Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

KỸ THUẬT PHÁP LÝ HAY THẨM QUYỀN CỦA BỘ TRƯỞNG?

NGUYỄN THẾ DUY

Ngày 3.12.2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 178/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ (gọi chung là Bộ), thay thế Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 5.11.2002. Đối với Chính phủ và các bộ, Nghị định số 178 có ý nghĩa rất quan trọng, đây là văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tổ chức Chính phủ, làm cơ sở cho việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cụ thể của các Bộ, qua đó thể hiện sự phân công rành mạch giữa Chính phủ và các Bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, thực tế áp dụng Nghị định 178 cho thấy, có một số quy định chưa rõ ràng và chưa phù hợp với quy định của một số đạo luật hiện hành.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 178 thì trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, Bộ trưởng có nhiệm vụ “Trình Chính phủ chủ trương, biện pháp mở rộng quan hệ với nước ngoài; đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập và biện pháp bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.” Về quy định này, có hai cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng, Bộ trưởng chỉ có trách nhiệm trình Chính phủ việc “Đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập và biện pháp bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”, trong trường hợp này thì thẩm quyền quyết định là của Chính phủ. Cách hiểu thứ hai cho rằng, theo phân công của Chính phủ thì Bộ trưởng có quyền nhân danh mình để “Đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập và biện pháp bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”. Hai cách hiểu này dẫn đến hai hệ quả pháp lý khác nhau.

Theo chúng tôi, cách hiểu thứ nhất là phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật hiện hành về thẩm quyền của Chính phủ và của Bộ trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, nhưng do kỹ thuật thể hiện tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 178 chưa chuẩn xác, thiếu chữ “việc” trước dấu chấm phẩy (;) ngắt giữa hai đoạn nên dẫn đến cách hiểu thứ hai.

Còn cách hiểu thứ hai, (nếu không có đính chính) thì đó là thẩm quyền đương nhiên của Bộ trưởng được Chính phủ phân công trong Nghị định số 178 – khi thực hiện không cần thiết phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào ủy quyền. Trong trường hợp này thì quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 178 là không phù hợp với Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Theo quy định của Luật này thì việc ký, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ là thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Nước hoặc Chính phủ; trong trường hợp không trực tiếp thực hiện thẩm quyền này thì Chủ tịch Nước hoặc Chính phủ phải ủy quyền cho người có thẩm quyền để thực hiện. Vì vậy, nếu không được ủy quyền thì Bộ trưởng không thể nhân danh mình để ký, gia nhập bất cứ điều ước quốc tế nào, kể cả điều ước quốc tế về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của chính Bộ đó. Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Tổ chức Chính phủ thì trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, Bộ trưởng có nhiệm vụ “Trình Chính phủ việc ký kết, gia nhập, phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc ngành, lĩnh vực” thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Như vậy, theo cách hiểu thứ hai thì quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 178 còn không phù hợp với chính Luật Tổ chức Chính phủ.

Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì quy định như tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 178 cũng khó có thể chấp nhận được khi trao thẩm quyền phê chuẩn điều ước quốc tế cho Chính phủ (theo cách hiểu thứ nhất) hoặc cho Bộ trưởng (theo cách hiểu thứ hai). Theo chúng tôi thì ngay cả Chính phủ cũng không có thẩm quyền này, vì theo quy định của Hiến pháp năm 1992 thì chỉ có Quốc hội và Chủ tịch Nước mới có thẩm quyền phê chuẩn điều ước quốc tế. Khoản 7 Điều 2 của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế  quy định rõ “Phê chuẩn là hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc Chủ tịch Nước thực hiện để chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đối với nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Một vấn đề nữa trong Nghị định số 178 cũng cần phải làm rõ để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đó là khoản 2 Điều 11 của Nghị định số 178 giao Thủ tướng Chính phủ quyết định việc “Thành lập, tổ chức lại, giải thể các vụ, cục và tương đương, tổ chức sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước và tổ chức sự nghiệp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng chính phủ; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổng cục hoặc tương đương thuộc Bộ”. Việc phân quyền này là không phù hợp với khoản 3 Điều 16 của Luật Tổ chức Chính phủ, theo đó Chính phủ có thẩm quyền “Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.” Mặt khác, Điều 20 và Điều 21 của Luật Tổ chức Chính phủ về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ cũng không có một quy định nào làm căn cứ để từ đó giao Thủ tướng Chính phủ việc thành lập, giải thể hoặc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Bộ. Mặt khác, quy định tại khoản 2 Điều 11 của Nghị định số 178 còn không phù hợp với khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (cũng như không phù hợp với khoản 3 Điều 16 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008). Bởi, theo các luật đó thì Chính phủ dùng hình thức văn bản là Nghị định để “Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ” mà không giao Thủ tướng Chính phủ dùng hình thức văn bản là Quyết định để quy định nội dung này.

Thực tế, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 11 của Nghị định 178, trong thời gian qua một sô tổng cục thuộc Bộ đã được thành lập trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (mà không phải là Nghị định của Chính phủ) như: Tổng cục Biển và Hải đảo thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (Quyết định số 116/2008/QĐ-TTg), Tổng cục Dự trữ Nhà nước thuộc Bộ Tài chính (Quyết định số 106/2009/QĐ-TTg)…Tuy nhiên, có tổng cục thuộc Bộ lại do Chính phủ ban hành nghị định thành lập như Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp được thành lập trên cơ sở Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 9.9.2009 của Chính phủ.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

Trích dẫn từ:

http://nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/86159/Default.aspx

Advertisements

One Response

  1. Hiện nay, việc sử dụng câu, từ trong các văn bản pháp luật của một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền rất tùy tiện, không rõ nghĩa, làm cho việc hiểu và vận dụng rất khó khăn.Mong sao việc này sẽ được khắc phục trong tương lai gần nhất.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: