào lại càng vô duyên.

2) “Bản ghi nhớ về hợp tác du lịch sinh thái” giữa ông Dân và bà Nhung ký ngày 21.5.2001 sau khi bà Nhung đã được cấp giấy chứmg nhận quyền sử dụng đất đã được Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xem xét và xác định là vô hiệu vì dự án không thực tế, chưa có sự giao nhận tiền và tài sản để cùng nhau hùn vốn, chưa thông qua UBND cấp có thẩm quyền hoặc công chứng. Thế nhưng, vị thẩm phán chủ tọa giám đốc thẩm tự cho đó là “bản cam kết góp vốn” và lý luận một cách chủ quan, bừa bãi “ba phải” rằng “việc có dự án hay chưa có dự án, có thông qua hay không thông qua UBND cấp có thẩm quyền hoặc dự án bị vô hiệu cũng không ảnh hưởng gì đến  việc xác định vốn góp của mỗi bên” và không cần biết bản ghi nhớ có giá trị pháp lý hay chưa, hai bên đã lập biên bản giao nhận đất và tài sản để thực hiện hợp tác đầu tư hay chưa mà dám kết luận một cách trái pháp luật rằng “Như vậy, quyền sử dụng diện tích đất và vị trí cụ thể phần đất của mỗi bên sau khi góp vốn không còn được xác định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà Nhung và ông Dân đứng tên nữa”(?).

Vớái lập luận đó, “bản ghi nhớ” chỉ do hai bên ký nhằm hứa hẹn triển khai sự hợp tác với nhau, mặc dù hai bên có thực hiện hay không đã có giá trị pháp lý cao hơn “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và phủ nhận cả “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của bà Nhung hay sao? Cứ suy diễn theo kiểu của Tòa giám đốc thì nếu bà Nhung ghi vào “bản ghi nhớ” về việc bà sẽ góp cả 24.168m2 đất để khi hợp tác bà có nhiều quyền hơn ông Dân thì mặc dù thực hiện hay không thực hiện “bản ghi nhớ” đó, bà cũng phải mất thêm một phần diện tích đất nữa hay sao? Đưa ra giả thiết này để thấy rõ những lập luận phi lý của Toà Dân sự TANDTC, bất chấp các quy định của pháp luật về tính pháp lý của văn bản để suy diễn, vượt trên pháp luật trong việc nhận định và kết luận công nhận từ “bản ghi nhớ” thành bản “cam kết hùn vốn” và không hợp pháp lại trở thành văn bản làm căn cứ phủ nhận cả “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đã có từ trước.

Giải pháp

Lẽ ra Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC cần kháng nghị đối với toàn bộ Quyết định giám đốc thẩm nêu trên để sửa lại phần nhận định phi lý của Tòa Dân sự TANDTC, tuy nhiên do phần Quyết định của Quyết định giám đốc thẩm đã hủy các bản án sơ thẩm và phúc thẩm để đưa vụ án về Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử lại từ đầu, nên cũng không cần thiết kháng nghị mà nêu ra để Tòa Dân sự TANDTC xem xét và rút kinh nghiệm, đồng thời Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên có căn cứ khách quan xem xét toàn diện để xét xử lại vụ án theo thẩm quyền và đúng pháp luật.

Để giải quyết vụ án trên, Tòa án cần phân biệt rõ phạm vi 2 vấn đề:

Một là, Tòa án cần khẳng định chủ quyền sử dụng diện tích 24.168m2 đất hợp pháp của bà Nhung theo Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất  số 01376 ngày 16.4.2001 của UBND huyện Tân Uyên.

Hai là, việc xét “Bản ghi nhớ về hợp tác du lịch sinh thái” được ông Dân và bà Nhung ký ngày 21.5.2001, Tòa cần giải quyết thỏa đáng và đồng bộ các nội dung cơ bản sau:

– Có “bản ghi nhớ” đó không?

– Nếu có, thì bản chất của “bản ghi nhớ” đó là gì? Mục đích, cách thức, thời gian thực hiện; nếu là dự án đầu tư thì dự án đã được hai bên và cấp có thẩm quyền thông qua chưa? nếu là góp đất thì thủ tục liên quan đến diện tích đất được tiến hành như thế nào? Cơ quan nào cho phép? Nếu là tài sản thì những căn cứ xác định tài sản của mỗi bên và việc bàn giao tài sản thế nào? Đã thực hiện chưa? Nếu là tiền vốn thì hai bên bàn bạc đóng góp cụ thể là bao nhiêu? Đã góp chưa?

– Hình thức “bản ghi nhớ” có hợp pháp hay không? Tư cách mỗi bên có hợp pháp hay không (có quyền hay ủy quyền góp đất)? Có người làm chứng hay không? Có cơ quan có thẩm quyền xác nhận, cho phép hay có công chứng hay không? Nếu là dự án đầu tư thì thủ tục hai bên lập và tự ký “bản ghi nhớ” có đúng quy trình để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của pháp luật hay không?

Căn cứ các nội dung nêu trên, Toá án sẽ xác định “bản ghi nhớ” có vô hiệu hay không, từ đó Tòa án mới có thể áp dụng các điều luật liên quan để giải quyết đúng pháp luật vụ án dân sự tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ở xã Tân Mỹ, huỵện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giữa ông Nguyễn Thiện Dân và bà Trần Thị Tuyết Nhung.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

Trích dẫn từ:

http://nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/85325/Default.aspx

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: