DOANH NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NHÂN

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

1. AI LÀ DOANH NHÂN?

Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10), một câu hỏi được đặt ra, tưởng là đơn giản nhưng không dễ trả lời: Ai là doanh nhân? Doanh nhân là người kinh doanh. Vì vậy, để xác định ai là doanh nhân, cần làm rõ khái niệm kinh doanh.

Theo định nghĩa thông dụng, kinh doanh là hoạt động mưu cầu lợi nhuận (nói “mưu cầu” bao quát hơn “làm ra” vì có khi kinh doanh bị lỗ). Nội hàm này thể hiện trong định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1997 do Hoàng Phê chủ biên: “Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi”.

Luật Doanh nghiệp định nghĩa dài dòng hơn:

“Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Từ điển Thuật ngữ kinh doanh (Dictionary of business terms – tiếng Anh) năm 1987 do Jack P. Friedman chủ biên, định nghĩa “Kinh doanh (business) là nghề nghiệp hoặc hoạt động thương mại mưu cầu lợi nhuận bằng việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Kinh doanh do các doanh nhân (entrepreneur) bỏ vốn cho một hoạt động chịu rủi ro để kiếm lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh được gọi là doanh nghiệp. Quy mô của nó từ hộ kinh doanh của chủ sở hữu cá thể đến công ty, tập đoàn quốc tế có vốn hàng tỉ USD và sử dụng hàng nghìn lao động” (trong tiếng Anh entrepreneur nhấn mạnh khía cạnh người bỏ vốn đầu tư, còn từ này trong tiếng Pháp lại chú trọng khía cạnh quản lý, như định nghĩa của Từ điển Larousse 2002: “Entrepreneur là người đứng đầu một doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây nhà hoặc xây dựng công trình công cộng. Về luật pháp, entrepreneur là người trong một hợp đồng kinh doanh cam kết thực hiện một công việc cho người chủ công trình (tiếng Việt gọi là thầu khoán hoặc nhà thầu)”.

Từ các định nghĩa trên, có thể nói kinh doanh gồm hai việc:

– Bỏ vốn đầu tư kinh doanh;

– Quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nhân hay nhà kinh doanh là người thực hiện cả hai việc hoặc một trong hai việc ấy?

Có ý kiến cho rằng khi chủ doanh nghiệp trực tiếp giữ vị trí chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc một doanh nghiệp thì họ là doanh nhân vì họ trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp; còn nếu chủ doanh nghiệp thuê giám đốc để điều hành doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp là doanh nhân, còn giám đốc chỉ là người làm thuê, không phải là doanh nhân. Nói như vậy chưa thoả đáng vì quản lý, điều hành doanh nghiệp, dù là làm thuê cũng có chức năng và mục tiêu hoạt động là tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng việc cung cấp cho xã hội sản phẩm hoặc dịch vụ; thêm vào đó, ngày càng có nhiều người trong số này trở thành cổ đông của doanh nghiệp. Họ có vai trò quan trọng trong kinh doanh, phải có kiến thức và văn hoá kinh doanh, nên không thể loại họ ra ngoài hàng ngũ doanh nhân, kể cả khi họ chỉ làm thuê cho chủ doanh nghiệp.

Nói tóm tắt, có thể coi doanh nhân là những người làm cả hai việc nêu trên hoặc một trong hai việc. Về việc bỏ vốn đầu tư thì phải phân tích sâu hơn: đối với các công ty cổ phần gồm nhiều cổ đông, thì chỉ cổ đông chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối, có vai trò quyết định đối với hoạt động của doanh nghiệp mới được coi là doanh nhân, vì những cổ đông khác tuy có tham gia (hoặc cử đại diện tham gia) đại hội cổ đông, được bỏ phiếu về một số vấn đề của doanh nghiệp nhưng không có tiếng nói trong hoạt động thường xuyên của doanh nghiêp, nghĩa là không trực tiếp làm công việc kinh doanh. Về người quản lý kinh doanh, có ý kiến cho rằng đối với các doanh nghiệp lớn, ngoài tổng giám đốc phải coi giám đốc kinh doanh, giám đốc tài chính v.v… cũng đích thực là doanh nhân; tuy nhiên điều này phụ thuộc vào quy chế về chức năng và trách nhiệm của từng doanh nghiệp đối với các giám đốc điều hành từng lĩnh vực.

Những người chủ doanh nghiệp và người giám đốc doanh nghiệp là đơn vị kinh tế được thành lập theo luật Doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã) là lực lượng chủ yếu trong tầng lớp doanh nhân vì đó là những người kinh doanh có vai trò quyết định trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như trong việc sử dụng lao động. Theo Niên giám thống kê 2008, tính đến cuối năm 2007 cả nước có 155.771 doanh nghiệp, sử dụng 7.382.160 lao động (chiếm 16,7% tổng số lao động đang làm việc trong toàn bộ các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế; riêng trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng thì số lao động trong các doanh nghiệp chiếm 58,6%), tạo ra khoảng trên một nửa tổng sản phẩm trong nước(GDP). Như vậy trong các doanh nghiệp thành lập theo luật có khoảng 300.000 doanh nhân.

Ở nước ta, tầng lớp doanh nhân phải kể cả những người kinh doanh dưới hình thức hộ cá thể (như định nghĩa của Dictionary of business terms). Trong các ngành phi nông nghiệp, có những hộ kinh doanh cá thể sử dụng hàng trăm lao động nhưng vì nhiều lý do, họ chưa đăng ký thành doanh nghiệp. Trong loại hình này, người bỏ vốn đầu tư thường trực tiếp quản lý kinh doanh, nên với 3.748.138 hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp có đến cuối năm 2007 (theo Niên giám thống kê 2008), nước ta có xấp xỉ 4 triệu doanh nhân cá thể.

Trong nông nghiệp, theo Niên giám thống kê 2008, đến cuối năm 2007 có 116.222 trang trại và những người chủ trang trại mang đầy đủ tính cách của doanh nhân. Ngoài ra, những hộ nông dân cá thể mà toàn bộ hoặc hầu hết sản phẩm làm ra để bán trên thị trường nên rất cần kiến thức kinh doanh và thông tin thị trường, cũng phải được coi là doanh nhân, mặc dù tính cách và năng lực kinh doanh còn có hạn. Chưa có con số thống kê nhưng phải tính tới vài triệu doanh nhân trong hơn 10 triệu hộ nông dân cá thể.

Như vậy, tầng lớp doanh nhân nước ta rất đông đảo, gồm nhiều loại ở nhiều tầm cỡ và trình độ khác nhau (chưa kể các hộ kinh doanh nông nghiệp cá thể thì đến nay đã có xấp xỉ 5 triệu doanh nhân). Tng lớp này đang tiếp tục phát triển về số lượng và cần nâng cao chất lượng cả về trình độ, năng lực kinh doanh và trách nhiệm xã hội, xứng đáng là một thành phần liên kết với công nhân, nông dân và trí thức để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.

2. VỊ TRÍ CỦA TẦNG LỚP DOANH NHÂN TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Đại đoàn kết dân tộc tạo ra nguồn sức mạnh vô tận của nhân dân ta, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước cũng như đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tiến trình phát triển của nước ta khẳng định chân lý đó.

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng nào? Từ những năm xây dựng đất nước theo mô hình chủ nghĩa xã hội nhà nước với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cho đến nay, các văn kiện của Đảng luôn xác định nền tảng đó là liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vậy vị trí và vai trò của tầng lớp doanh nhân ở đâu khi chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường? Với những đóng góp thực tế của doanh nhân vào sự phát triển đất nước trong thời gian qua, nhiều bài viết trên báo chí đã gọi tầng lớp này là “người lính, người xung kích trong thời bình”, là “lực lượng chủ lực của nền kinh tế”, là “nhân vật trung tâm của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà”… Các cụm từ ấy nói lên tính cách và tầm quan trọng của doanh nhân nhưng chưa xác định tầng lớp này có vai trò gì trong khối đại đoàn kết dân tộc, có nằm trong nền tảng liên minh với công–nông–trí thức không hay chỉ là thành phần phụ thuộc, hoặc nói một cách dân dã, là tầng lớp ăn theo?

Quá trình đổi mới trên đất nước ta đã tạo môi trường và điều kiện ngày càng thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ doanh nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế, hình thành một tầng lớp đông đảo; đến nay có gần năm triệu người (chưa kể nông dân sản xuất để bán sản phẩm ra thị trường, trở thành người kinh doanh), trong đó khoảng một phần ba là doanh nhân làm chủ và quản lý các doanh nghiệp (doanh nghiệp ở đây được dùng theo nghĩa rộng bao gồm cả hợp tác xã, trang trại hoặc kinh doanh cá thể có đăng ký). Ai cũng thấy trong nền kinh tế thị trường, doanh nhân là người có vai trò quyết định sự phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần quan trọng tạo việc làm và đóng góp cho ngân sách nhà nước, đồng thời tham gia phát triển văn hoá, xã hội.

Quan hệ của doanh nhân với công nhân, nông dân và trí thức không chỉ dựa vào sự hoà đồng về lòng yêu nước và tinh thần dân tộc mà còn có sự gắn bó về lợi ích. Thêm vào đó, trong sự phát triển tự nhiên của đời sống xã hội, có không ít công nhân, nông dân, trí thức trở thành doanh nhân và cũng có những doanh nhân đồng thời là người trực tiếp sản xuất và có trình độ trí thức.

Trong quan hệ về lợi ích giữa doanh nhân và công nhân, mặt chủ yếu không phải là sự đối kháng theo quan điểm đấu tranh giai cấp máy móc, mà là sự hợp tác giữa người đầu tư vốn tạo việc làm và người có sức lao động cần chỗ làm việc, hai bên dựa vào nhau và cùng có lợi, cùng làm giàu cho mình và cho đất nước. Nhà nước ban hành luật Lao động để điều hoà lợi ích của cả hai phía, giải quyết mâu thuẫn nảy sinh, quan tâm bảo hộ quyn lợi của người làm thuê thường yếu thế hơn, đồng thời có chính sách điều tiết thu nhập hợp lý để thực hiện công bằng xã hội nhưng không làm nản chí người đầu tư kinh doanh. Khi doanh nhân thực hiện đúng các quy định của luật pháp, thì có thể coi lợi nhuận kinh doanh còn lại sau khi nộp thuế là chính đáng, bao gồm thu nhập từ công lao động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp (là loại lao động phức tạp, đòi hỏi cao về trí tuệ và tâm sức), từ lãi suất của đồng vốn và có phần bù đắp cho những rủi ro trong kinh doanh (không phải mọi trường hợp đầu tư kinh doanh đều có lãi). Lợi nhuận đó có tác dụng kích thích đầu tư kinh doanh và là nguồn vốn mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm và của cải cho xã hội. Quan điểm giáo điều, máy móc về đấu tranh giai cấp và xoá bỏ bóc lột không phù hợp với cuộc sống và không có lợi cho việc thực hiện dân giàu, nước mạnh. Vì lẽ đó, trong các đặc trưng chủ yếu của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, Đại hội VII của Đảng năm 1991 nêu: “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công”, đến Đại hội X năm 2006 đã bỏ đi hai chữ “bóc lột”.

Đối với nông dân, doanh nhân và các doanh nghiệp là người cung ứng đầu vào (vật tư và vốn) cho sản xuất, người mua gom, chế biến và tiêu thụ nông sản, giúp cho sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường trong cả nước và thị trường ngoài nước. Sự liên kết nông dân với doanh nhân là yếu tố rất quan trọng để phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, mở rộng ngành nghề ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân. Thực tế đòi hỏi phải tăng cường và cải thiện sự liên kết này để bảo đảm hài hoà lợi ích của các bên, khắc phục tình trạng sản xuất và thu nhập của nông dân không ổn định, chịu thua thiệt.

Sự phát triển của kinh tế thị trường đặt doanh nhân và các doanh nghiệp vào địa vị đối tác quan trọng trong việc đặt hàng và ứng dụng kết quả nghiên cứu của các cơ sở khoa học và công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu công nghệ của doanh nghiệp. Sự liên kết trí thức với doanh nhân vừa thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ gắn với thực tiễn vừa nâng cao trình độ công nghệ và quản lý của doanh nghiệp. Tiếc rằng do nhiều nguyên nhân, sự liên kết đó đến nay vẫn còn yếu.

Dù còn có mặt bất cập, song ở nước ta, liên minh giữa công nhân, nông dân, trí thức và doanh nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hình thành trong thực tế và ngày càng gắn bó. Có thể nói trong liên minh các giai cấp và tầng lớp làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà thiếu tầng lớp doanh nhân thì không phù hợp với thực tế và không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Giải quyết đúng đắn vấn đề này không những tôn vinh tầng lớp doanh nhân một cách thiết thực mà còn đòi hỏi tầng lớp này phải có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, khắc phục những mặt còn yếu về quy mô, về trình độ, năng lực quản lý, về trách nhiệm xã hội và văn hoá kinh doanh, đồng thời thúc đẩy sự liên kết bền vững giữa doanh nhân với công nhân, nông dân, trí thức. Đó là giải pháp quan trọng để phát huy cao hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Civillawinfor tổng hợp các bài viết của tác giả TRẦN ĐỨC NGUYÊN – Tên bài viết do Civillawinfor đặt

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Trích dẫn từ:

http://sgtt.com.vn/detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=58252&fld=HTMG/2009/1015/58252

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: