LAO ĐỘNG NỮ TRONG KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH THỨC Ở NƯỚC TA

HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Lao động nữ chiếm 47,8 % lực lượng lao động trong độ tuổi, nhưng chiếm đa số trong lực lượng lao động phổ thông ở nước ta(1). Song, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập liên quan đến quyền lợi của họ. Giải quyết được những bất cập, tồn tại đối với lao động nữ là một phần quan trọng trong quá trình thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay.

I – Đánh giá tổng quan về vấn đề lao động, việc làm đối với lao động nữ trong khu vực kinh tế chính thức(2)

Ở nước ta, lao động nữ là nguồn lực to lớn góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, cùng với những chính sách kinh tế đúng đắn, Đảng và Nhà nước đã thực hiện một hệ thống chính sách xã hội công bằng và tiến bộ, hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, kể cả nam và nữ đều có thể đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Thực tế cũng khẳng định, tiềm năng lao động nữ đã được phát huy và vị thế của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm ở cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

1 – Thực trạng lao động nữ trong lao động, việc làm, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực

Báo cáo thống kê gần nhất của Tổng cục Thống kê (đầu năm 2008), dân số nước ta có khoảng 86,3 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,9%. Tính riêng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, cả nước có khoảng 44,1 triệu lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có gần 21,1 triệu lao động là nữ (chiếm 47,8%).

 – Theo số liệu một cuộc điều tra về lao động – việc làm năm 2007 cho thấy, lao động nữ tham gia vào thị trường lao động sớm hơn nam giới, nhưng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn phụ nữ khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, thậm chí nhiều người chỉ tốt nghiệp tiểu học, không tiếp tục học lên mà tham gia ngay vào thị trường lao động. Đa số phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực: dệt, may, da giày (78,5%); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8%); sành, sứ, thủy tinh (59,2%). Nhìn chung, lao động phổ thông nữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (62,9%), sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6%) và doanh nghiệp nhà nước là 49,1%.– Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thấp hơn so với nam giới.

Biểu 1: Tỷ lệ lao động phân theo giới tính và trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2007

Đơn vị:%

 

Lao động phổ thông

CNKT không có bằng

CNKT có bằng

Trung cấp

Cao đẳng, đại học

Chung

100

100

100

100

100

Lao động nữ

55,59

38,1

30,1

47,5

41,2

Nguồn: Điều tra lao động – việc làm năm 2007 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, và tính toán của tác giả

– Tình trạng có việc làm của lao động nữ cũng kém hơn so với lao động nam, tỷ lệ lao động nữ thất nghiệp ở thành thị cũng cao hơn mức chung của cả nước. Năm 2007, cả nước có trên 2,5 triệu lao động thiếu việc làm, trong đó nữ chiếm 51%. Lao động thiếu việc làm chủ yếutập trung ở nông thôn (88,87%) – khu vực lao động nữ chiếm số lượng lớn.

Biểu 2 . Tình trạng việc làm của lao động nữ (đơn vị %)

  Thất nghiệp thành thị Thất nghiệp nông thôn

Chung cả nước

4,6

1,7

Lao động nữ

5,2

2,6

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê (năm 2008) và tính toán của tác giả

– Trong khu vực có quan hệ lao động, phụ nữ chỉ chiếm 40% số việc làm được trả lương và chiếm tỷ lệ thấp trong ngành nghề bậc cao (quản lý, chuyên môn kỹ thuật), chiếm tỷ lệ cao trong nghề bậc trung và nghề bậc thấp.

2 – Chính sách tiền lương và thu nhập đối với lao động nữ

Trong các doanh nghiệp, tiền lương tối thiểu phụ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế. Do đó, tiền lương, tiền công trả cho người lao động bảo đảm được tính công bằng, không có sự phân biệt về giới. Tuy nhiên, trong thực tế, lao động nữ nhận tiền lương và thu nhập thấp hơn nam giới.

Một số ngành sử dụng nhiều lao động nữ như: dệt may, giày da, lắp ráp điện tử, phần lớn là lao động ngoại tỉnh và chủ yếu là ký các hợp đồng ngắn hạn. Đối với số lao động này, người sử dụng lao động thường không đóng BHXH và bản thân người lao động cũng trốn tránh việc đóng BHXH bởi không muốn bị bớt xén vào đồng lương quá ít ỏi.

Báo cáo năm 2008 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy, thu nhập bình quân của lao động nữ luôn thấp hơn mức thu nhập chung ở mọi cấp so sánh. Điều đó cũng có nghĩa là thu nhập của lao động nữ luôn thấp hơn lao động nam. Mức thu nhập bình quân chung của lao động nam hiện nay khoảng 1,2 triệu đồng/tháng (trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) và mức thu nhập bình quân chung của lao động nữ là khoảng 1,1 triệu đồng/ tháng. Như vậy, thu nhập bình quân chung của lao động nữ chỉ bằng 89% thu nhập của nam giới và lao động nữ chỉ nhận được 86% mức tiền công cơ bản của nam giới.

3 – Chế độ, chính sách đối với lao động nữ

a – Chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và phúc lợi xã hội

Xét về mặt chính sách, pháp luật không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Tuy nhiên, trên thực tế sự khác biệt giới trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) vẫn tồn tại ở các mặt sau:

– Về tuổi hưu, đa số người lao động đồng tình với các điều khoản quy định trong luật. Tuy nhiên, một số người lao động lại cho rằng nên quy định tuổi hưu của nữ ngang bằng với nam. Trên thực tế, tuổi hưu bình quân thực tế giữa nam và nữ đều thấp hơn tuổi quy định và có sự chênh lệch khá xa giữa nam và nữ. Theo báo cáo của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2008), tuổi hưu bình quân của nam là 54,8 tuổi so với 60 tuổi và nữ là 49,2 tuổi so với 55 tuổi, chệnh lệch tuổi hưu giữa nam và nữ là 5,6 tuổi. Như vây, lao động nữ hết tuổi lao động sớm hơn nam giới, dẫn đến lương hưu sẽ thấp hơn lao động nam.

– Theo quy định của pháp luật, lao động nữ khi sinh con được nghỉ từ 4-6 tháng. Tuy nhiên, một số lao động nữ chỉ nghỉ 2 hoặc 3 tháng, họ tự nguyện đi làm trước thời hạn. Lý do chính là sợ bị mất việc làm, và muốn có thêm thu nhập. Mặt khác, các quy trình, thủ tục thực hiện chế độ BHXH hiện nay còn nhiều bất cập, rào cản, nhiêu khê.

b – Chính sách ưu tiên trong tuyển dụng lao động và đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ

– Điều 110 của Bộ luật Lao động sửa đổi (năm 2002) quy định: Các doanh nghiệp phải thực hiện đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ ngoài nghề đang làm để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý. Nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 5% số doanh nghiệp thực hiện đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ, trong số đó chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước. Đào tạo nghề dự phòng là việc cần thiết cho cả lao động nữ và nam trong điều kiện nền kinh tế có nhiều chuyển đổi về cơ cấu sản xuất, kinh doanh như hiện nay.

4 – Điều kiện, môi trường lao động đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp

a – Giờ làm việc và tình trạng làm thêm giờ

Lao động nữ chưa được đối xử bình đẳng trong tuyển dụng vì lý do phụ nữ có trách nhiệm lớn lao khi sinh đẻ và nuôi con nhỏ. ở một số doanh nghiệp có áp đặt quy định trong một thời hạn nhất định, lao động nữ không được lập gia đình hoặc sinh con. Thậm chí, một số doanh nghiệp tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh đã buộc thôi việc đối với lao động phổ thông nữ khi họ mang thai.

Theo quy định của Bộ Luật Lao động, người lao động làm việc 40giờ/tuần. Nhưng trên thực tế, đa số người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng phải làm việc vượt quá thời gian quy định. Khoảng 60% số lao động nữ và 48,9% số lao động nam làm việc thêm giờ với thời lượng quá 4h/ngày, trong những cơ sở sản xuất nhỏ thì con số này còn cao hơn nhiều. (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2008). Tình trạng kéo dài thời gian lao động ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ của người lao động, trong đó có sức khỏe sinh sản của lao động nữ

b – Môi trường làm việc và bảo hộ lao động

Môi trường lao động là nơi những người lao động thực hiện những hoạt động sản xuất, dịch vụ. Chính trong môi trường này, người lao động phải chịu đựng các yếu tố cấu thành môi trường lao động. Điều này ảnh hưởng tới sức khỏe và về lâu dài sẽ gây ra các “bệnh nghề nghiệp”. Những yếu tố dễ nhận biết và thường gặp nhất là bụi, các chất khí và chất thải độc hại, nhiệt độ cao và tiếng ồn. Hiện nay, môi trường làm việc của các doanh nghiệp đều vượt quá tiêu chuẩn quy định cho phép, có khoảng 23% số lao động phải làm việc trong môi trường độc hại. Để bảo đảm an toàn và sức khỏe cho người lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đào tạo về an toàn, vệ sinh lao động và trang bị các phương tiện bảo hộ cho người lao động.

c – Vấn đề sức khỏe của lao động nữ

Theo quy định, khi lao động nữ có thai đến tháng thứ 7, các doanh nghiệp không được ép buộc làm thêm giờ, làm ca đêm hoặc đi công tác xa, được tạo điều kiện chuyển sang làm các công việc khác nhẹ hơn. Tuy nhiên, việc chấp hành các quy định này ở các doanh nghiệp nói chung là chưa tốt, số doanh nghiệp vi phạm vẫn còn khá phổ biến. Theo quy định của Bộ luật Lao động, lao động nữ có thai được phép nghỉ việc để đi khám thai, được nghỉ việc trong trường hợp sảy thai nhưng vẫn được hưởng bảo hiểm. Tuy vậy, số doanh nghiệp áp dụng đầy đủ quy định này hiện nay là rất ít.

II – Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm

– Các quy định cần phải được thể chế hóa thành luật như Luật BHXH, Luật Bảo hiểm thất nghiệp, nhất là Luật Bình đẳng giới để tạo khung chính sách, hành lang pháp lý, biện pháp chế tài cho việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động – việc làm nói riêng và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung.

Như đã nêu ở trên, lao động nữ thường kết thúc học tập và bước vào thị trường lao động sớm hơn nam giới, do đó lao động nữ thường có tay nghề và trình độ học vấn thấp hơn nam giới. Hơn nữa, phụ nữ còn có thiên chức làm vợ, làm mẹ nên phải dành một khoảng thời gian không nhỏ cho gia đình. Vì thế, thời gian để dành cho công việc, cống hiến cho xã hội cũng như cơ hội để thăng tiến trong công việc của phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới. Khoảng cách này có thể giảm dần khi Nhà nước có một chính sách mạnh làm triệt tiêu dần những yếu tố tạo nên khoảng cách này, đặc biệt là chính sách giáo dục – đào tạo, chính sách thị trường lao động, chính sách kinh tế… đối với lao động nữ.

Hiện nay, còn tồn tại khoảng cách giới có nguyên nhân từ: sinh học, xã hội, lịch sử, phong tục, tập quán… làm cho quãng đời học tập và lao động, cống hiến của phụ nữ và nam giới còn có sự bất bình đẳng.

– Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, các rào cản về thương mại, đầu tư được xóa bỏ, sẽ có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Do đó, thị trường lao động sẽ sôi động và đa dạng hơn. Nhưng tính cạnh tranh cũng sẽ gay gắt hơn, cơ chế tuyển dụng cũng sẽ ngày càng khắt khe hơn. Những lợi thế về số lượng và giá thành sản phẩm là một trong những yếu tố khiến thị trường lao động đòi hỏi chất lượng và trình độ chuyên môn cao hơn. Vì vậy, những rủi ro dẫn đến mất việc làm, thất nghiệp, giảm thu nhập cũng sẽ lớn hơn và lao động nữ nằm trong nhóm có nguy cơ thất nghiệp cao hơn lao động nam.

Do đó, cần thiết thực hiện một số giải pháp sau để hỗ trợ cho lao động nữ tránh khỏi nguy cơ thất nghiệp và đỡ thiệt thòi trong chế độ, chính sách lao động:

– Hoàn thiện chính sách thị trường lao động để hỗ trợ cả nam và nữ, nhưng ưu tiên hơn đối với lao động nữ để họ sớm trở lại thị trường lao động.

– Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, trong đó đa dạng hóa BHXH, BHYT. Cần sớm ban hành đầy đủ các văn bản dưới luật thực thi Luật Bảo hiểm thất nghiệp để hỗ trợ người lao động trong trường hợp người lao động mất việc làm, thất nghiệp và sớm đưa họ trở lại với thị trường lao động. Mở rộng đối tượng thụ hưởng nhất là đối với lao động nữ trong khu vực doanh nghiệp phi chính thức, hộ gia đình, phụ nữ nghèo ở nông thôn.

– Rà soát và sửa đổi những vấn đề còn bất cập trong việc giải quyết các chế độ về BHYT đối với người lao động, nhất là lao động nữ để cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhất là sức khỏe sinh sản của lao động nữ, và đưa dịch vụ này vào BHYT. Thực hiện các chương trình hỗ trợ để phụ nữ tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là các dịch vụ chất lượng cao về y tế, giáo dục…

– Cần có sự hỗ trợ về thu nhập cho gia đình, bao gồm cả phụ nữ và bà mẹ mang thai, những người không thể tham gia hoạt động kinh tế vì lý do sức khỏe hoặc do chức năng sinh học và trách nhiệm chăm sóc xã hội. Có chế độ phúc lợi gia đình, giúp họ trang trải các chi phí giáo dục cũng như bù đắp thiệt hại về kinh tế đối với hộ gia đình có bà mẹ không thể tham gia được vào thị trường lao động.

– Hiện nay, khả năng cạnh tranh của lao động nữ vẫn thấp hơn nam giới. Vì vậy, cần tạo điều kiện để nâng cao khả năng cạnh tranh của lao động nữ, nhất là chính sách đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực cho phụ nữ.

– Cải thiện về tiêu chuẩn an toàn và sức khỏe cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ, cần ưu tiên cho việc triểnkhai và tăng cường hiệu lực thực hiện pháp luật về laođộng và pháp luật về BHXH./.

—————————————

(1) Nguồn và số liệu trong bài được sử dụng từ Bộ Lao động – Thương binh và xã hội; Tổng cục Thống kê; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

(2) Khu vực kinh tế chính thức ở đây được hiểu là những doanh nghiệp được thành lập theo luật và hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp này nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư , Luật Đất đai, Bộ Luật Lao động…

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 20 (188) NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: