Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUYỀN QUYẾT ĐỊNH VÀ NĂNG LỰC QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

NGUYỄN ĐỨC LAM

Một vị đại biểu quốc hội (ĐBQH) kể lại, Quôc hội (QH) khoá XI đã từng phải bàn luận rất nhiều, rất căng thẳng về phương án đập Sơn La cao hay thấp trước khi quyết. Bản thân ông cũng rẩt băn khoăn trước tầm quan trọng của vấn đề. Trước khi tham gia biểu quyết về phương án đập Sơn La cao hay thấp, ông đã phải nhân ngày nghỉ cuối tuần trong kỳ họp để đến hỏi ý kiến một vị tướng, đồng thời là nhà sử học; rồi bay vào Nam hỏi một GS khả kính trong làng sử học; hỏi cả một vị cựu lãnh đạo cấp cao từng có những quyết sách kinh tế táo bạo. Nhưng ba người đưa ra ba phương án khác nhau. Cuối cùng, vị ĐBQH vẫn phải tự quyết định câu trả lời lấy để bấm nút[1].

Câu chuyện này cho thấy, quyết là một quyền to nhất, nhưng cũng là gánh nặng trách nhiệm của QH và từng ĐBQH. Làm thế nào để ĐBQH có thể quyết mà tâm thanh thản, an tâm rằng mình đã quyết đúng theo những gì được cho là tốt nhất cho những lợi ích mà ĐBQH cần bảo vệ? Bài viết này thử tìm hiểu câu trả lời từ những câu chuyện thực tế, những lời phát biểu, trả lời phỏng vấn của các ĐBQH, đồng thời dựa trên những quy định pháp luật, những kiến thức về hệ thống đại diện ở Việt Nam và lý thuyết về quá trình ra quyết định. Bài viết có bốn phần. Phần I tạm gọi là Khái niệm sẽ đề cập đến những vấn đề chung như: định danh thế nào là quyết định đặt trong bối cảnh hoạt động của một ĐBQH, năng lực quyết định là gì; những đặc thù của quá trình ra quyết định ở môi trường Quốc hội; phạm vi của quyết định do ĐBQH đưa ra. Phần II điểm lại những vướng mắc lớn trong thực tế ra quyết định của ĐBQH. Phần III giải thích một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này bao gồm: do quy trình ra quyết định; do đại biểu thiếu thông tin, thiếu động lực, thiếu kỹ năng. Cuối cùng, Phần IV đề xuất thiết kế lại một chút quy trình ra quyết định hiện nay ở nghị trường; tạo điều kiện hỗ trợ cho đại biểu quyết định; dựa vào cử tri và các quyền sẵn có của ĐBQH để quyết; và nâng cao năng lực cá nhân của ĐBQH trong quá trình ban hành quyết định.

I- Khái niệm

1. Định nghĩa, phạm vi vấn đề

Bài viết này chủ yếu đề cập đến năng lực quyết định của cá nhân đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, khái niệm “quyết định” trong bài này không chỉ nói đến chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, mà quyết định cả những vấn đề khác như khi biểu quyết một dự luật, chất vấn bộ trưởng, thảo luận ngân sách… Nó cũng không chỉ đề cập đến thời khắc mà cá nhân ĐBQH đưa ra quyết định cuối cùng khi bấm nút, mà có ý nghĩa rộng hơn, bao gồm cả một quá trình, ví dụ từ lúc quyết định có tiếp dân ở nhà không, có đưa một vấn đề ra trước phiên họp hay không, hoặc có định chất vấn bộ trưởng không v.v… Ngoài ra, mặc dù nói đến việc quyết định của cá nhân ĐBQH, nhưng mỗi ĐBQH lại hoạt động  trong một môi trường rộng lớn, thống nhất là QH. Cho nên, không thể không nói đến, dù ít hơn, những nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của ĐBQH trong môi trường đó. Như vậy, “quyết định” ở đây có phạm vi rộng hơn nghĩa thông thường của một cá nhân nhất định tại một thời khắc nhất định.

Muốn quyết định được thì trước hết phải có năng lực để làm việc đó. UNDP định nghĩa năng lực là khả năng bền vững của cá nhân, tổ chức và xã hội trong việc thực thi chức năng, tháo gỡ vấn đề và đặt ra mục tiêu và đạt mục tiêu đó[2]. Dựa trên định nghĩa này, về năng lực quyết định của ĐBQH, chúng tôi quan niệm rằng đó là khả năng của ĐBQH trong việc lựa chọn phương án hp lý nhất tại thời điểm ra quyết định để quyết định, hướng tới hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ hiến định của mình. Trong đó, quan trọng nhất là quyết định như thế nào để cân bằng, bảo vệ tốt nhất cả hai nhóm lợi ích mà ĐBQH cần bảo vệ- lợi ích quốc gia và lợi ích cử tri.

Chức năng nào thì năng lực ấy. Chức năng càng quan trọng thì năng lực phải càng cao, nhất là ở một tầm như cơ quan đại diện. Tuy nhiên, Hiến pháp chỉ có thể trao ĐBQH các chức năng, nhiệm vụ, chứ không thể trao các năng lực tương ứng. Mà thiếu các năng lực tương ứng, việc giao phó các chức năng lại có vẻ rất giống với việc “trao bằng cho người chưa tốt nghiệp”[3]. Như vậy, muốn tìm hiểu ĐBQH quyết định ra sao, có đúng tầm đại diện hay không, cần đánh giá năng lực quyết định. Cũng  theo UNDP, đánh giá năng lực là sự phân tích các năng lực hiện tại so với những năng lực cần có trong tương lai. Kết quả của đánh giá năng lực là mô tả và thấu hiểu các tài sản năng lực (capacity assets) và sự cần thiết điều chỉnh hoặc/và tăng cường năng lực để phục vụ hoạch định/hình thành các chiến lược phát triển năng lực[4]. Khuôn khổ đánh giá năng lực bao gồm ba phương diện: những vấn đề thuộc khuôn khổ chính sách, pháp luật, ví dụ như Điều lệ Đảng, Hiến pháp, các đạo luật, Nội quy, Quy chế có ảnh hưởng như thế nào đến năng lực quyết định của ĐBQH; những vấn đề thuộc khuôn khổ thể chế, tổ chức, ví dụ như tổ chức của QH, các cơ quan của QH, Đoàn ĐBQH, Văn phòng QH đã tác động lên việc quyết định của ĐBQH ra sao; những vấn đề thuộc năng lực cá nhân đại biểu. Như đã nói ở trên, việc phân tích hai phương diện khuôn khổ pháp luật và khuôn khổ thể chế cũng nhằm làm rõ thêm quá trình ra quyết định của cá nhân ĐBQH, chứ không phải là mục đích tự thân.

2. Đặc thù của quá trình ra quyết định ở Quốc hội

ĐBQH ra quyết định trong một môi trường với những đặc thù mà chỉ có ở đó mới có. Những điểm đặc thù này ít nhiều đều tác động lên quá trình quyết định của cá nhân ĐBQH. Đó là: dân chủ đại diện; các mối quan hệ đan chéo nhau; cơ chế biểu quyết dựa trên đa số của những lá phiếu độc lập; tâm lý đám đông.

2.1. Dân chủ đại diện

Trước hết, quá trình ra quyết định ở QH diễn ra trong một thiết chế dân chủ đại diện. Có nhiều định nghĩa về dân chủ, nhưng có thể hiểu một cách giản dị, dân chủ nghĩa là dân làm chủ. Một quyền quan trọng nhất của người làm chủ, đó là quyền quyết định của dân. Mà một kênh chủ yếu để làm chủ ở đây là QH, bởi lẽ QH đại diện cho nhân dân. Như vậy, mỗi khi đưa ra một quyết định nào đó, ĐBQH không phải quyết cho bản thân mình, cũng không phải quyết cho một nhóm nhỏ nào, mà quyết thay những người đã uỷ quyền cho mình- những cử tri đã bỏ phiếu cho ĐB đó. Từ gốc ngữ nghĩa, Quốc hội là Hội nghị quốc dân, nghĩa là nơi những người đại biểu cho cử tri cả nước tranh luận, thảo luận, để mỗi quyết định đưa ra đều đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, và mỗi đại biểu bấm nút quyết định với đầy đủ hiểu biết và trách nhiệm.

Đại diện không có nghĩa là các vị đại biểu sẽ phải trực tiếp giải quyết riêng từng chuyện của từng cử tri, vì đơn giản là đại biểu không thể nào làm được như thế. Điều mà các đại biểu cần phải làm là lên tiếng, đưa những câu chuyện lợi ích ra trước diễn đàn Quốc hội, dùng sức cộng hưởng của diễn đàn QH và dùng các cơ chế áp đặt trách nhiệm để gây áp lực thúc các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương giải quyết các chuyện của cử tri. Đây là trách nhiệm, đồng thời là động lực để ĐBQH quyết định về một vấn đề nào đó đang được tranh luận ở QH, hoặc quyết định để đưa vấn đề ra trước QH. Hoặc lúc bấm nút biểu quyết một dự luật hay hay một quyết sách nào đó, trong đầu vị đại biểu luôn thường trực câu hỏi: bấm nút thì lợi ích của những cử tri bầu ra mình và hang triệu cử tri khác sẽ ra sao, tốt lên hay xấu đi? Cái khó của ĐBQH là nhạy cảm với từng độ rung nhẹ nhất của cuộc sống; và làm sao lần ra, dò cảm, sắp xếp xem lợi ích nào cần được bảo vệ, lợi ích nào cần được tính đến trước, cái nào có thể để sau, loại bỏ lợi ích tư túi để từ đó có những quyết định đúng đắn nhất.

Khi các lợi ích được đặt lên bàn cân, tính toán thiệt hơn mọi nhẽ trong quá trình ra quyết định ở Quốc hội trước khi quyết thì có mấy cái lợi sau: các lợi ích được điều hoà, dung hoà, cân bằng, tạo ra sự ổn định trong xã hội; các lợi ích được sắp xếp giải quyết theo thứ tự ưu tiên hợp lý hơn, được lòng nhiều thành viên hơn, tạo ra trật tự trong khi giải quyết công việc; trong nhiều trường hợp, bàn luận lâu hơn một chút để ra quyết sách hợp lý lại tiết kiệm cho quốc gia một khoản tiền khổng lồ. Có những chuyện khó, đụng chạm đến nhiều lợi ích, nhất là lợi ích công, nếu được đưa ra công khai, minh bạch trước Quốc hội thì ĐBQH sẽ có nhiều cơ hội tách bạch ra, dễ thấy lợi ích nào cần đáp ứng trước, lợi ích nào để sau, lợi ích nào mờ ám khi quyết định.

Vì phải cân nhắc kỹ như vậy trước khi đưa ra quyết định cuối cùng, ĐBQH phải được có cơ hội tìm hiểu, bàn bạc, thảo luận, nghĩa là quá trình ra quyết định cũng phải dân chủ. Ngoài những từ như “dân chủ trực tiếp”, “dân chủ đại diện”, ngành chính trị học và hiến pháp học trên thế giới còn có thuật ngữ tạm dịch là “dân chủ tranh luận” (deliberative democracy)[5]. Theo đó, quá trình ra quyết định, bất kể quyết định gì, đều phải trải qua một quá trình tranh luận công khai, bình đẳng; các bên, trong đó có công chúng, có cơ hội bày tỏ chính kiến, các ý kiến của các bên đều phải được lắng nghe. Như vậy, vốn là một thiết chế dân chủ, một diễn đàn thảo luận và ra những quyết sách quan trọng nhất của quốc gia, Quốc hội không chỉ góp phần mang lại dân chủ tranh luận, mà càng cần đến những thành tố của dân chủ trong quá trình tranh luận của chính Quốc hội.

Tranh luận là thành phần chủ chốt của một nền dân chủ hiệu quả. Tính hiệu quả của dân chủ thể hiện ở chỗ cách thức của quá trình ra quyết sách không kém phần quan trọng so với giá trị của chính quyết sách. Các điều kiện đồng thời là những biểu hiện của nền dân chủ tranh luận bao gồm: công dân được cung cấp thông tin đầy đủ, trong đó có thông tin về hoạt động của Quốc hội và những thông tin cần cho hoạt động của Quốc hội; các diễn đàn công khai khuyến khích những ý kiến trái chiều nhau, mà Quốc hội là diễn đàn lớn nhất; sự bàn luận tính đến những hệ quả của chính sách; vấn đề được trình bày sáng rõ, dễ hiểu đối với các bên tham gia và liên quan; khuyến khích sự trao đổi lập luận; minh bạch hoá quyền lợi (nếu có) liên quan đến vấn đề đang tranh luận; tính giải trình trách nhiệm; xây dựng một không khí tin cận lẫn nhau để sẵn sàng dung hoà, thương lượng. Dân chủ tranh luận cần thể hiện trong mọi hoạt động: thảo luận và thông qua các dự luật, chất vấn, thảo luận và biểu quyết các vấn đề kinh tế-xã hội, quyết định các dự án lớn, bầu và phê chuẩn nhân sự. Với bản chất dân chủ, với tính chất diễn đàn mở của Quốc hội, cần thấy trước và chấp nhận các ý kiến thảo luận đa chiều ở Quốc hội.

2.2. Cơ chế ra quyết định

Xuất phát từ tính chất đại diện nói trên, mỗi lần tham gia vào việc quyết định của QH, ĐBQH nắm một lá phiếu biểu quyết trong tay, đại diện cho cử tri bầu ra mình. Nói như GS Tương Lai, cho dù ngón tay bấm nút ấy có sức nặng của nỗi ưu tư, đắn đo về vận nước, hay vô tình vô cảm như một rô bốt được gắn pin, thì cũng đều “cộng vào hay bớt đi một phiếu” biểu quyết cho một dự luật, một pháp lệnh, một bầu chọn hay miễn nhiệm một chức danh Nhà nước[6]. Do đó, mỗi cá nhân ĐBQH đóng vai trò nhất định trong quá trình ra quyết định của QH. Mỗi ĐBQH phải tự quyết định lấy, không thể uỷ quyền, “nhờ” người khác họp thay, biểu quyết thay tại các phiên họp của QH.

Mặt khác, tính chất đại diện của QH còn thể hiện ở chỗ đó là một thiết chế thống nhất đại diện cho lợi ích toàn cục của quốc gia. Hơn nữa, xuất phát từ tính chất dân chủ, ý chí của QH phải được phản ánh và dựa trên quyết định của đa số trong phiên họp toàn thể. QH là cơ quan đại diện cao nhất trong quốc gia, bởi vậy chỉ phiên họp toàn thể của QH mới phản ánh được ý chí của toàn thể quốc gia. Muốn làm việc thành công trong môi trường tập thể và quyết định theo đa số này, ĐBQH phụ thuộc vào mối quan hệ thuyết phục với các ĐBQH khác. Một ĐBQH khoá XI đã băn khoăn khi không thuyết phục được đa số các ĐBQH về một số điều mà đại biểu đó cho là đúng khi thảo luận và quyết định về các dự luật[7]. Như vậy, một ĐBQH đứng riêng lẻ không làm gì được trong cơ chế quyết định này, mà phải đặt trong tương quan, tương tác của môi trường đa số đó.

Tuy nhiên, quyền của ý kiến thiểu số cũng là một thành tố không thể thiếu trong một nền dân chủ tranh luận trong QH. Nếu không tạo điều kiện cho tất cả các thành viên được tham gia và tác động lên quá trình ra quyết sách, Quốc hội sẽ không còn đúng nghĩa là cơ quan đại diện nữa. Bởi lẽ đàng sau những đại biểu rơi vào thiểu số là những cử tri đã bầu ra họ. Tiếp theo, mỗi đại biểu nắm một lá phiếu ngang bằng với các đại biểu khác. Hơn nữa, chân lý nhiều khi lại không thuộc số đông. Vì vậy, trong quá trình bàn bạc để đi đến quyết định theo đa số ở Quốc hội, các ý kiến thiểu số muốn mình được lắng nghe. Biểu quyết theo đa số, nhưng bảo vệ quyền của ý kiến thiểu số là một đặc trưng nữa của Quốc hội. Thường là những ý kiến đó không đồng nhất với đa số do các đại biểu – đảng viên tạo ra, cũng có nghĩa là chưa đồng nhất với khía cạnh nào đó của chủ trương lớn. Tuy nhiên, Quốc hội không áp đặt, mà qua con đường thuyết phục, thảo luận, thương lượng để đi đến quyết định cuối cùng của toàn thể QH.

2.3. Các mối quan hệ: cử tri, Đảng, Chính phủ, địa phương

ĐBQH đưa ra quyết định trong mối quan hệ đa chiều với nhiều chủ thể khác, đó là cử tri, Đảng, các cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương. Áp lực đến từ nhiều nguồn khiến cho ĐBQH buộc phải cân nhắc kỹ để sắp xếp ưu tiên, nhưng đồng thời không đánh mất mình như một người ĐBND.

2.3.1. Trách nhiệm trước cử tri

Cũng xuất phát từ tính chất đại diện, ĐBQH phải chịu trách nhiệm rất lớn trước cử tri- những người đã uỷ quyền cho đại biểu quyền quyết định. Cứ mỗi kỳ họp QH tới, MTTQVN lại có một bản báo cáo tập hợp kiến nghị của cử tri cả nước gửi QH và các ĐBQH. Không chỉ có vậy, QH và ĐBQH cũng thường xuyên nhận được đơn thư của cử tri gửi về. Những đơn thư đó phản ánh những phàn nàn, yêu cầu, trông đợi của cử tri buộc các ĐBQH phải trả lời. Điều này cũng dễ hiểu, vì trách nhiệm, bổn phận trước cử tri bắt nguồn từ tính chất đại diện nói trên. Không những thế, như một tác giả đã nhận xét xác đáng, chính đa số ĐBQH các khóa là đại biểu mới, trước đây từng là cử tri, từng yêu cầu, đòi hỏi, trông đợi, cho nên càng phải thấu hiểu hơn trách nhiệm trước cử tri[8].  Nếu như chúng ta không có những đại biểu thực sự gần dân, hiểu dân, đau cùng nỗi đau của dân, giữ gìn lời hứa trước dân thì làm sao có thể giải quyết được thấu đáo trăm ngàn những kiến nghị “vụn vặt” thường ngày, dù đó là đại biểu mới hay kỳ cựu.

2.3.2. Sự lãnh đạo của Đảng

Hơn 90% ĐBQH là đảng viên. Thực trạng này đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với QH. Nhưng mặt khác, QH lại phải là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân cả nước. Bởi vậy, dù trong Đảng hay ngoài Đảng, sứ mệnh của một ĐBQH là làm tốt vai trò đại diện đó. Bởi vậy, như nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đặt vấn đề, trong quá trình đi đến quyết định cuối cùng, khi ý kiến của đại biểu Quốc hội nói chung, đại biểu Quốc hội là đảng viên của Đảng nói riêng, khác với những dự án thể hiện chủ trương lãnh đạo của Đảng? Đại biểu Quốc hội là đảng viên của Đảng có được quyền phát biểu ý kiến của cử tri gửi gắm cũng như ý kiến riêng của mình không? Có ý kiến khác thì có phải là không ủng hộ hay là không tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng không? Có phải là gây khó khăn hay không ủng hộ Chính phủ không? Có bị coi là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng không?[9]

Cũng theo ông Nguyễn Văn An, có một thực tế là, thông thường, ít nhất cũng có khoảng từ 75% đến 87% đại biểu là đảng viên chưa được tham gia ý kiến về chủ trương lãnh đạo ban đầu của Đảng khi Đảng bàn và đề ra chủ trương để lãnh đạo Nhà nước và xã hội[10]. Như vậy, nói chung Đảng chưa có điều kiện lắng nghe ý kiến của Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, trong đó có nhiều đảng viên và nhiều cán bộ trung cao cấp của Đảng chưa được tham gia ý kiến về chủ trương lãnh đạo ban đầu đó.

2.3.3. Kiêm nhiệm

Theo pháp luật quy định, đa số ĐBQH nước ta hoạt động kiêm nhiệm, một lúc gánh ít nhất hai vai, có khi phải gánh ba bốn vai, phần lớn các vai đó là các vị trí trong bộ máy hành chính. Trong nhiều trường hợp, thực trạng này giúp cho ĐBQH hiểu hơn ý nguyện của cử tri và nắm bắt được các vấn đề của cuộc sống. Nhưng mặt khác, trong phần lớn các trường hợp, nghề nghiệp chính chiếm quá nhiều thời gian, công sức, trí lực của ĐBQH, ảnh hưởng đến sự toàn tâm toàn ý của ĐB. Hơn nữa, sự kiêm nhiệm, nhất là kiêm nhiệm các chức danh hành chính khiến các ĐBQH lâm vào tình thế xung đột lợi ích, nể nang, e ngại, cuối cùng không thể làm tốt công việc đại diện, giám sát và làm luật.

Hộp 1: ĐBQH công chức?

“Hiện nay, ĐBQH là công chức, viên chức nhà nước rất nhiều, chắc không dưới 2/3. Là cán bộ, viên chức nhà nước trong bộ máy hành chính thì trên nói dưới phải nghe. Nhưng ở QH có phải trên nói dưới phải nghe hay không? Hay QH là diễn đàn để chúng ta phản biện, thảo luận để thấy thật sâu những điểm đúng và điểm sai, phản ánh những ý kiến của cử tri, cho dù những ý kiến đó có ngược lại với ý kiến của một số bộ, ngành?
Nếu QH ứng xử như công chức thì không thể nào là QH có tranh luận…” (ĐB Nguyễn Ngọc Trân, QH khóa XI).

2.3.4. Đại biểu địa phương

Ở QH nước ta các ĐBQH ở địa phương tạo thành các Đoàn ĐBQH. Mỗi đoàn ĐBQH có một đến hai ĐB chuyên trách. Các ĐB ở trung ương làm việc theo chế độ chuyên trách trong UBTVQH, HĐDT và các UB của QH, các Ban của UBTVQH. Vậy ĐBQH đại diện cho ai? Cho cử tri nơi mỗi vị ĐB được bầu? Cho địa phương có Đoàn ĐBQH? Hay lợi ích của quốc gia? Chẳng hạn, cử tri người gốc thành phố muốn hạn chế số người ngoại tỉnh nhập cư. Vậy thì khi vị ĐB đòi bỏ hộ khẩu thành phố, có vẻ ông ấy không bảo vệ lợi ích của những người gốc thành phố- cử tri đã bỏ phiếu cho ông ấy. Thế nhưng, nếu xét trên diện rộng hơn, ví dụ cũng từ lợi ích của thành phố, chứ chưa nói đến toàn quốc, việc bỏ hộ khẩu có khi lại mang đến nhiều điều hay hơn là điều dở. Dung hoà lợi ích của cử tri, của địa phương và của quốc gia luôn là một nghệ thuật đối với QH và từng vị ĐB QH. Mà đã là nghệ thuật thì thường là mờ ảo, khó định hình, nhưng QH vẫn phải làm chuyện định hình đó. Các ĐBQH địa phương thường có xu hướng bảo vệ lợi ích của địa phương nơi mình được bầu. Điều này có thể dẫn đến sự phân khúc trong quá trình ra quyết sách, trái với bản chất thống nhất của hệ thống quyền lực nhà nước.

2.4. Tâm lý đám đông

Nhà tâm lý học xã hội người Pháp Gustave Le Bon (1841-1931) trở nên nổi tiếng với lý thuyết về đám đông trong cuốn sách Tâm lý học đám đông[11]. Từ quan điểm tâm lý học, Le Bon định nghĩa đám đông là quần tụ những cá nhân, trong một vài hoàn cảnh nhất định, và chỉ trong những hoàn cảnh đó thôi, sẽ có những tính cách mới rất khác với những tính cách của những cá nhân hợp thành ấy. Đó không phải là tập hợp một cách ngẫu nhiên của hàng ngàn người trên quảng trường, không phải phép cộng đơn thuần của các cá nhân, mà là sự tổ hợp tạo ra những tính cách mới.[12] Theo ông, điều nổi bật nhất của đám đông tâm lý là: dù những cá nhân hợp thành đám đông như thế nào, dù đời sống, nghề nghiệp, tính cách hay trí tuệ của những cá nhân đó khác nhau ra sao, chỉ riêng việc họ hợp thành đám đông đã sản sinh ra một tinh thần tập thể làm cho họ cảm nhận, suy nghĩ, hành động theo một cách hoàn toàn khác với cách mà một cá nhân riêng lẻ vẫn cảm nhận, suy nghĩ và hành động. Có những tư tưởng, tình cảm chỉ nảy sinh hay chỉ biến thành hành động ở những cá nhân khi cá nhân ấy nằm trong đám đông[13]. Le Bon cho rằng, nghị viện là một đám đông như vậy.

Từ quan sát, suy ngẫm của mình về lịch sử chế độ nghị viện, Le Bon rút ra một số kết luận riêng về nghị viện từ góc độ tâm lý đám đông như sau:

1) Nghị viện là thiết chế thể hiện một tư tưởng nhiều lúc không chính xác về mặt tâm lý, nhưng thường được mọi người chấp nhận, đó là: đông người hợp lại có khả năng nhiều hơn so với ít người khi phải đưa ra những quyết định khôn ngoan và độc lập về những vấn đề nhất định.[14] Có lẽ ý ông muốn nói mặc dù làm việc theo cơ chế quyết định dựa trên đa số, nhưng chân lý không hẳn bao giờ cũng thuộc về đa số, mà có khi nằm trong ý kiến thiểu số.

2) Sự đơn giản hoá quá mức các ý kiến khác nhau, tức là muốn giải quyết những vấn đề xã hội phức tạp nhất bằng những nguyên lý trừu tượng giản lược nhất, bằng những quy luật tổng quát có thể ứng dụng cho mọi trường hợp.

3) Đối với tất cả những vấn đề về lợi ích địa phương, vùng miền, của cử tri đã bỏ phiếu cho mình, mỗi nghị sỹ có lập trường kiên định, không khoan nhượng, không lập luận nào, dù là của một nhà hùng biện bậc nhất, có thể lay chuyển lập trường đó.

4) Đám đông nghị viện rất dễ chịu ảnh hưởng, đi theo ý kiến của các nhà lãnh đạo có uy tín trong nghị viện; những nhà lãnh đạo này ít tác động bằng lập luận, song lại tác động nhiều bằng uy tín cá nhân.

Đây là những quan sát đáng chú ý, có thể áp dụng để giải thích những khía cạnh đặc thù của thiết chế nghị viện/Quốc hội. Chẳng hạn, chúng tôi cũng đã nhấn mạnh ở trên rằng, QH cần tôn trọng lắng nghe ý kiến thiểu số, vì đông người hợp lại chưa chắc đã có khả năng nhiều hơn so với ít người khi phải đưa ra những quyết định khôn ngoan và độc lập về những vấn đề nhất định. Như vậy, mỗi khi quyết định về một vấn đề, ý kiến thiểu số có thể gợi nên ý tưởng hay cho ĐBQH. Nhận xét của Le Bon về xu hướng đơn giản hoá khi quyết định cũng là một lời nhắc nhở cho QH và các ĐBQH rằng, khi ban hành quyết định về một đạo luật, một dự án quốc gia, những khía cạnh đặc thù, những chi tiết nhỏ, những ngóc ngách của cuộc sống cũng cần được chú ý.

Bên cạnh đó, qua quan sát thực tiễn hoạt động của Quốc hội nước ta, từ góc độ tâm lý đám đông của Le Bon đưa ra, chúng tôi nhận thấy, các ĐBQH, nhất là các ĐBQH vốn là, hoặc đang kiêm nhiệm các chức danh lãnh đạo hành chính, thường gặp khá nhiều khó khăn về tâm lý khi chuyển từ môi trường[15] mà trước đây họ làm việc sang môi trường Quốc hội với những đặc thù mới. Chẳng hạn, thói quen mệnh lệnh hành chính của một vị lãnh đạo cơ quan hành chính có thể “va chạm” với tính chất của cơ quan đại diện, nơi mà tất cả ĐBQH đều nắm một lá phiếu ngang nhau, bình đẳng với nhau, không ai là lãnh đạo của ai; nơi mà mối quan hệ giữa chuyên viên vụ giúp việc với một vị chủ nhiệm uỷ ban không phải là mối quan hệ phục tùng hành chính, mà là quan hệ hợp tác để hỗ trợ về chuyên môn, nghiên cứu.

3. Tầm quan trọng, phạm vi của quyết định

Tại sao phải tìm hiểu quá trình ra quyết định của cá nhân ĐBQH? Để trả lời câu hỏi này, tốt nhất chúng ta hãy nghe ĐBQH Dương Trung Quốc trả lời: “Cuối nhiệm kỳ, có người phỏng vấn rằng làm đại biểu cái gì gây ấn tượng sâu sắc nhất hay ám ảnh nhiều nhất. Tôi trả lời rằng: đó là việc bấm nút”[16]. Bởi lẽ biết bao công việc quốc gia đại sự được quyết định bởi những nút bấm biểu quyết của các ĐBQH. Đó là những nhát bấm vàng ngọc, những lần phát biểu, chất vấn và trả lời chất vấn, biểu quyết của các ĐBQH đều là những “lời vàng ngọc”[17]. Tầm quan trọng ấy thể hiện ở phạm vi rộng lớn mà các quyết định do mỗi ĐBQH đưa ra.

Những ý kiến đóng góp chính xác, những quyết sách đúng, khả thi sẽ đưa đến những lợi ích vô giá cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhất là những ý kiến vào thời điểm có tính chất bước ngoặt, quyết định sự thành bại của một chủ trương, chính sách. Chính vì vậy, “gật đầu” hay “lắc đầu” đúng, tức là quyết định đúng sẽ mang lại rất nhiều lợi ích lớn cho quốc gia và lợi ích thiết thực cho cử tri. Hơn nữa, các ĐBQH bấm nút không chỉ cho hiện tại, mà cho cả tương lai phát triển của cả đất nước, bởi vậy, bấm rồi không phải là đã xong, mà “thời gian nó sẽ kiểm chứng cái nhát bấm ấy”[18]. Chẳng hạn, thời gian đã chứng minh rằng, “lỗ sâu răng” mía đường do bệnh “ưa của ngọt” thành tích chắc sẽ có ít cơ hội xuất hiện, nếu ngay từ đầu được đưa ra bàn kỹ ở Quốc hội từ góc độ của nhiều lợi ích khác nhau, nếu Quốc hội “lắc đầu” không đồng ý. Hoặc một ví dụ khác: vào kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XI, dự thảo Luật doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi) đưa ra phương án tách quản lý nhà nước khỏi quản lý doanh nghiệp. Nếu các đại biểu “gật đầu” chấp nhận “tách”, DNNN có thể sẽ hoạt động hiệu quả hơn, tiền ngân sách đổ cho DNNN có thể sẽ được sử dụng đúng hơn, tiết kiệm hơn. Nhưng tiếc rằng Quốc hội lại “lắc đầu”, không chấp nhận phương án tách. Báo cáo kiểm toán Nhà nước năm 2006 về tình hình thực hiện ngân sách của một số đơn vị thuộc khu vực công năm 2005 cho thấy, các DNNN lâm vào tình trạng lỗ thảm hại, thất thoát lớn, mà nguyên nhân chính là cơ chế chủ quản này[19]. Như vậy, không phải đợi lâu, thời gian đã kiểm chứng được cái giá của một quyết định do các ĐBQH đưa ra.

3.1. Bao trùm cả ba chức năng của QH

Quá trình ra quyết định của ĐBQH liên quan trực tiếp đến cả ba chức năng của Quốc hội là lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.

Trước hết, ĐBQH bấm nút để thông qua các đạo luật sau một quá trình dày công tìm hiểu đời sống xã hội phức tạp và biến động. Thao tác thì đơn giản nhưng quá trình tìm hiểu thì gian nan. Hơn thế, khi quyết định để biểu quyết thông qua hay không thông qua một đạo luật, ĐBQH là người dường như cùng tham gia xét xử với các thẩm phán. Bởi lẽ sản phẩm của các ĐBQH là các đạo luật, là công cụ để các thẩm phán áp dụng. Đạo luật tốt là cơ sở để có bản án tốt. Khác với các quốc gia khác, các thẩm phán nước ta không có quyền giải thích luật, không áp dụng án lệ, nghĩa là không có công cụ nào khác ngoài văn bản pháp luật để xác lập công lý. Khi chất vấn Chánh án Toà án NDTC về thực trạng xét xử, ĐBQH đang chất vấn chính mình. “Một đạo luật như một hạt giống, hoặc bén rễ sâu trong lòng đất, gọi màu của đất, gọi hương của trời để đơm hoa kết trái, hoặc cũng có thể chết khô trong yên lặng”[20]. Luật “đơm hoa kết trái” hay “chết khô” – điều này phụ thuộc trước hết và phần nhiều vào từng lần bấm nút của mỗi ĐBQH.

Thứ hai, các quyết định của ĐBQH được đưa ra trong quá trình thực thi chức năng giám sát, chủ yếu là giám sát chính phủ. Ở đây, có cái khó là các ĐBQH phải là người song hành cùng cơ quan hành pháp. Bởi lẽ họ chính các ĐBQH là người bỏ phiếu bầu các thành viên Chính phủ. Do đó, khi chất vấn thành viên Chính phủ, ĐBQH đang tự chất vấn chính mình. Khi quyết định kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ, ĐBQH cũng đang phần nào muốn bỏ phiếu tín nhiệm mình. Thành bại của Chính phủ cũng chính là thành bại của chính ĐBQH. Do đó, ĐBQH “vừa là người hỏi, vừa là người phải trả lời, là người kiểm tra, vừa phải là người thiết kế”[21]. Thế nhưng, phức tạp ở chỗ ĐBQH không được phép nể nang vì sau lưng ĐBQH là ý chí, là yêu cầu của hàng triệu cử tri, là yêu cầu chung của nhân dân với khả năng thực tế hữu hạn của Chính phủ.

Cuối cùng, các quyết định của cá nhân ĐBQH liên quan đến những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như ngân sách, các dự án quốc gia, các vấn đề an ninh, quốc phòng. Chẳng hạn, một trong những quyền to nhất của ĐBQH là tham gia quyết định về ngân sách nhà nước- quyền lực của túi tiền. Điều 84 của Hiến pháp ghi rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, trong đó có mục 4: “Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước, quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế”. Quyền hạn rất lớn, nhiệm vụ hết sức khó khăn vì quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của ngành hành pháp. Việc quyết định, phê chuẩn sẽ tác động đến sự thành bại của một đường lối, một chính sách kinh tế, và có ảnh hưởng tức thời đến đời sống của mỗi người dân. Cho nên, ngón tay bấm nút thể hiện được ý thức đầy đủ về gánh nặng trách nhiệm đối với đất nước, “phải được chỉ đạo bởi cái đầu có đủ kiến thức về tài chính, kinh tế cùng với trái tim đập cùng nhịp với mạch sống của xã hội, tâm tư, ý nguyện của người dân”[22].

3.2. Không gian quốc gia + địa phương

Xuất phát từ bản chất đại diện, các quyết định của ĐBQH đưa ra có không gian ảnh hưởng rộng lớn trên toàn thể quốc gia. Một chính khách, nghị sỹ nước ngoài từng nói: “QH là cuộc đại nghị quốc gia, với một lợi ích gần như duy nhất- lợi ích quốc gia, nơi mà không một mục tiêu địa phương nào, không một thành kiến địa phương nào được phép chi phối. Ở đó chỉ có lợi ích chung, bắt nguồn từ lý trí chung của toàn thể quốc gia”. Người ta đã vậy, các ĐB ta chắc cũng không khác mấy trong chuyện này.

Nhưng Một ĐBQH vừa đại diện cho cử tri cả nước, vừa phải đại diện cho cử tri ở địa phương đã bầu ra mình. Đại biểu không chỉ xây dựng chính sách vì lợi ích quốc gia, mà còn làm việc như những sứ giả đại diện cho khu vực bầu cử và địa phương mình. Hơn nữa, tâm lý thông thường của cử tri là muốn các các đại biểu quan tâm nhiều đến dư luận hơn là làm theo những gì cá nhân cho rằng tốt nhất cho quốc gia. Các đại biểu của chúng ta, đặc biệt là các đại biểu địa phương, đều là đại biểu của tỉnh. Mặc dù hiến pháp và pháp luật không qui định cụ thể, nhưng tính chất đại diện cho tỉnh đã hình thành trên thực tế. Bất cứ một đại biểu nào muốn chất vấn thì đều phải cân nhắc xem cái sự chất vấn của mình có ảnh hưởng gì đến tỉnh nhà hay không; các dự án của tỉnh có bị cắt bớt hay không… Với những đại biểu của địa phương, điều thường thấy là “xin chính sách”, hay “xin ngân sách” cho địa phương do mình đại diện. Chẳng hạn, trong khoảng gần 40 ĐBQH, đại diện cho các tỉnh, thành đã phát biểu trong phiên thảo luận ngày 28/10/2003, hầu như không đại biểu nào bỏ sót một đề xuất “tế nhị” – đề nghị cấp thêm kinh phí cho địa phương mình, ngành mình!

3.3. Động chạm đến nhiều lợi ích

QH là đầu dây thần kinh với hàng vô số những lợi ích chằng chéo, đan xen nhau, và trọng trách đại diện của mỗi ĐBQH khi tham gia quyết định chính là lần ra và bảo vệ theo thứ tự ưu tiên những lợi ích đó. Nhìn vào những vấn đề được đưa ra bàn luận ở Quốc hội, vấn đề nào cũng không liên quan đến lợi ích.

Chẳng hạn, đàng sau những câu chữ, quy phạm khô khan của một đạo luật, có biết bao lợi ích của bao nhiêu tầng lớp trong xã hội chịu tác động của nó. Luật Đất đai? Ai mà chẳng phải sống trên đất, vậy mà giá đất ở Việt Nam cứ ở trên trời, ai mà leo theo được, dùng Luật Đất đai có kéo được giá đất xuống mặt đất hay không? Luật DNNN? Hàng tỷ đô la nằm trong tay các DNNN, làm sao để chúng quay vòng một cách đúng mục đích nhất, hiệu quả nhất, có lợi nhất- đó cũng chính là lợi ích.

Hay là “chiếc bánh ngân sách” to hay nhỏ, cơ quan nào, địa phương nào nhận bao nhiêu, dùng cho việc gì, dùng có đúng mục đích không… Hàng trăm ngàn tỷ đồng của quốc gia và cũng chính là của từng người dân, mà đại biểu Quốc hội là người đại diện- đó chẳng phải là chuyện xa vời, mà là chuyện lợi ích rất sát sườn của từng người dân. “Chúng ta là người cầm dao cắt bánh ngân sách cho nên cần hết sức thận trọng trong việc cắt cái bánh đó”- cách ví von của ĐBQH Nguyễn Lân Dũng cũng chính là quan điểm chung của các ĐBQH khoá XI khi bàn dự toán phân bổ ngân sách[23]. Những vấn đề như cải cách tiền lương; đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, thất thoát; nông dân mất đất, bỏ ruộng, không có việc làm; tình trạng khiếu kiện không giải quyết dứt điểm v.v…cho thấy mỗi quyết định của cá nhân ĐBQH đều vừa ảnh hưởng đến những lợi ích vừa ở tầm vĩ mô quốc gia, vừa thiết thân với từng bà nội trợ, anh công chức, bác nông dân, chị công nhân.

II- THỰC TRẠNG QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

Kết quả thăm dò dư luận đánh giá về chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước cho thấy rằng: chỉ có 30% số được hỏi đánh giá là tốt, 38% đánh giá là tương đối tốt, 20% đánh giá là bình thường, 4% đánh giá là yếu và 8% trả lời là không biết[24]. Bên cạnh con số thực nghiệm này, trên thực tế, trong quá trình quyết định của QH và ĐBQH, chúng ta có thể quan sát thấy nhiều lúc các ĐBQH bị đặt trước chuyện đã rồi. Mặt khác, từ phía các ĐBQH, không hiếm khi có những người “quyết liều”, quyết theo, hoặc ngại phải quyết như đáng ra phải quyết.

1. Nguy cơ hư quyền

Quyền quyết định của ĐBQH đã được Hiến pháp và pháp luật quy định có thể thành hư quyền nếu trên thực tế ĐBQH bị đặt trước những chuyện đã rồi. Chẳng hạn như chuyện đổi tiền ở Quốc hội khoá VII mà ngay cả Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ chỉ được biết vào phút chót, khi đã được quyết định xong.[25] Hoặc ở khóa VIII, Quốc hội chưa họp, chưa bàn, chưa quyết, chưa ra nghị quyết mà đã có văn bản cho phép tách một số tỉnh và văn bản đó được triển khai ngay.[26] Ngay như tại kỳ họp tháng 11/2005, toàn thể Quốc hội còn chưa bàn, chưa bấm nút biểu quyết mà đã có vị tuyên bố hùng hồn rằng, kiểu gì cũng phải thông qua dự thảo Luật đầu tư chung.[27] Ngay cả các cựu ĐBQH cũng thừa nhận, việc quyết định những vấn đề như nhiệm vụ kinh tế xã hội, ngân sách hàng năm, 5 năm, các chính sách lớn ít đi vào chiều sâu, việc giải quyết vấn đề quan trọng của đất nươớc trên chừng mực nào đó vẫn còn mang tính hình thức[28]. Chẳng hạn, nhiều đại biểu nhắc lại có những công trình như đường Hồ Chí Minh ở Trường Sơn, hoặc Thuỷ điện Sơn La cao hay thấp, các đại biểu đang bàn bạc để thông qua, nhưng công tác chuẩn bị đã được triển khai, như vậy có quyết cũng là hình thức. Nói tóm lại, như một ĐBQH khoá X nói, “quyền này chưa được tôn trọng và chưa đươợc phát huy đầy đủ”.

Trong mấy năm gần đây, ngay cả một số nhà nghiên cứu về Việt Nam người nước ngoài vốn khắt khe trong đánh giá cũng nhận xét rằng, Quốc hội Việt Nam ngày càng thực quyền hơn, không còn nhiều đặc tính của một “Quốc hội con dấu” nữa.[29] Không có nội dung khẳng định như kiểu nói “Quốc hội con dấu”, ý kiến của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trước đây lại có ý tứ cảnh báo. Chẳng hạn ông Nguyễn Văn Linh từng dặn “đừng biến Quốc hội thành cây cảnh”;[30] hoặc như ông Võ Chí Công thì nói đại ý không nên gò bó Quốc hội thông qua những chuyện đã được sắp đặt.[31] “Đừng biến…”, hay “không nên gò bó…” gợi đến suy nghĩ: như vậy, có nguy cơ “biến” Quốc hội thành cây cảnh, có nguy cơ “gò bó” Quốc hội. Còn khi nói “không còn nhiều đặc tính con dấu”, có thể hiểu ý của mấy ông nước ngoài là vẫn còn, dù ít.

Mặt khác, ngay cả một số ĐBQH có vẻ như cũng không coi trọng quyền được quyết định của mình, khiến cho quyền đó trở nên vô nghĩa. Bằng chứng là theo các ĐBQH khoá XI, khá nhiều ĐBQH không tham dự các phiên họp toàn thể, phiên họp uỷ ban, họp tổ, họp Đoàn ĐBQH tại các kỳ họp[32], nghĩa là họ tự từ bỏ quyền tham gia quyết định. Hơn nữa, có những ĐBQH không những không tham gia (có thể vì có lý do chính đáng), mà còn nhờ người khác bỏ phiếu thay, có nghĩa là trao quyền quyết định của mình cho người khác. Chẳng hạn, trong phiên họp sáng ngày 22/7/2002 tại Hội trường, Quốc hội biểu quyết 3 lần thì bảng điện tử cho 3 con số khác nhau về các đại biểu có mặt là 487, 488 và 489. Chủ toạ phiên họp cho rằng “có thể là có sự bấm nút hộ”. Ông đề nghị các đại biểu Quốc hội dứt khoát không bấm hộ, nếu không hoá ra “chính các đại biểu cũng coi thường những con số đó, mà trước sự theo dõi của cử tri thì không thể tuỳ tiện được”. Nhưng ngày hôm sau, tình trạng đó lại lặp lại: khi biểu quyết về danh sách đề cử do Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá X đã trình, bảng điện tử báo số đại biểu Quốc hội có mặt là 492, nhưng khi biểu quyết danh sách Ban kiểm phiếu, con số đó lại là 481; và khi biểu quyết bằng lá phiếu các chức danh, con số đại biểu có mặt theo số lượng phiếu mà Ban kiểm phiếu đếm được là 494. Điều này cho thấy lại có tình trạng bấm nút hộ, nghĩa là có những đại biểu tự từ bỏ quyền quyết định của mình.

2. Ngại ngần, quyết liều, quyết theo

Người dân nhớ mặt, thuộc tên và trân trọng những đại biểu dám quyết, tích cực phát biểu ý kiến, phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của dân, thẳng thắn tỏ rõ chính kiến của mình, thảo luận, tranh luận đến cùng, làm sáng tỏ đúng, sai đối với những vấn đề Quốc hội đưa ra bàn bạc. “Nhất Ngoạn, nhì Trân, tam Lân, tứ Quốc”- đó là câu lan truyền trong dân gian về những đại biểu tâm huyết, có trách nhiệm cao đối với dân, với nước, với cử tri đã bầu cho mình.Tuy nhiên, số đại biểu như vậy không nhiều. Còn lại, nói về thực trạng tham gia quyết định của cá nhân ĐBQH, có thể dùng những từ sau: ngại ngần, quyết liều, quyết theo.

Trước hết là tâm lý ngại ngần của nhiều ĐBQH khi quyết định ở QH. Trong quá trình đi đến quyết định cuối cùng khi bấm nút, trên thực tế, có đại biểu vì cảm thấy cương vị công tác thường ngày của mình ở thế thấp cổ bé họng nên ngại hoặc không dám giám sát cấp cao hơn[33]. Quốc hội Khóa XII cần phải xóa bỏ suy nghĩ này, tạo sự chuyển biến để các đại biểu can đảm đương đầu thực hiện chức năng của mình.

Các đại biểu Quốc hội là người đứng đầu bộ, ngành, địa phương thường ít tỏ rõ chính kiến, không tham gia chất vấn, tranh luận, nhất là đối với những vấn đề nhạy cảm, khi quy kết trách nhiệm, lựa chọn nhân sự… Chiều ngày 20/4/2003, trong phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, có ý kiến nêu lên thực tế: rất ít khi các đại biểu Quốc hội kiêm lãnh đạo các địa phương chất vấn vì ngại các bộ, còn Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, uỷ viên các Uỷ ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội cũng ít chất vấn vì ngại bị coi là “bới móc Chính phủ”[34]. Tuy chất vấn không phải là sự quyết định cuối cùng như bấm nút, nhưng như chúng tôi đã nhấn mạnh ngay từ đầu, khái niệm “quyết định” trong bài viết này có hàm ý cả những động thái trong suốt quá trình ra quyết định, ví dụ như ở đây quyết định có nên chất vấn hay không; hơn nữa chất vấn là để có cơ sở đi đến quyết định khi bấm nút. Mặt khác, một khi đã ngại ngần chất vấn cũng có nghĩa là ngại ngần khi bấm nút. Bởi vậy, sự “ngại ngần” của các ĐBQH này quả thật “đáng ngại” đối với cử tri- những người đã uỷ quyền quyết cho ĐBQH.

Thậm chí, nhiều đại biểu suốt nhiệm kỳ gần như không phát biểu một lần trên diễn đàn chung của Quốc hội. ĐBQH khoá XI Đỗ Trọng Ngoạn cho rằng, “không dám phát biểu thì làm sao đại diện cho nhân dân được. Đại biểu phải gần dân thì mới có thể vì dân, xa dân thì không thể vì dân. Không biết tâm tư nguyện vọng của nhân dân thì không thể nói thay dân”[35]. Không những thế, khó có thể quyết thay dân nếu ngại ngần như vậy.

Thứ hai, có những trường hợp ĐBQH buộc phải quyết một cách cảm tính. “Liều” là từ mà ĐBQH khoá X, ông Lê Công Minh dùng để chỉ tình trạng “mỗi lần thông qua các dự án, mỗi lần bàn định những quyết sách lớn của quốc gia, cứ liều đưa ra, chưa thật chuẩn xác”.[36] Ông nêu lên sự thật là các đại biểu không được cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin trước kỳ họp, trong kì họp về các dự án mình tham gia. Ông cho biết, ngay các vị Chủ nhiệm uỷ ban của Quốc hội đến sát nút cũng chươa có những tài liệu xác đáng để có thể trình bày rõ những nội dung về về dự án Thuỷ điện Sơn La. Còn bản thân các đại biểu Quốc hội thì “chưa có gì cả”, như vậy sắp tới tham gia thảo luận như thế nào. Có ĐBQH cho rằng khi biểu quyết thông qua nhiều đại biểu tin tưởng vào Chính phủ, vào chủ toạ kỳ họp, vào sự thẩm tra của Uỷ ban mà biểu quyết. Điều này phần nào cho thấy nhiều khi các đại biểu dựa vào cảm tính để quyết. Chính vì vậy, ĐBQH khoá XI Nguyễn Đình Lộc từng nói rất thật: “đôi khi buồn nhất là lúc bấm nút biểu quyết thông qua luật bởi không bấm thì khó xử vì làm chậm tiến độ, còn bấm thì trong lòng vẫn chưa yên”[37]. Chưa yên vì chất lượng các dự luật không đảm bảo, những vẫn phải quyết.

Thứ ba, ĐBQH nhiều lúc phải thụ động quyết theo, tin tưởng vào những thông tin đã được cung cấp. Chủ tịch Nguyễn Văn An cũng “đề nghị từng đại biểu phát huy tính tích cực và chủ động hơn nữa, như vậy thì trí tuệ, sáng kiến, năng lực, sức thuyết phục, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chúng ta mới có những bước tiến về chất. Tôi thấy tính thụ động ở các vị đại biểu Quốc hội và cả các cơ quan của Quốc hội còn rất nặng”[38]. Thụ động ở đây có lẽ là tình trạng ĐBQH phải ngồi nghe các báo cáo dài dằng dặc, nhận hàng tập tài liệu dày cộp mà không có cơ hội phân tích, phản biện lại các thông tin đó.

III – NGUYÊN NHÂN

Tại sao lại quyền quyết của ĐBQH có nguy cơ trở thành hư quyền? Tại sao ĐBQH ngần ngại khi quyết, phải quyết liều, quyết theo? Từ thực tiễn hoạt động của QH, ĐBQH, từ việc phân tích các quy định liên quan, có thể rút ra những nguyên nhân chủ yếu sau đây: nhiều quyền ít lực; quy trình ra quyết định chưa tạo sự chủ động, độc lập cần thiết cho ĐBQH; ĐBQH thiếu động lực; thiếu thông tin; thiếu các kỹ năng cần thiết.

1. Nhiều quyền ít lực

Nguyên nhân đầu tiên làm giảm năng lực quyết định của ĐBQH một phần lớn nằm ở các “quyền thừa” do Hiến pháp và pháp luật quy định, tức là những quyền không hợp với bản chất đại diện của QH, hoặc vượt ra ngoài khả năng của QH cũng như từng ĐBQH. Chưa có điều kiện rà soát tổng thể, nhưng có thể nêu sơ bộ một vài quyền như vậy. Chẳng hạn như quyền “giám sát tối cao” với một phạm vi giám sát rộng như trời bể, không thể nào ôm xuể. Trong khi đó trọng tâm của giám sát là phản biện, canh chừng chính sách, hoạt động của hành pháp và theo dõi đường đi nước bước của tiền ngân sách.

ĐBQH có nhiều quyền như vậy nhưng điều kiện để thực thi quyền chưa tương xứng. Chơi chữ như tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng là Quốc hội nhiều “quyền” nhưng thiếu “lực”.[39] Còn nếu ví Quốc hội như một người khổng lồ, thì thân trên của người khổng lồ đang có vẻ cồng kềnh, nhưng đôi chân có vẻ chưa đủ mạnh để nâng toàn bộ cái thân hình to lớn đó. Các điều kiện cần và đủ để thực thi quyền là con người (các đại biểu chuyên nghiệp), tổ chức (hệ thống các uỷ ban mạnh), bộ máy phụ trợ (chuyên gia, nhân viên giúp việc, hệ thống thư viện, thông tin, Thanh tra Quốc hội, Kiểm toán Quốc hội). Chẳng hạn, nếu được cung cấp thông tin đã được phân tích, các đại biểu chắc sẽ không còn ngậm ngùi nhìn các bộ trưởng “múa các con số” như đã từng xảy ra. Hoặc nếu có một hệ thống uỷ ban mạnh, nơi canh cổng và soi các dự luật của Chính phủ một cách khắt khe nhất, có lẽ các đại biểu cũng không còn phân vân khi bấm nút biểu quyết thông qua. Có nghĩa là QH và ĐBQH sẽ thực quyền hơn khi làm chức năng lập pháp và giám sát.

Lấy hoạt động lập pháp làm ví dụ, theo các quy định của pháp luật, cá nhân ĐBQH có thể tham gia vào làm luật ở các công đoạn sau: trình dự án luật; tham gia thẩm tra tại UB; thảo luận tại Hội nghị ĐBCT; thảo luận tại Đoàn ĐBQH; kiến nghị đưa dự luật vào Chương trình; thảo luận và biểu quyết tại phiên họp toàn thể. Tất nhiên, sẽ là tốt nhất nếu ĐBQH có thể tham gia tích cực, hiệu quả vào tất cả các công đoạn này. Tuy nhiên, cho đến nay, trừ một trường hợp, ĐBQH chưa bao giờ trình dự án luật. ĐBQH cũng chưa tham gia tích cực và tác động đến số phận của một đạo luật tương lai tại giai đoạn thẩm tra ở UB, mà chủ yếu là thường trực UB tham gia. Về Hội nghị ĐBCT, chỉ có ĐBCT mới tham dự. Việc thảo luận tại Đoàn ĐBQH cũng mang tính hình thức; cá nhân một ĐB cũng hầu như không có tiếng nói quyết định trong việc đưa một đạo luật vào Chương trình lập pháp của kỳ họp, hàng năm và cả nhiệm kỳ.

2. Quy trình ra quyết định chung

Về sự liên quan giữa quy trình ra quyết định chung và cách ra quyết định của cá nhân ĐBQH, có thể rút ra một số điểm sau. Thứ nhất, đối chiếu với những tiêu chí về một quá trình ra quyết định dân chủ như đã đề cập, không khí tranh luận trong Quốc hội còn vài điểm gây quan tâm. Đã có những đại biểu Quốc hội lên tiếng rằng, đâu đó vẫn thiếu dân chủ tranh luận ngay trong chính hoạt động của Quốc hội[40], hoặc Quốc hội thiếu thông tin đã được xử lý[41], hoặc ý kiến trái chiều còn ít có cơ hội thể hiện…[42] Thiếu tranh luận, quá trình ra quyết sách sẽ diễn ra cảm tính nhiều hơn như đã nói ở trên.

Thứ hai, quy trình ra quyết định trong QH có những yếu tố không làm tăng trách nhiệm cá nhân của ĐBQH khi biểu quyết. Như đã nói, ý nghĩa của chuyện “bấm nút biểu quyết” rất lớn lao, song “chi li ra thì không quy trách nhiệm được cho bất kỳ một cá nhân nào”[43]. Bởi lẽ thủ tục biểu quyết bằng hệ thống điện tử mặc dù nhanh chóng nhưng lại không cho cử tri cơ hội thấy được chính kiến của ĐBQH. Điều này khiến người ta nhớ lại chuyện xưa về Đông Quách tiên sinh. Tiên sinh không biết thổi sáo, nhưng biết nhà vua thích nghe tiếng sáo, nên để tìm cách “lọt mắt rồng”, tiên sinh đã đứng trà trộn vào trong dàn trình diễn của nhiều nhạc công thổi sáo giỏi. Rồi tiên sinh cũng đặt sáo lên môi giả vờ thổi. Cứ thế, nhiều lần trót lọt. Nhưng rồi, nghe hợp tấu mãi vua chán, bèn lệnh cho từng người độc tấu. Đến đây thì Đông Quách tiên sinh đành chuồn. Nhắc lại chuyện xưa, GS Tương Lai hy vọng rằng trong Quốc hội ta tuyệt đối không thể có bóng dáng vị tiên sinh đã “tại đào” ấy. Tuy nhiên, vẫn có những vị ngày hai buổi ngồi nghị trường, đọc luật không kỹ mà vẫn bấm nút thông qua cũng không bị ai quy trách nhiệm như khi đặt bút ký phê duyệt một văn bản liên quan đến tiền nong. Cả kỳ họp, đôi khi là cả khóa họp, không một lần “có ý kiến” cũng không bị phê phán về tư cách ĐB. Nếu đối chiếu với những nước có truyền thống nghị viện lâu đời, chẳng hạn ở Anh, ở Mỹ các nghị sỹ đều biểu quyết ghi danh công khai để công chúng biết nghị sỹ đó đã có quyết định gì. Đứng trước một sức ép của sự công khai, các đại biểu sẽ cảm thấy có trách nhiệm hơn với mỗi quyết định của mình.

Thứ ba, quy trình để dẫn đến quyết định cũng có lúc trói buộc, hoặc không khuyến khích sự chủ động của mỗi ĐBQH khi quyết định. Chẳng hạn, quy định phải có ít nhất 20% tổng số ĐBQH cùng đồng ý, đồng thời cá nhân ĐBQH không được tự đi vận động các ĐBQH khác, thì mới đưa được vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm ra trước QH. Quy định này ngay từ đầu đã triệt tiêu quyết định của ĐBQH về kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, không bao giờ tạo được điều kiện để các ĐBQH khác có thể quyết định về tư cách tồn tại của bộ trưởng trên cương vị của mình. Hoặc cách làm bắt ĐBQH nghe các báo cáo, các dự luật dài dằng dặc, theo ông Nguyễn Văn An, “đọc cho cả 500 người trong hội trường ngồi nghe tập thể thì nó nặng nề, căng thẳng và lại tập cho đại biểu quen thụ động”. Ông từng đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tự đọc tài liệu thay vì văn bản nào cũng phải có người “đọc hộ”, “nếu tôi phát biểu nhiều các đồng chí lại phải thụ động ngồi nghe”. Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã thống nhất từ kỳ họp thứ 9 sẽ giảm tối đa việc đọc trên hội trường[44]. Cải tiến nhỏ này cùng với những thay đổi khác trong thủ tục làm việc của QH đã góp phần làm cho ĐBQH tích cực hơn trong thảo luận, biểu quyết.

Thứ tư, xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước, quá trình ra quyết sách và thực thi quyết sách của các thiết chế quyền lực nhà nước, trong đó có QH cũng thống nhất, chứ không đứt đoạn. Thế nhưng, ở nước ta sự lãnh đạo của Đảng và sự chuyển hóa thành pháp luật của QH được thiết kế tách rời nhau. Thực tế này có thể dẫn đến một số hệ quả như mất rất nhiều thời gian, “tam sao thất bản”, chồng chéo, xung đột chính kiến, và trùng lặp trong quá trình ra quyết định. Có thể là vì cùng quyết về một vấn đề trên một bình diện nên việc quyết định của ĐBQH còn có lúc hình thức chăng?

Sự thiếu thống nhất trong quá trình ra quyết định còn thể hiện ở chỗ, ở nước ta vẫn coi lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng là công việc của QH, cắt khúc công đoạn QH ra khỏi một quy trình chung, tổng thể, trong đó có cả công đoạn ở Chính phủ. Thật nghịch lý, nhưng có thể hiểu được là chính vì sự cắt khúc này nên có sự ngại ngần trong khi quyết định, chẳng hạn quyết định chất vấn Chính phủ. Bởi lẽ cắt khúc nên đặt vấn đề trong sự “đối đầu”, mà đáng lẽ ra là sự hợp tác, phân công, phân nhiệm giản dị- hành pháp làm, lập pháp lên tiếng đánh giá, phản biện. Hai là, chúng ta cũng cắt khúc từng chức năng với chức năng khác, ví dụ lập pháp ra khỏi giám sát và đại diện. Chưa nhận thấy hết chính lập pháp là một hình thức giám sát, giám sát ngay từ khi xây dựng pháp luật, và ngược lại, các ý tưởng lập pháp cũng bắt đầu từ các hoạt động giám sát. Mà nói cho cùng, giám sát chính là để bảo vệ các lợi ích quốc gia và lợi ích cử tri, là thực hiện chức năng đại diện. Nếu đặt các chức năng này trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ĐBQH có thể ra quyết định một cách toàn diện hơn, có cơ sở vững chắc hơn.

Cuối cùng, năng lực quyết định của cá nhân ĐBQH còn gặp khó khăn bởi tính nhiệm kỳ của QH. ĐBQH đến lúc hiểu được “tàm tạm” công việc đại diện, lập pháp thì đã sắp sang một nhiệm kì mới, và đa số phải rời nhiệm sở. Một Quốc hội với tuyệt đại đa số là các đại biểu mới phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Thách thức dễ nhận thấy nhất là sự “chảy máu năng lực”[45]. Năng lực thể chế là vấn đề rất lớn của nhiều cơ quan nhà nước, đặc biệt đối với các cơ quan dân cử, vì các vị ĐBQH đều bị thay đổi thường xuyên qua mỗi lần bầu cử. Với sự thay đổi nhân sự liên tục như vậy, năng lực thể chế khó có thể tích tụ lại được trong hệ thống các cơ quan dân cử. Nếu chỉ có không đầy 1/3 số đại biểu Quốc hội được tái cử thì có nghĩa là 2/3 năng lực của thể chế đã bị thất thoát ra bên ngoài, những ĐBQH mới phải học từ đầu cách đưa ra quyết định đúng đắn.

3. Thiếu động lực

Ông Võ Văn Kiệt từng nhận xét, động lực của ĐBQH để đại diện cho dân đang có vấn đề[46]. Sở dĩ như vậy vì như đã nói, trong quá trình ra quyết định, ĐBQH chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác là quyết sách của Đảng, mối quan hệ với các cơ quan chính phủ, với chính quyền địa phương. Nhiều khi các mối quan hệ này có động lực lớn hơn động lực đại diện cho các lợi ích mà ĐBQH cần bảo vệ.

Trước hết, theo ông Võ Văn Kiệt, “động lực phải tận tuỵ với Đảng bao giờ cũng áp đảo”, nên khó xác lập trách nhiệm trước dân. Trong khi đảng viên chỉ chiếm 5-6% tổng số cử tri cả nước, thì đảng viên trong Quốc hội lại chiếm tới trên dưới 90%. Con số này làm nảy sinh câu hỏi: Quốc hội đại diện cho ai? Cho cử tri cả nước hay cho 3 triệu đảng viên?

Hộp 2: ĐB là đảng viên

“Tôi thường được các đồng nghiệp, các ĐBQH là đảng viên cổ vũ bằng cách nói rằng ý kiến của anh phát biểu tốt, tôi cũng tán đồng ý kiến của anh, nhưng tôi không thể phát biểu như anh được, vì tôi là đảng viên. Vậy thì, đội ngũ đảng viên trong QH đã phát huy được hết vai trò, năng lực của mình hay chưa?”

(ĐB Dương Trung Quốc, QH khóa XI)

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nhận xét, có một hiện tượng dễ dàng nhận thấy là, nhiều cán bộ trung cao cấp của Đảng và Nhà nước ít phát biểu ý kiến tại Hội trường, ít tranh luận, ít chất vấn, nhất là những vấn đề mà Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã có chủ trương lãnh đạo[47]. Ông đặt câu hỏi: “Vì sao lại có hiện tượng đó? Chắc là do nhiều nguyên nhân, ở đây tôi chỉ xin đề cập tới một nhận thức cụ thể cần được làm rõ hơn, đó là nhận thức về nguyên tắc tập trung dân chủ và về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung, đối với Quốc hội nói riêng”. Dĩ nhiên, là đảng viên thì phải tuân thủ kỷ luật Đảng, nhưng điều đó có ảnh hưởng đến động lực phục vụ cử tri hay không?

Thứ hai, nhiều ĐBQH kiêm nhiệm các chức danh hành chính, khiến cho việc quyết định, nhất là những quyết định “đụng chạm” đến hành chính, bị vướng víu khó dứt khoát. Các đại biểu Quốc hội cơ cấu theo ngành không dám nói những vấn đề liên quan đến ngành mình vì ngại đụng chạm. Nói như ĐBQH Phạm Chuyên, là một thành phần trong bộ máy hành pháp – tư pháp, đồng thời là một ĐBQH, ông Chuyên tự nhận mình “giống như “lưỡng thể” – rất khó để nói những điều lẽ ra cần phải nói”[48]. Chẳng hạn, khi bàn vấn đề giao thông ở đô thị, rõ ràng “trong đó có trách nhiệm của tôi (với tư cách giám đốc Công an TP Hà Nội trước đây), vậy thì tôi có thể phê phán ai?” – ông nói rất thật. Bởi vậy, “có ĐBQH phàn nàn những vị có chức, có quyền ít khi tham gia chất vấn tại QH, nhưng thật ra rất khó, vì các vị cũng nhìn thấy trách nhiệm của mình trong đó…”.

Mặt khác, thực tiễn đang có vấn đề là, liệu hoạt động dân cử có phải là một nghề gắn liền với sự nghiệp lâu dài của đại biểu hay không để họ có động cơ rút ngắn thời gian “thử việc”, hay chỉ là tạm thời thì động cơ ấy sẽ chẳng được ưu tiên? Các đại biểu này thực hiện nhiệm vụ dân cử như là công việc phụ vì việc chính là giải quyết các nhiệm vụ chuyên môn tại cơ quan, đơn vị nơi họ công tác nên họ cũng không đầu tư và đóng góp nhiều vào hoạt động dân cử.

Thứ ba, các ĐBQH nước ta “vướng” với chính quyền địa phương. Một cử tri đã đặt câu hỏi cho nguyên Phó chủ tịch QH khoá XI Nguyễn Văn Yểu[49]: Ông Phó chủ tịch Quốc hội nghĩ sao khi tôi khẳng định rằng những đại biểu Quốc hội khoá XI ứng cử tại địa phương tôi chưa thật sự phát huy tác dụng của “người đại biểu nhân dân”, không dám nói hoặc không dám vạch trần cái xấu, cái tiêu cực vì sợ đụng chạn đến “cấp trên”, họ đã làm ngơ trước những nỗi bức xúc của người dân? Nguyên nhân là nhiều đại biểu rất am hiểu mà vẫn không dám phát biểu, vì ở thế “cài răng lược”, hễ nói thì sợ “vướng”, sợ sẽ gây khó khăn cho địa phương hoặc cá nhân bị “trù”. Đại biểu Quốc hội cơ cấu ở địa phương, nếu phát biểu điều gì “mạnh” quá thì lại được lãnh đạo địa phương “nhắc nhở” vì có thể địa phương sẽ bị “kẹt” với các bộ. Ở một số đoàn, đại biểu Quốc hội muốn phát biểu phải được sự đồng ý của trưởng đoàn về nội dung[50]. Đó là những ràng buộc cụ thể, tồn tại khách quan hiện nay. Chưa kể với nhiều ĐB kiêm nhiệm, đang là quan chức địa phương thời gian họp tại Hà Nội của họ nhiều lúc được coi như là “giải lao”.

Đáng lẽ ra, cơ chế động lực trong hệ thống đại diện có hình hài như sau: Người dân bầu ra đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội lựa chọn các thành viên Chính phủ, hoạt động của Chính phủ lại tác động trở lại đến người dân. Nếu những câu hỏi của dân không được trả lời thỏa đáng, hay thậm chí không được trả lời, người dân sẽ thể hiện quyền lực của mình. Họ gửi một thông điệp đến đại biểu Quốc hội: nếu tôi thất vọng, kỳ tới tôi sẽ không bầu anh nữa. Quốc hội gửi thông điệp đến từng Bộ trưởng cụ thể: kỳ tới tôi sẽ không chọn anh nữa. Vòng tròn trách nhiệm này, quan hệ giữa ĐBQH và cử tri mang tính chất uỷ quyền: bằng lá phiếu, cử tri xác nhận việc giao cho ứng viên quyền đại diện cho mình để bảo vệ các lợi ích của mình tại thiết chế quyền lực. Cử tri theo dõi, giám sát, đánh giá hành vi, thái độ của người được mình bầu ra; rồi, tuỳ theo kết quả thực thi cam kết của người đại biểu, cử tri quyết định liệu có tiếp tục dành cho người này sự tin cậy trong các nhiệm kỳ sau. Chính vì phải chịu sức ép thường xuyên của nguy cơ đánh mất sự tín nhiệm của nhóm cử tri có lợi ích được đại diện, mà người đại biểu phải tỏ ra tích cực trong việc bảo vệ lợi ích đó trong quá trình tham gia quyết định ở QH.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, cho đến nay, ĐBQH, đại biểu dân cử nói chung, không xây dựng đội ngũ cử tri trung thành của mình, đúng hơn là không biết và không bận tâm đến việc đó[51]. Với hệ thống đang vận hành, cơ quan đại diện dân cử vẫn phản ánh được cánh cấu trúc thành phần xã hội, “nhưng không phản ánh được cấu trúc lợi ích xã hội”. Bởi vậy, khi thiếu sức ép từ cử tri, dễ hiểu là ĐBQH không cảm thấy có động lực lớn lắm phải làm hài lòng cử tri trong hoạt động của mình, trong đó có cả việc ra quyết định, mà biểu hiện là thiếu trách nhiệm trong quyết định.

4. Thiếu các nguồn lực hỗ trợ

Thiếu thông tin là một nguyên nhân chủ chốt khiến ĐBQH nhiều lúc quyết theo cảm tính hoặc quyết theo người khác. Thực tế cho thấy trước những vấn đề lớn, những dự án, công trình lớn của quốc gia, nhiều ĐBQH rất lúng túng vì thiếu cơ sở thông tin, không nắm được vấn đề. “Mặc dù như người mù sờ chân voi, nhưng các ĐB vẫn phải đưa tay biểu quyết đồng ý”. Nói điều này, đại biểu khoá XI Phan Anh Minh dẫn chứng có dự án lớn chưa khảo sát địa chất, chưa có báo cáo tiền khả thi… nhưng QH vẫn biểu quyết về tổng mức đầu tư, thời gian hoàn thành[52]. Các ĐBQH gọi đây là tình trạng “không biết mà phải biểu quyết”.

Trên bình diện này, từ góc nhìn của một người đứng ngoài quan sát, một người dân nhận xét: “Theo dõi hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ trong các kỳ họp Quốc hội vừa qua, tôi nhận thấy các đại biểu Quốc hội thường rất hay nói “theo dư luận thì…”, “theo thông tin đăng tải trên báo chí…”, chứ ít khi thấy sự việc được đưa ra chất vấn là do tìm hiểu riêng của đại biểu”[53]. Cử tri này cho rằng, đại biểu Quốc hội không chỉ cần đem vấn đề tin đồn đoán của dư luận hay vấn đề đặt ra trên báo chí lên diễn đàn Quốc hội, mà phải là ngược lại: chính đại biểu phải là người phát hiện và xác minh vấn đề qua hoạt động giám sát của mình và qua đó được quyền chất vấn, làm rõ sự việc ngay thời điểm đó chứ không phải đợi đến kỳ họp để chất vấn. Và đại biểu cũng cần được quyền hợp tác với các cơ quan chức năng khác để thực hiện quyền đó, kể cả hợp tác với báo chí để tìm sự ủng hộ.

Nhận ra vai trò then chốt của các nguồn lực như thông tin, chuyên gia để hỗ trợ ĐBQH nhận biết, phân tích vấn đề và thực hiện quyền quyết định, ĐBQH Dương Trung Quốc cho rằng đại biểu Quốc hội phải có bộ máy giúp việc. Bởi vì một trong những cái khó nhất mà ĐBQH xử lý, ví dụ như xử lý đơn của dân, nhiều lúc thấy mình chưa đủ năng lực về pháp luật để có thể phân định được, phát biểu được ý kiến của mình[54]. Theo ông Dương Trung Quốc, nếu chỉ làm công việc đơn giản của người truyền đơn, giống như là anh bưu tá thì đó là một khâu hết sức hình thức. Bởi vậy, ông khẳng định: “người đáng được trợ giúp pháp lý nhất chính là đại biểu Quốc hội, bởi vì đại biểu, trong đó có tôi, không phải là những người am hiểu hết tất cả các vấn đề của luật pháp”.

Nói tóm lại, để có thể quyết về những vấn đề với tầm bao quát rộng như đã phân tích ở phần trước, đưa ra các chính kiến của mình, quyết đúng như cần phải quyết, ĐBQH cần được cung cấp không chỉ các thông tin cần thiết mà còn cả sự trợ giúp của những chuyên gia có đủ thời gian và đủ trình độ nghiên cứu sâu sắc về các vấn đề quan trọng này.

5. Thiếu kỹ năng

Nghề đại biểu Quốc hội, ở bất kỳ nước nào, thể chế nào, cũng thường đòi hỏi những kỹ năng đặc trưng mà công việc thường nhật của đại biểu Quốc hội đòi hỏi, trong đó có kỹ năng ra quyết định. Nhưng kỹ năng để làm đại biểu không phải tự dưng mà có. Kỹ năng thường được tích tụ trong quá trình hoạt động ở một môi trường nhất định, ví dụ, kỹ năng quyết định tích tụ dần dần qua những lần bấm nút biểu quyết. Kỹ năng cũng có thể được truyền tải từ những người đi trước, từ các đồng nghiệp, các chuyên gia thông qua các khoá bồi dưỡng kỹ năng. Mặt khác, kỹ năng cũng chỉ có thể xuất phát từ yêu cầu của công việc, mà công việc của ĐBQH có những đặc thù riêng như đã phân tích, bởi vậy, muốn phát triển kỹ năng, ĐBQH lại phải nắm rõ, hiểu thấu về thiết chế đại diện. Thế nhưng, như đã nói, thông thường hai phần ba tổng số ĐBQH ở nước ta là những người mới, những người được bầu khoá trước vừa bắt đầu quen với công việc nghị trường thì đã rời nhiệm sở, mang theo kiến thức, kỹ năng của mình thu nhận được qua năm năm hoạt động. Hơn nữa, các khoá bồi dưỡng kỹ năng chỉ mới được tổ chức gần đây, cho nên các kiến thức, kỹ năng không được tập hợp, truyền tải một cách tập trung, mà mạnh ai nấy tự học được gì thì học một cách manh mún, lẻ tẻ. Kết quả là như đã thấy, nhiều lúc đứng trước những sức ép khác nhau, ĐBQH băn khoăn không biết dựa vào đâu mà vượt qua nỗi ngại ngùng để quyết; nên quyết theo lợi ích nào; chiều theo ý cử tri hay còn phải tính đến lợi ích toàn cục, lâu dài, và tính như thế nào; cân bằng giữa kỷ luật Đảng và chức năng đại diện như thế nào khi bấm nút biểu quyết; khi cử tri đến tận nhà cầu cứu, cần xử lý ra sao; chất vấn ông bộ trưởng theo cách nào để ông ta không “giận” mà cắt mất dự án của tỉnh nhà v.v…Tất cả những “dích dắc” này đòi hỏi ĐBQH phải có kỹ năng khi đưa ra quyết định cuối cùng bằng cái bấm nút.

IV – GIẢI PHÁP

Để nâng cao năng lực quyết định của cá nhân ĐBQH, trước hết cần đối chiếu với những điểm đặc thù của thiết chế đại diện để biết cần quyết định như thế nào cho phù hợp với những đặc thù đó, và biết cần dựa vào đâu để quyết định. Thứ hai, cần đối chiếu với những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hư quyền, quyết liều, quyết theo để các QH và ĐBQH có các đối sách, giải pháp khắc phục thích ứng. Theo đó, có thể rút ra những giải pháp chủ yếu sau đây: thứ nhất, thiết kế lại quy trình ra quyết định hợp lý hơn để ĐBQH có động lực khi quyết định, được chủ động hơn khi quyết định; thứ hai, ĐBQH có thể dựa vào cử tri để quyết định; thứ ba, củng cố thực quyền cho ĐBQH, đồng thời để ĐBQH thấy được rằng, có thể dựa vào các quyền được trao để quyết định; thứ tư, tăng cường các nguồn lực hỗ trợ để giúp các ĐBQH khi đưa ra quyết định; thứ năm, bồi dưỡng năng lực quyết định.

1. Thiết kế lại quy trình ra quyết định

Điều trước tiên, để không đặt Quốc hội và các ĐBQH vào tình trạng phải thông qua những chuyện đã rồi, trong khi nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng, cần phân định rạch ròi giữa “quyền lãnh đạo của Đảng” và “quyền lực nhà nước”. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước. Từ trước tới nay, lãnh đạo Đảng đã có nhiều ý kiến nói về ranh giới này.[55] Bài phát biểu của ông Trương Đình Tuyển tại Đại hội X về đổi mới phương thức và nội dung lãnh đạo của Đảng đã được cả hội trường tán thành cao.[56] Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sau khi tái đắc cử trả lời báo chí cũng nhấn mạnh Đảng không làm thay hệ thống Nhà nước.[57] Việc phân định giúp tránh tình trạng bao biện, làm thay; sự bao biện chỉ có làm suy yếu năng lực quyết định của cá nhân ĐBQH và của cả thiết chế QH, cũng có nghĩa là đi ngược với mục đích của sự lãnh đạo.

Tiếp theo, nên hiểu nguyên tắc tập trung dân chủ là tập trung trong Đảng, dân chủ ở Quốc hội. Tập trung đối lập với quan liêu, độc đoán, áp đặt ý kiến. Mọi quyết định tập trung đều phải được hình thành và tổ chức thực hiện thông qua dân chủ, phát huy mọi sự sáng tạo. Khi đã thống nhất các chủ trương lớn trong Đảng rồi thì bước tiếp theo là đưa ra bàn rộng hơn, công khai ở Quốc hội cho dân biết. Với bản chất dân chủ, với tính chất diễn đàn mở của Quốc hội, cần thấy trước và chấp nhận các ý kiến thảo luận đa chiều ở Quốc hội. Dân chủ thể hiện trong mọi hoạt động: thảo luận và thông qua các dự luật, chất vấn, thảo luận và biểu quyết các vấn đề kinh tế-xã hội, quyết định các dự án lớn, bầu và phê chuẩn nhân sự.

Muốn ĐBQH có thể sử dụng quyền quyết định của mình, quy trình ban hành quyết định ở QH vừa phải “bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng một cách đúng đắn; vừa ủng hộ Chính phủ một cách có trách nhiệm; vừa ngày càng nâng cao được vai trò thực chất của Quốc hội, từng bước giảm tính hình thức; góp phần thiết thực để mỗi thành viên trong hệ thống chính trị ngày càng làm tốt hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao”[58]. Nhiều khi chỉ cần quy định những thủ tục thích hợp là có thể đảm bảo được nguyên tắc này. Chẳng hạn, theo phát biểu của đại biểu tại phiên họp bầu nhân sự QH khoá XI, ngày 23/7/2002, có thể hiểu rằng, một số quy định về thủ tục làm việc của Quốc hội có thể làm cho tiến trình bầu nhân sự tại Quốc hội trở nên “dân chủ hơn”, ĐBQH có cơ sở hơn để quyết định lựa chọn[59]. Đó là: 1) giới thiệu một danh sách ứng cử viên nhiều hơn số lượng các chức danh cần bầu; 2) việc giới thiệu thêm các ứng cử viên khác cần được hoàn tất trước ngày bầu nhân sự một khoảng thời gian nhất định để ứng cử viên được giới thiệu có đủ thời gian chuẩn bị và đại biểu có thời gian tìm hiểu; 3) tạo điều kiện để ứng cử viên được phát biểu trên diễn đàn Quốc hội, đồng thời hỏi – đáp giữa các đại biểu và ứng cử viên vào chức danh cao cấp.

Giá trị của dân chủ không chỉ ở những kết quả mà nó mang lại. Giá trị của dân chủ còn ở chỗ những kết quả đó đạt được theo cách nào. Trong một nền dân chủ, quá trình ra quyết định cần phải được “mở” một cách bình đẳng cho tất cả các bên tham gia bàn luận. Nhiều khi tưởng chừng như ý định, giải pháp nào đó mà một bên đưa ra là hợp lý, tối ưu một cách hiển nhiên, nhưng vì không qua bàn thảo, tranh luận cho ra nhẽ nên không được chấp thuận, hoặc buộc phải chấp thuận một cách miễn cưỡng, ấm ức. Có thể không phải tất cả các đạo luật, các quyết sách mà Quốc hội thông qua đều tuyệt vời. Nhưng ít nhất, trước khi được thông qua, chúng phải được các ĐBQH bàn thảo, tranh luận cho ra nhẽ, được số đông chấp thuận. Như lãnh đạo Đảng và Nhà nước từng phát biểu, “không nên đặt Quốc hội trước sự đã rồi”, “không áp đặt”, “không nên biến Quốc hội thành cây cảnh”. Tranh luận có tác dụng hợp thức hoá các quyết sách mà Quốc hội thông qua, làm cho Quốc hội thực sự là thiết chế dân chủ và đại diện (xem hộp 3).

Hộp 3: Quy trình ban hành quyết định mang tính tương tác

Kỳ họp thứ 8, QH khoá XI thể hiện sự tương tác rất lớn giữa QH và xã hội, thể hiện rõ nhất ở tiến trình đầy khó khăn của Luật đầu tư (mà các bên có vẻ vẫn chưa ai thật sự thỏa mãn). Nhưng có một điều mà chúng ta có thể thỏa mãn, đó là lần đầu tiên có sự tương tác rõ ràng, mạch lạc, cam go giữa người ban hành quyết định với những người bị điều chỉnh, ở sự thể hiện và cọ xát về lợi ích – cả với DN trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài mà đại diện là ba phòng thương mại – trong quá trình ban hành quyết định.

Lần đầu tiên, theo đề nghị của Chủ tịch QH, cơ quan soạn thảo và Uỷ ban thẩm tra đã gặp gỡ và trao đổi với các vị đại biểu QH là doanh nhân để làm rõ từng quy định cụ thể của luật. Không còn chuyện quyết định được ban hành mà chỉ “phe ta nghe ý kiến của phe mình”. Đó là một bước chuyển rất đáng mừng, hy vọng chất lượng của quy trình ban hành quyết định sẽ được nâng cao. Cách làm này là “Quy trình ban hành quyết định tham dự” (participatory decision making process), một biểu hiện rất quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại.

(Nguồn: Nguyễn Sĩ Dũng, “QH và những ghi nhận khách quan”, Tuổi Trẻ, ngày…)

Quy trình ban hành quyết định cũng cần được thiết kế theo hướng để ĐBQH có đủ điều kiện tìm hiểu sâu vấn đề, từ đó có niềm tin vững chắc khi đưa ra quyết định cuối cùng. Về vấn đề này, quy trình ngân sách là một ví dụ điển hình. Khi còn là Chủ nhiệm UB Kinh tế và Ngân sách, Phó chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên từng nói: “Trong quá trình giúp QH thẩm tra việc lập, phân bổ, quyết định dự toán, quyết toán ngân sách Nhà nước, UB và các cơ quan liên quan của Chính phủ như người mẫu phải đi đan chéo chân vào nhau thì mới kịp có báo cáo để trình QH”[60]. Theo Phó chủ tịch, sắp tới, quy trình này cần phải tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chính là triển khai việc lập dự toán ngân sách Nhà nước năm sau phải tiến hành sớm hơn. Muốn làm được điều này, đồng thời bảo đảm chất lượng việc lập, thẩm tra, trình QH xem xét, quyết định những nội dung liên quan đến tài chính- ngân sách… thì QH, các cơ quan của QH phải cập nhật được thông tin liên quan đến thực hiện ngân sách của thời kỳ kế hoạch trước đó, đồng thời phải làm tốt công tác dự báo về những vấn đề kinh tế nói chung, những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách nói riêng. Khi đó mới bảo đảm được chất lượng ngân sách Nhà nước khi trình QH và các ĐBQH xem xét, quyết định.

Mặt khác, quy trình ban hành quyết định cần có những nhân tố mới như tăng thêm số đại biểu Quốc hội chuyên trách, nhất là các cán bộ khoa học, kỹ thuật, có kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực ở các bộ, ngành, tạo điều kiện cho Quốc hội, các ĐBQH có thể độc lập hơn trong đánh giá, phản biện, biểu quyết các dự luật mà không “phụ thuộc” vào Bộ chủ quản như hiện nay. Nên giảm bớt đại biểu là người đứng đầu địa phương, không nhất thiết địa phương nào cũng có người đứng đầu là đại biểu Quốc hội, vì các địa phương đều muốn giữ mối quan hệ “thân thiện”, để tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ, ngành ở Trung ương, nên khó có thể phát huy tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn phê bình, chất vấn và truy cứu trách nhiệm của bộ trưởng và các thành viên Chính phủ. Hoặc là có thể học các nước để làm sao cho ĐBQH thể hiện rõ được quan điểm của mình trước “bàn dân thiên hạ” mỗi khi biểu quyết v.v…

Nói tóm lại, có lẽ điều chỉnh cung cách, lề lối làm việc trong quá trình ban hành quyết định ở Quốc hội theo kinh nghiệm của các nền dân chủ đại diện khác là việc làm cần thiết. Các đại biểu – những người đại diện cho quyền lợi chung – sẽ không còn bị đặt trước những tình huống “không giống ai” như: “kiểu gì cũng phải thông qua”, “việc này đã được Trung ương quyết định”… Nếu luật chơi cho cả nước đã khó có chuyện “ta khác” khi đã hội nhập hoàn toàn, thì “luật chơi” trong Quốc hội cũng không nên “ta khác”.

2. Củng cố và dựa vào các quyền được trao

Quả thật ĐBQH ở một tình thế rất khó khi quyết định, nhưng mặt khác, họ có những chỗ dựa vững chắc để vượt qua khó khăn. Trước hết, đó là vị thế của một người đại biểu mà Hiến pháp và pháp luật đã trao cho.Vị thế ĐBQH dựa trên ba yếu tố chính: sự độc lập trong hoạt động; sự bình đẳng với các đại biểu khác; các quyền của đại biểu, trong đó quyền “gật” và “lắc” là quyền to nhất.

Sự độc lập có nghĩa là khi thực hiện vai trò đại diện của mình, ĐBQH không chịu một sự chỉ đạo nào từ các bên, dù đó là cử tri, đảng hay lãnh đạo Quốc hội. Khi thảo luận, biểu quyết, ĐB chỉ theo sự suy xét của cá nhân mình liệu quyết định của cá nhân đại biểu đó có đem lại lợi ích tốt nhất cho quốc gia và cho cử tri hay không.

Sự bình đẳng hàm ý rằng, theo Hiến pháp và pháp luật nước ta, các ĐBQH đều được bầu trực tiếp qua đầu phiếu phổ thông, thay mặt cho cử tri hoạt động trong QH thông qua việc thực hiện các chức năng lập pháp, giám sát và đại diện. Vị thế này bảo đảm cho từng ĐBQH sự bình đẳng trong quan hệ với mọi ĐBQH khác, dù đó là ĐB thường, Chủ nhiệm UB hay Chủ tịch QH. Mỗi ĐB nắm giữ một lá phiếu quyết định và cần phải được ứng xử bình đẳng như nhau. Do đó, cần hiểu rằng Chủ tịch QH và các Phó Chủ tịch QH được gọi là lãnh đạo QH với nghĩa điều hành công việc của QH, chứ không phải lãnh đạo cá nhân ĐBQH.

Về các quyền, ĐBQH được trao nhiều quyền, nhưng chung nhất, đại biểu có quyền to nhất là “gật đầu” hoặc “lắc đầu” trước những chuyện quan trọng nhất của đất nước, tức là quyền quyết định cuối cùng, dù đó là một dự luật, một vấn đề cần giám sát, hay một nghị quyết về công trình trọng điểm quốc gia. Nếu tự thấy không thể “gật”, cũng không thể “lắc”, thì chọn phương án “không biểu quyết” cũng là một cách quyết, chứ không nên “quyết liều”. Không biểu quyết cũng là một thái độ có trách nhiệm, có chính kiến (xem hộp 4).

Hộp 4: ĐBQH thể hiện chính kiến

Trong các kỳ họp khoá XI, các đại biểu Quốc hội đã nhiều lần thể hiện chính kiến rõ ràng. Ví dụ, ở kỳ họp thứ 9, chưa bao giờ xảy ra tình trạng lấy ý kiến đại biểu Quốc hội cho công tác nhân sự lại nhận được nhiều phiếu trắng và phiếu không đồng ý đến như vậy. Điều đó thể hiện rằng, các đại biểu Quốc hội đã bắt đầu thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối một cách rõ ràng. Kể cả trong bỏ phiếu miễn nhiệm các đồng chí lãnh đạo chủ chốt hay bầu, bổ nhiệm lãnh đạo mới, các đại biểu Quốc hội đều thể hiện chính kiến rất rõ ràng, thông qua tỷ lệ số phiếu bầu đồng ý hay không đồng ý.

Tuy nhiên, để biến các quyền được trao thành thực quyền, ĐBQH cần biết cách sử dụng các phương thức hoạt động sẵn có. Chẳng hạn, ĐBQH có thể sử dụng các phiên họp toàn thể như một diễn đàn có sức lan tỏa lớn để lên tiếng thay dân. ĐB cũng có thể sử dụng các phương thức giám sát như chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm, UB điều tra để giám sát CP. Tất cả những phương thức này đều đã được pháp luật quy định, mọi việc còn lại đều phụ thuộc vào chính ĐB- ĐB có muốn và đủ trí dũng để dùng chúng hay không mà thôi. Quả thật nhiều phương thức còn thiếu những quy trình cụ thể, vì thế khó áp dụng. Nhưng không ai khác ngoài chính các ĐBQH là những người có thể thay đổi những quy trình này. Như vậy, để có thể dễ dàng sử dụng các phương thức hoạt động, một lần nữa chính các ĐBQH là người chủ động quyết định.

Mặt khác, để ĐBQH có thể cảm thấy “gọn nhẹ” hơn, cần bỏ bớt những quyền thừa đã nói ở phần trước. Sở dĩ QH và ĐBQH được (hay bị?) trao quyền nặng quá như vậy là vì theo lý thuyết thống nhất quyền lực, mọi quyền lực đều tập trung vào QH. Nhưng tư duy biện chứng và tư duy lịch sử mà chúng ta hay nhắc đến lại đòi hỏi mọi lý thuyết đều phải được lật đi giở lại, phải phát triển cho phù hợp với thời cuộc. Mà thời cuộc lại cho thấy, sự tập trung quyền quá nhiều như vậy chỉ làm cho QH nặng nề thêm, không phản ứng kịp với những biến chuyển của thực tiễn. Vượt qua được tư duy thì việc chuyển quyền từ đây sang đó chỉ là chuyện nhỏ về kỹ thuật.

4. Tăng cường và dựa vào các điều kiện hỗ trợ

Nếu các nguồn lực hỗ trợ về thông tin, chuyên gia, hành chính, điều kiện vật chất là một trong những điều kiện để ĐBQH hoạt động, mỗi ĐBQH cũng cần biết cách sử dụng các nguồn lực đó.

4.1. Thông tin: cần sự chủ động của mỗi ĐB

Làm sao để không bị ngập trong biển thông tin của thời đại hiện nay? ĐBQH đang thừa thông tin nhưng cũng đang thiếu thông tin-thiếu thông tin đã được xử lý. ĐBQH có thể thu nhận thông tin từ nhiều nguồn: từ cử tri, từ các cơ quan tham mưu giúp việc của QH là các vụ trong VPQH và VP ĐĐBQH; từ phía CP cung cấp theo yêu cầu; từ nguồn chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các trường ĐH; các hiệp hội; doanh nghiệp; báo chí…Mỗi nguồn thông tin có điểm mạnh và điểm yếu của mình. ĐBQH có lợi thế là người tập hợp và tận dụng được thế mạnh của từng nguồn đó. Ví dụ, thông tin của các chuyên gia pháp lý, kinh tế giúp ĐHQH nhận biết được những ngóc ngách trong các dự án của CP, giúp ĐBQH không bị «múa các con số»; trong khi đó, thông tin tham vấn được từ cử tri, từ hiệp hội… giúp ĐBQH phản biện được các dự án của CP từ góc nhìn đại diện. Cũng cần lưu ý rằng, tham vấn nhiều nguồn thông tin, nhưng ĐBQH là người cuối cùng xử lý thông tin và quyết định bấm nút

Những thông tin được cung cấp một phần theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội, một phần do các chuyên viên của VPQH thu thập, nghiên cứu và biên soạn. Thông thường, các kết quả nghiên cứu chính là cơ sở để xây dựng chính sách lập pháp và hình thành các giải pháp lập pháp. Đặc biệt, ĐBQH cần biết rằng, ĐBQH có quyền yêu cầu các đơn vị trong VPQH cung cấp thông tin cần thiết cho hoạt động nghị trường.[61] Mỗi đơn vị có một ưu thế riêng trong thông tin, và ĐBQH có thể tận dụng từng ưu thế đó. Ví dụ, Vụ Pháp luật có thể cung cấp cho ĐB những thông tin chuyên sâu liên quan đến các dự luật; Vụ Kinh tế – về các vấn đề kinh tế; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp- các bài viết, tài liệu của giới nghiên cứu, các chuyên gia ở bộ ngành về tất cả các lĩnh vực; Trung tâm TT-TV-NCKH – các báo cáo, nghiên cứu chuyên đề, điều tra xã hội học…

Quy trình yêu cầu và nhận thông tin được thiết kế đơn giản để tạo sự tiện lợi tối đa cho các đại biểu Quốc hội. Nếu muốn được cung cấp những thông tin đã được biên soạn sẵn, đại biểu chỉ cần theo dõi danh mục các chuyên đề và ghi vào phiếu yêu cầu. Nếu muốn được cung cấp thông tin theo nội dung mình cần, đại biểu ghi nội dung yêu cầu vào phiếu và gửi lại cho bộ phận cung cấp thông tin. Trong hai trường hợp này, đại biểu Quốc hội nắm quyền chủ động về nội dung thông tin trong trường hợp thứ hai[62].

Bản thân các ĐBQH cũng có thể chủ động tự mình thu thập thông tin qua báo chí, cử tri, hiệp hội. Nhất là trong thời đại ngày nay, Internet là một công cụ tuyệt vời để thu thập thông tin. Thậm chí Quốc hội Việt Nam đã có vị đại biểu đầu tiên trò chuyện với nhân dân hàng ngày trên… blog, đó là ĐBQH Dương Trung Quốc. Ông bắt đầu ngồi học, từ cách tạo hình nền, tạo ảnh đại diện cho tới việc xem và quản lý những lời bình luận. Nhưng cái ông cần không phải là thao tác kỹ thuật. Những câu chuyện như chính khách gặp “tai nạn” vì lập blog, sức ép của dư luận, blog bị tấn công, những khả năng nhạy cảm… là cái mà ông muốn được biết. “Biết để chuẩn bị cho mình tâm thế khi ra mắt, đối thoại với công luận trên một phương diện khác”[63]. Những friends của blogger QuocXuaNay có thể chia sẻ những suy nghĩ của một thế hệ mới, trẻ trung, năng động, từ đó ĐBQH Dương Trung Quốc có thể rút ra những kết luận, tầm nhìn khác cho tương lai khi bấm nút quyết định một vấn đề nào đó.

Tiếp theo, ĐBQH cần xác định trọng tâm của thông tin. Xuất phát từ bản chất của QH là cơ quan đại diện, bảo vệ các lợi ích khác nhau trong xã hội, cho nên năng lực tham vấn và phản biện chính sách của QH và của từng ĐB cần được tăng cường. Như vậy, cần đặc biệt chú trọng cung cấp thông tin cho giai đoạn thẩm tra dự án luật, thẩm tra các luận chứng kinh tế-xã hội, tài chính- ngân sách…, khi giám sát CP tiêu tiền ngân sách như thế nào. Do đó, phân tích thông tin, thực chất gồm hai nội dung lớn: xác định xem thông tin đó có cần thiết với nhu cầu của mình hay không, ví dụ nhu cầu quyết định về một dự luật; và, thông tin đó có đáng tin cậy hay không để quyết định đồng ý hay bác bỏ dự luật?

4.2. Chuyên gia, chuyên viên: mối quan hệ cộng tác

Mối quan hệ giữa ĐBQH với chuyên gia, chuyên viên của VPQH là mối quan hệ hợp tác: giữa ĐBQH và chuyên gia không hề tồn tại mối quan hệ thủ trưởng hành chính, ĐBQH không thể ra lệnh cho chuyên gia, chuyên viên phục vụ mình, và nhất là phục vụ những công việc không phải là hoạt động nghị trường.

Mặt khác, các chuyên gia, chuyên viên có trách nhiệm theo luật định phục vụ, tham mưu cho hoạt động của QH và từng ĐBQH. Như vậy, ĐBQH vẫn có quyền yêu cầu các dịch vụ về công tác chuyên môn, thông tin-tư liệu và hành chính-quản trị của các chuyên gia, chuyên viên để đảm bảo hoạt động lập pháp, giám sát, đại diện được thông suốt.

Như vậy, khi đã được tạo điều kiện, được cung cấp các phương tiện, các thông tin để giúp đại biểu tự nghiên cứu, xem xét, không có cách nào khác, để làm tròn vai đại biểu, mỗi người phải tự sắp xếp, bố trí thời gian. Các đại biểu kiêm nhiệm hầu hết ai cũng tham gia nhiều cương vị xã hội khác nhau, nhưng chính họ chứ không ai khác phải đầu tư, tập trung trí tuệ xung quanh để làm tốt vai trò đại diện, nhất là khi ra quyết định cuối cùng.

4. Dựa vào cử tri

Bên cạnh các quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền của ĐBQH, một chỗ dựa vững chắc khác là sự hậu thuẫn của cử tri mỗi khi ĐBQH phải ra quyết định. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định ngay từ ngày đầu hoạt động của QH, “các ĐB trong QH này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam”. Bởi vậy, dù trong Đảng hay ngoài Đảng, trung ương hay địa phương, ngành này hay bộ kia, sứ mệnh của một ĐBQH là làm tốt vai trò đại diện đó. Ý nguyện của cử tri là cơ sở để đại biểu Quốc hội quyết định, và nắm bắt ý nguyện đó là “điều tối thiểu mà mỗi ĐBQH cần phải làm”[64]. Nếu vai trò then chốt của ĐBQH ở chỗ phản biện chính sách của CP, thái độ của cử tri chính là thước đo chính xác về tính hiệu quả của các chương trình, kế hoạch của CP để ĐBQH dựa vào đó mà phản biện.[65] Từ việc giữ mối liên hệ với cử tri, ĐBQH có thể  chắt lọc ra những vấn đề cần phản ánh vào trong hoạt động nghị trường, từ tầm vĩ mô xuống với tầm vi mô để từ đó lại nâng lên tầm vĩ mô, góp phần làm cho các quyết định của QH và cá nhân ĐBQH sâu sắc và sâu sát hơn (xem hộp 5).

Hộp 5: Ông vĩ mô và bà vi mô cùng đi chợ

Một quan chức chính phủ cho hay diễn biến giá tiêu dùng năm 2007 còn trong vòng kiểm soát khi so sánh tỷ lệ tăng GDP với tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, các bà nội trợ thì ít biết đến các con số vĩ mô. Các bà tư duy từ nhà ra đến ngõ, quá lắm là đến chợ mà thôi, bằng tiền mua gạo, mua rau, mua mắm, mua muối và thảng hoặc dăm ba lạng thịt… Nếu ngày hôm qua cũng tiền ấy mua được 5 lạng thịt hôm nay còn 3 thì các bà sẽ tư duy bằng cái xót xa.  Mâm cơm gia đình do bà vi mô nấu có cả ông vĩ mô ăn. Ông vĩ mô ăn có 3 mà cứ bảo đã ăn những 5 xem ra ông vĩ mô đã không thật lòng. Ông vĩ mô duy ý chí. Ông vĩ mô xa rời thực tế, ông vĩ mô không biện chứng. Ông vĩ mô duy tâm. Bao giờ thì ông vĩ mô và bà vi mô nói cùng một giọng? Có thể điều ấy sẽ xảy ra nếu ông vĩ mô đi chợ cùng bà vi mô.

(Văn Bông, “Chỉ có cách ông vĩ mô và bà vi mô cùng đi chợ”, NĐBND 1/8/2007)

Một ĐBQH khoá XI cho rằng, giữ quan hệ với cử tri- nói thì đơn giản, nhưng phải phấn đấu cật lực mới làm được. Phấn đấu với chính mình, với xu hướng “hành chính hóa” QH, rất “khỏe và dễ chịu” cho mình trong điều kiện một Đảng cầm quyền[66]. Nhưng khi đã duy trì được mối quan hệ chặt chẽ, thường xuyên với dân, thái độ lắng nghe và thấu hiểu lòng dân, đó chính là một nguồn hỗ trợ ĐBQH thực thi vai trò đại diện, làm luật và giám sát được tốt hơn, có quyết định chính xác hơn (xem hộp 6 dưới đây).

Hộp 6: Nhờ dân nên biết cái nào là hợp lý

  • ĐBQH khoá XI Đỗ Trọng Ngoạn: “Tôi đã tham gia rất nhiều dự án luật. Có người bảo rằng “Sao anh Ngoạn giỏi thế, tham gia nhiều thế, cái gì cũng biết?” Tôi nói luật chính là cuộc sống chứ có phải là cái gì đấy cao xa đâu. Tôi có điều kiện tiếp xúc dân và hiểu dân, có thể những điều chuyên ngành về luật tôi chưa hiểu hết nhưng tôi biết cái nào là hợp lý” (Nguồn: Đại biểu Quốc hội đã hứa và làm được gì? Dân Trí, 15/5/2006).
  • ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nhân đã dám chất vấn vào những vấn đề nhạy cảm nhất đối với một quan chức cấp cao là thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Sở dĩ nữ đại biểu QH Nguyễn Thị Việt Nhân có thể chất vấn ông thống đốc Ngân hàng Nhà nước một cách sâu sắc như vậy là vì cử tri đã cung cấp cho bà tất cả những thông tin cần thiết. Ngoài ra, bà Nhân đã đi tìm hiểu thực tế về những thông tin của cử tri trước khi chính thức chất vấn.

Bên cạnh đó, cử tri cũng là chỗ dựa hùng mạnh để ĐBQH vượt qua những nỗi ngại ngùng, nể nang để làm tốt công việc của mình (xem hộp 7 dưới đây), vì nói cho cùng, ĐBQH được chính cử tri bầu lên, và làm hài lòng cử tri là phận sự, bổn phận của mỗi ĐBQH. Nếu “bới móc Chính phủ” hiểu theo nghĩa phát hiện, xới lên, báo động về những chuyện liên quan đến lợi ích quốc gia và quyền lợi cử tri mà đại biểu Quốc hội cần phải bảo vệ, thì tại sao lại phải phải ngại? Hơn nữa, lên tiếng phát biểu về những chuyện của quốc gia và của cử tri là một quyền, đông thời là trách nhiệm của đại biểu cơ mà. Còn nhớ tại một kỳ họp Quốc hội, một vị Bộ trưởng khi bị chất vấn rát quá đã phản ứng rằng, hỏi và nói thì dễ, nhưng đề ra giải pháp mới là khó. Nhưng thực ra, khi lên tiếng, “nói” như thế ở diễn đàn Quốc hội, các đại biểu đã “làm” tốt phận sự của mình rồi, còn đề ra giải pháp là nhiệm vụ của Chính phủ. Đấy chính sự giản dị của cơ chế phân công, phân nhiệm giữa lập pháp và hành pháp mà Hiến pháp đã quy định.

Hộp 7: Dựa vào cử tri để dám làm, dám quyết

  • Tại QH khoá XI, lần đầu tiên có một đại biểu Quốc hội yêu cầu Thủ tướng xin lỗi dân. Đó là ông Nguyễn Minh Thuyết: “Từ ngày thành lập nước (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cho đến bây giờ, đây là lần đầu tiên có một khóa Quốc hội có lắm cán bộ cấp cao hư hỏng đến thế. Cử tri cả nước xót xa, phẫn nộ, Đại biểu Quốc hội tiếp xúc với bà con cũng thấy rát mặt. Vậy mà báo cáo của Chính phủ chỉ vỏn vẹn 10 chữ nói đến nạn “nội xâm” này”.  Ông yêu cầu: “Thủ tướng và Chính phủ cần kiểm điểm nghiêm túc trước Quốc hội và có lời xin lỗi toàn thể quốc dân. Xin lỗi không phải là xấu, xin lỗi là để hạ quyết tâm từ nay sẽ chống tham nhũng quyết liệt thật sự”. Dám nói và dám yêu cầu như thế là do ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết cho rằng “cử tri yêu cầu tôi làm như vậy”.

(Nguồn: Hồng Phúc, “Làm mới” Quốc hội, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 25/5/2006)

  • ĐBQH khoá XI Nguyễn Thị Hoài Thu: “Có những việc muốn làm sáng tỏ phải đi đến tận nơi nghe dân nói. Chẳng hạn, việc đòi lại nhà cho mẹ Trịnh Thị Lia, quê Tiền Giang. Vì vụ việc này mà tôi phải đeo bám ráo riết, nhiều lần về tận nơi, đấu tranh cả với các anh em, đồng chí cũ cùng hoạt động cách mạng khi xưa với mình. Kết quả, công lý đã thắng, mẹ Lia đã được trả lại nhà”. ĐBQH Nguyễn Thị Hoài Thu dám quyết làm đến cùng cũng nhờ xuất phát từ ý nghĩ rằng bà làm cho cử tri, cử tri là chỗ dựa của bà.

(Nguồn: Hỏi chuyện bà “Bộ trưởng Bộ giải quyết khiếu nại của dân”, Viêtnamnet, ngày 13/8/2007)

Như vậy, việc trao đổi ý kiến và lắng nghe dân là nhiệm vụ thuộc tính của một ĐBQH[67]. Ý này cũng khẳng định lại câu nói của Bác Hồ với nhân dân Hà Nội ngày 24.4.1960: Sáng nay, một cán bộ mời tôi đi “ra mắt cử tri”. Tôi trả lời: “Đã bao nhiêu năm lòng tôi luôn ở cạnh đồng bào và tôi tin rằng lòng đồng bào cũng luôn luôn ở cạnh tôi. Xa lạ gì mà phải ra mắt[68].

Tuy nhiên, dựa vào cử tri để lấy điểm tựa, có thêm cơ sở để quyết định, nhưng người đưa ra quyết định cuối cùng vẫn là đại biểu. Trong không ít trường hợp, chiều lòng cử tri chưa hẳn là đã tốt cho lợi ích toàn cục lâu dài. Chẳng hạn, hiện nay dự luật Thuế thu nhập cá nhân đang được thảo luận rộng rãi, và sẽ được QH thảo luận để thông qua tại kỳ họp tháng 10/2007. Trên thế giới, ở nước nào cũng thế, đề nghị chi ngân sách (dù có được hay không) thì được lòng dân, còn đề nghị tăng thuế thì dễ bị dân không ưa. Nếu theo dõi thật kỹ những cuộc thảo luận thuế, có thể phát hiện ra một điểm lý thú là hầu hết các ý kiến ủng hộ đến từ các chuyên gia kinh tế; trong khi đó, rất nhiều những đại biểu do dân bầu ra hoặc im lặng, hoặc lên tiếng đề nghị giảm thuế hay hoãn luật[69]. Cũng như vậy, như đã nói, trong các kỳ họp Quốc hội, số ý kiến “xin” ngân sách cho tỉnh này, “xin” dự án cho tỉnh kia… vượt xa những ý kiến về tăng thu ngân sách[70]. Tăng chi mà không tăng thu, vậy phải hỏi tiền ở đâu ra? Trả lời câu hỏi này, một chuyên gia phân tích như sau: cơ cấu ngân sách hiện tại gồm khoảng một nửa là thuế nhập khẩu, bán dầu thô, và viện trợ nước ngoài. Thu từ doanh nghiệp chiếm khoảng 1/3 nữa. Khoản thu vượt chi gần 20% phải dựa vào vay trong nước và vay nước ngoài. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, nợ của Việt Nam tại năm 2004 lên đến gần 40% GDP. Theo một xếp hạng khác, Việt Nam đứng trong số 50 nước có tỉ lệ nợ trên GDP cao nhất. Như vậy, trong cơ cấu ngân sách hiện tại, phần lớn nhất được đóng góp đồng đều bởi cả người giàu và người nghèo. Một phần không nhỏ (vay nợ) là đóng góp của những cử tri trong tương lai[71]. Đây là bài toán mà các đại biểu sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng, trên cơ sở cân bằng quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của những nhóm cử tri cụ thể khi quyết định về Luật thuế thu nhập cá nhân. Tâm lý người bình thường ai mà không muốn nộp thuế ít. Nếu chiều theo ý cử tri, ĐBQH có thể sẽ phải biểu quyết đồng ý với phương án nâng mức khởi điểm nộp thuế thu nhập cá nhân lên chẳng hạn, nhưng nếu suy tính kỹ về lợi ích tổng thể, có thể ĐBQH thấy rằng mức khởi điểm mà Dự thảo đưa ra có thể có lợi hơn.

5. Nâng cao năng lực cá nhân

Như đã nói, những năng lực để làm đại biểu, trong đó năng lực quyết định không phải tự dưng mà có. Để làm được điều này, không gì hơn là cần chủ động tham gia vào “dòng chảy” các hoạt động của Quốc hội. Môi trường Quốc hội chính là nơi đào tạo tốt nhất cho các chính khách chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, từ nhiệm kỳ khóa XI, VPQH đã chính thức tổ chức các chương trình bồi dưỡng kỹ năng cá nhân cho ĐBQH. Những nội dung được giới thiệu ở các chương trình này đang được nhiều đại biểu sử dụng một cách hiệu quả.

Nói về năng lực quyết định của cá nhân ĐBQH, biểu quyết theo ý cử tri hay theo suy nghĩ riêng của mình là một sự lựa chọn khó khăn. Có người lựa chọn phương án an toàn là biểu quyết theo ý kiến cử tri. Tuy nhiên, những người này sẽ phải đối mặt với rủi ro trong việc xác định đâu là ý kiến chung của các cử tri. Dư luận được thể hiện trên báo chí nhiều khi chỉ là ý kiến của những cử tri bức xức mà thôi, chưa phải là ý kiến của đa số và nhiều khi không phải là ý kiến đúng đắn nhất, phù hợp nhất. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên, ý kiến của đông đảo cử tri chưa chắc đã phản ánh lợi ích lâu dài và toàn cục. Vì vậy, cách tốt hơn là biểu quyết dựa trên suy nghĩ của chính đại biểu. Sự lựa chọn của cử tri trong mỗi lần bầu cử chính là sự tin tưởng của cử tri đối với khả năng xét đoán của người đại diện cho mình. Cử tri tin rằng người đại biểu nhân dân sẽ đủ khả năng và trách nhiệm xét đoán đâu là lợi ích tốt nhất cho cử tri và đồng thời cũng là lợi ích của quốc gia.

Tuy nhiên, muốn quyết định được như vậy, trong tình hình hiện nay, khi năng lực thể chế bị thất thoát nhiều do cơ chế nhiệm kỳ, tập huấn, bồi dưỡng cho các vị đại biểu có lẽ là giải pháp quan trọng và khả thi. Các ĐBQH có thể học về vai trò của Quốc hội cần được nâng cao cho thời kỳ mới như thế nào, học từng vấn đề quan trọng trước khi phải đi tới biểu quyết – học để có tri thức cần thiết cho chất lượng quyết định của mình, với ý thức là người thay mặt dân làm chủ đất nước, chứ không phải học để quán triệt[72]. Ở các nước, nhất là các nước đang phát triển, đang đi lên, người ta có nhiều hình thức học như vậy[73]. Ví dụ, Văn phòng Quốc hội có thể cung cấp thông tin cho đại biểu theo yêu cầu, nhưng điều quan trọng là phải ĐBQH phải học cách nhìn ra vấn đề để yêu cầu thông tin phù hợp với vấn đề cần quyết định. Hoặc ĐBQH cần học cách để tìm kiếm sự ủng hộ đối với quyết định của mình, bởi lẽ QH quyết định theo đa số. Nói như một ĐBQH, Quốc hội là nơi để lobby lẫn nhau những ý tưởng, quan điểm, nhận thức, đánh giá, để chia sẻ kiến thức, chia sẻ quan điểm, chia sẻ lợi ích để cuối cùng có tiếng nói chung trong một quyết định cuối cùng[74]. Muốn thành công, đại biểu buộc phải “thúc đẩy, liên tục thúc đẩy, và thúc đẩy thật mạnh. Hơn thế, đại biểu còn phải biết lựa thế đặt sáng kiến của mình trong những điều kiện thuận lợi nhất và biết tự tạo ra điều kiện, ví dụ như tìm kiếm mọi sự ủng hộ có thể có, tranh thủ sự ủng hộ của các bên liên quan, làm đầu mối thương lượng giữa các bên”[75]. Kinh nghiệm này của một nghị sỹ nước ngoài có thể giúp ích cho ĐBQH nước ta trong quá trình ra quyết định ở QH.

Để nâng cao năng lực quyết định, ĐBQH khoá XI Nguyễn Ngọc Trân chia sẻ kinh nghiệm: cần nâng cao năng lực về lý luận; nâng cao năng lực qua kỹ năng xử lý thông tin, biết tích lũy và sử dụng thông tin đúng nội dung, đúng lúc; nâng cao năng lực qua kỹ năng diễn đạt ngắn gọn, đủ ý và dễ hiểu. Kỹ năng diễn đạt không phải là luyện cách nói mà là kết tinh của nền tảng hiểu biết và của 3 cái biết “biết nghe, biết nhìn và biết hỏi”. Khi đó, như một ngạn ngữ nước ngoài đã tổng kết: “khi tư duy mạch lạc, phát biểu sẽ rõ ràng”. Cuối cùng, và hết sức quan trọng, là nâng cao năng lực nắm bắt thực tiễn cuộc sống[76]. Vốn sống còn là yếu tố khác tạo nên năng lực và bản lĩnh của mỗi người. Học ở “trường đời” góp vốn sống càng phong phú thì đóng góp của ĐBQH cho đất nước càng nhiều, thiết thực và hiệu quả.

KẾT LUẬN: NĂNG LỰC ĐI KÈM DŨNG KHÍ VÀ TÂM THANH

Liên quan đến năng lực quyết định của ĐBQH, người dân mong họ đừng xuề xoà, mà hãy “khó tính” hơn trong làm luật và giám sát. Một doanh nghiệp nếu xuề xoà với nhau và với nhân viên thì có thể để lại hậu quả ở những sản phẩm lỗi như giày dép, quần áo, tivi… Nhưng nếu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội mà xuề xoà, dễ dãi thì sẽ cho ra những đạo luật không dùng được, chấp thuận những dự án lãng phí tiền bạc ngân sách quốc gia, bỏ qua những sai phạm của các bộ ngành. “Những sản phẩm lỗi” của Quốc hội hoặc do Quốc hội bỏ qua sẽ gây hậu quả nặng nề cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia, chứ không chỉ cho một ai riêng lẻ. Người dân mong sẽ không còn sự chặc lưỡi bấm nút biểu quyết đồng ý, dẫu biết rằng khi làm như vậy đại biểu cũng không yên lòng.

Muốn quyết được như vậy, ĐBQH có thể dựa vào năng lực thể chế như quy trình, thông tin, các quy định về quyền của ĐBQH, vào việc nâng cao năng lực cá nhân khi ra quyết định. Mặt khác, bản thân đại biểu Quốc hội chính là chỗ dựa của mình. Thứ nhất là trí dũng: Một khi đã nhận vào mình gánh nặng quyền lực mà nhân dân đã trao, công việc duy nhất đúng của đại biểu là “lắc đầu” trước những chuyện đi ngược lợi ích của dân, “gật đầu” với những chuyện có lợi cho dân. Nhân dân chưa bao giờ thích những đại biểu “hiền” quá. Những người chủ quyền lực muốn những người đại diện cho mình dám quyết, đủ dũng khí và trí lực để quyết. Thứ hai là tâm thanh. Bởi lẽ, nếu giữ được cho tâm mình thanh thì không bị vướng mắc, làm đại biểu sẽ dễ. Nhưng muốn tâm thanh, phải tuân theo những quy tắc đạo đức nghề nghiệp của một dân biểu. Mặc dù QH nước ta chưa có Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho ĐBQH, mỗi ĐBQH có thể tự đặt ra cho mình một bộ quy tắc như thế. Trong đó, có lẽ quan trọng nhất là hai phẩm chất: trung thực với cử tri và tránh xung đột lợi ích. Dù phát biểu gì, làm gì, ĐBQH sau đó có thể tự hào rằng mình đã không lừa dối cử tri, rằng mình đã làm đúng những gì mình cho là tốt nhất cho cử tri, cho lợi ích chung. Với tâm niệm như vậy, ngay cả khi chất vấn, tranh luận gay gắt thì cũng sẽ nhận được sự thông hiểu. Tiếp đó, dù làm gì, phát biểu gì cũng là vì hướng đến lợi ích chung của quốc gia và lợi ích của cử tri, chứ không phải vì lợi ích riêng tư. Chỉ cần có biểu hiện bề ngoài về xung đột lợi ích thì trong mắt cử tri, uy tín chính trị của ĐBQH đã có thể suy giảm đáng kể.

Nhân vật trong một tiểu phẩm truyền hình có nói: “sống trên đời này phải biết mình là ai chứ”. Ngược lại với ý tứ của câu nói này, đại biểu Quốc hội biết rằng, dù mình đứng ở vị trí khó khăn, nhưng có vị thế quan trọng, với những hậu thuẫn vững vàng, hùng hậu để bấm nút quyết định. Đại biểu Quốc hội biết mình là ai- là người đại biểu nhân dân, người quyết định cuối cùng những chuyện trọng đại nhất của đất nước.


Chú thích:

[1] Dương Trung Quốc, “Cái bấm nút”, có tại blog: http://360.yahoo.com/quocxuanay

[2] UNDP, “UNDP Capacity Assessment Practice Note”, 2006, tr.5.

[3] Nguyễn Sĩ Dũng, “Năng lực thể chế”, Tuổi Trẻ, 25/11/2006.

[4] UNDP, xem chú thích số 2.

[5] Xem chẳng hạn như: James E. Fleming, “Securing Deliberative Democracy”, Fordham Law Review, Vol. 73, 2003-2004; John Ur, “Parliament and Public Deliberation: Evaluating the Performance of Parliament”, UNSW Law Review, Vol. 24(3), 2001.

[6] Tương Lai, “Để quyền được trao mà không bị mất”, Người ĐBND, số 24/7/2007.

[7] Nguyễn Lân Dũng, “ĐBQH-Suy nghĩ từ môt nhiệm kỳ”, Hiến kế Lập pháp, số 22, 4/2007, tr.20.

[8] Mạc Dân,Đại biểu mới trước những yêu cầu cũ của cử tri”, Người ĐBND, 21/07/2007.

[9] Nguyễn Văn An, “Thực hành dân chủ trong hoạt động của Quốc hội”, Hiến kế Lập pháp, số 22, 4/2007.

[10] Như chú thích 9.

[11] Gustave Le Bon, Tâm lý học đám đông, Nguyễn Xuân Khánh dịch, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2006.

[12] Gustave Le Bon, xem chú thích số 11, tr.38.

[13] Gustave Le Bon, xem chú thích số 11, tr.42.

[14] Gustave Le Bon, xem chú thích số 11, tr.274.

[15] Chúng tôi dùng khái niệm “môi trường” thay cho “đám đông” vì e ngại từ “đám đông” có thể gây liên tưởng không hay trong suy nghĩ của người đọc ở Việt Nam.

[16] Dương Trung Quốc, xem chú thích số 1.

[17] Diệp Văn Sơn, “Lời vàng ngọc”, Tuổi Trẻ, 13/11/2003.

[18] Dương Trung Quốc, xem chú thích số 1.

[19] Kiểm toán nhà nước, “Báo cáo công khai báo cáo kiểm toán năm 2005 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của kiểm toán Nhà nước”, 8/2006; Trần Ngọc Thơ, “Giải mã báo cáo kiểm toán nhà nước”, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 27/8/2006.

[20] Trần Hữu Huỳnh, “Bấm nút-Dễ hay khó?”, Nghiên cứu Lập pháp, 1/2005.

[21] Trần Hữu Huỳnh, “Bấm nút-Dễ hay khó?”, Nghiên cứu Lập pháp, 1/2005.

[22] Tương Lai, xem chú thích số 6.

[23] Biên bản thảo luận tại Hội trường ngày  30/10/2003.

[24] Báo cáo kết quả thăm dò dư luận xã hội về tổ chức và hoạt động của Quốc hội và một số vấn đề liên quan đến Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Tài liệu tham khảo lưu Văn phòng Quốc hội.

[25] Trần Ngọc Vừng, “Đổi mới- từ những việc cụ thể”, Nghiên cứu Lập pháp, số 8-2002.

[26] Như chú thích số 25.

[27] Vietnamnet, “Dự luật Đầu tư vẫn được thông qua?”, http://www.vnn.vn/chinhtri/2005/11/508017/ .

[28] Phiên họp tổng kết nhiệm kỳ QH Khoá X, ngày  20/3/2002.

[29] Carlyle A. Thayer, “Political Outlook for Vietnam, 2005-2006”; paper presented at Vietnam Regional Forum 2005, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1/2005; Martin Gainsborough, “Rethinking Vietnamese Politics:  Will the Real State Please Stand up?”, paper presented at the Vietnam Update 2005 at the Australia National University, Canberra, 8/2005.

[30] Nguyễn Như Du, “Đồng chí Nguyễn Văn Linh với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 9,2002.

[31] Nguyễn Như Du, “Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 11, 2002.

[32] Nguyễn Lân Dũng, biên bản phiên họp thảo luận về tình hình công tác nhiệm kỳ QH khoá XI, ngày 23/03/2007.

[33] ĐBQH Vũ Hoàng Hà, trả lời phỏng vấn báo Người ĐBND ngày 28/7/2007.

[34] Nguyên Lâm, “Tại sao lại ngại?”, Tuổi Trẻ, 22/4/2003.

[35] ĐBQH Đỗ Trọng Ngoạn, trả lời phỏng vấn báo NĐBND.

[36] Biên bản thảo luận tổng kết nhiệm kỳ QH khoá X, ngày 20/03/2002.

[37] Phiên thảo luận của Quốc hội về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005, sáng 9/11/2004.

[38] Hồng Phúc, “Làm mới” Quốc hội, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 25/5/2006.

[39] Báo Khoa học và Đời sống, “Quốc hội-một quá trình nhận thức mới”, phỏng vấn TS Nguyễn Sĩ Dũng, số Xuân Bính Tuất 2006. Có thể xem tại: http://www.na.gov.vn/60namqhvn/cacbaiviet/QH%20qua%20trinh%20nhan%20thuc%20moi.htm

[40] Khánh Linh, “Trăn trở và hy vọng”, Nghiên cứu Lập pháp, 6/2002.

[41] Biên bản phiên họp thảo luận tổng kết nhiệm kỳ QH khoá X, ngày 20/03/2002.

[42] Biên bản phiên họp thảo luận tổng kết nhiệm kỳ QH khoá X, ngày 20/03/2002.

[43] Tương Lai, xem chú thích số 6.

[44] Hồng Phúc, xem chú thích số 38.

[45] Nguyễn Sĩ Dũng, “Tản mạn về các tỷ lệ”, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số ra ngày 10/6/2007.

[46] Võ Văn Kiệt, “Ba thách thức của Quốc hội”, tham luận trong Hội thảo “QH VN 60 năm hình thành và phát triển”, do Văn phòng Quốc hội tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 27/12/2005. Có thể xem ở: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=117447&ChannelID=3

[47] Nguyễn Văn An, xem chú thích 9.

[48] Biên bản phiên họp thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ XI của QH và CP, 21/3/2007.

[49] Tuổi Trẻ Online, “Vì Quốc hội là của dân…”, đối thoại trực tuyến giữa người dân với Phó Chủ tịch QH khoá XI Nguyễn Văn Yểu, Hà Nội, ngày 30/4/2007.

[50] Phỏng vấn ĐBQH Nguyễn Ngọc Trân, báo Người ĐBND, số Tết Đinh Hợi tháng 1/2007.

[51] Nguyễn Ngọc Điện, “Đại biểu dân cử cần có nhóm cử tri riêng”, Tia Sáng số 12, 6/2007.

[52] Biên bản phiên họp của QH khoá XI ngày 21/3/2007.

[53] Độc giả AnhDao, 29 tuổi, huonggiangjc@yahoo.com.vn, Tuổi Trẻ Online, “Vì Quốc hội là của dân…”, đối thoại trực tuyến giữa người dân với Phó Chủ tịch QH khoá XI Nguyễn Văn Yểu, ngày 30/4/2007.

[54] Tùng Anh, Blog của ông nghị “Quốc Xưa Nay”: Trình làng!!!, http://www.lanhdao.net, 17/7/2007.

[55] Nguyễn Như Du, xem chú thích số 29, 30.

[56] Vietnamnet ngày 20/4/2006, “Đảng đổi mới lãnh đạo bằng dân chủ và pháp quyền”, http://vietnamnet.vn/

[57] Tuổi Trẻ ngày 26/4/2006, “Tổng bí thư Nông Đức Mạnh: Đẩy lùi, chặn đứng tham nhũng, tiêu cực” http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=134681&ChannelID=3

[58] Nguyễn Văn An, xem chú thích số 9.

[59] Biên bản phiên họp ngày 23/7/2002.

[60] Phó chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên: Không để khoảng trống trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của QH và UBTVQH, trả lời phỏng vấn báo Người ĐBND, ngày 25/07/2007.

[61] Một số ĐBQH khóa XI cho biết khoảng 1-2 năm đầu làm ĐB họ không biết đến quyền này, do đó bị “thiệt thòi” về thông tin.

[62] VPQH, “Thường thức về hoạt động giám sát của QH”, 2004, tr.

[63] Vĩnh Thịnh, Đại biểu Quốc hội đầu tiên lập… blog, http://www.lanhdao.net, 29/5/2007.

[64] Ý của một ĐBQH khoá XII, trả lời phỏng vấn Vietnamnet, 18/7/2007.

[65] Trong một cuộc thăm dò trên mạng, chỉ có 1/84.000 người tham gia cho rằng phương án dựa vào Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng là biện pháp phòng chống tham nhũng hữu hiệu nhất. Đây có thể là một cơ sở để ĐBQH quyết định khi thảo luận về vấn đề chống tham nhũng.

[66] ĐBQH khoá XI Nguyễn Ngọc Trân, xem chú thích số 50.

[67] ĐBQH khoá XI Nguyễn Ngọc Trân, xem chú thích số 50.

[68] Hồ chí Minh toàn tập, Tập 10, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, tr.129.

[69] Bùi Văn, “Thảo luận luật thuế thu nhập cá nhân: cơ hội để dân hiểu Chính phủ hơn”, Vietnamnet.

[70] Điều thú vị là ở QH Mỹ, có một câu nói nửa đùa nửa thật khuyên các nghị sỹ biểu quyết mỗi khi do dự là: “hãy bỏ phiếu thuận khi biểu quyết chuẩn chi, hãy bỏ phiếu chống khi biểu quyết thu thuế” (Edward V. Schneier & Bertram Gross, Congress Today, 1993, tr. 432).

[71] Bùi Văn, xem chú thích số 69.

[72] Nguyễn Trung, “Cái gì khó, chưa biết thì Quốc hội phải học”, Người ĐBND, 27/05/2007.

[73] Nguyên Lâm, “Học làm đại biểu”, Người ĐBND, ngày 28/5/2007.

[74] Đại biểu Quốc hội đầu tiên lập… blog, http://www.lanhdao.net, 29/5/2007.

[75] Congress Experiences.

[76] Thanh Tâm, “Một giờ với ĐBQH Nguyễn Ngọc Trân”, Người Đại biểu Nhân dân, 05/02/2007.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP 3 SỐ ĐẦU NĂM 2009

Trích dẫn từ:

http://echxanh1968.wordpress.com/2009/09/29/quy%e1%bb%81n-quy%e1%ba%bft-d%e1%bb%8bnh-va-nang-l%e1%bb%b1c-quy%e1%ba%bft-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-d%e1%ba%a1i-bi%e1%bb%83u-qu%e1%bb%91c-h%e1%bb%99i/

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: