TỪ LUẬT ĐẾN THỰC TẾ

NGUYỄN VẠN PHÚ

Kỳ họp Quốc hội lần này đang thảo luận và sẽ thông qua khá nhiều sắc luật. Nhưng thảo luận cặn kẽ để lường trước mọi tác dụng của luật là một chuyện; còn luật sẽ đi vào cuộc sống như thế nào là một chuyện khác.

Đã có khá nhiều góp ý cho dự thảo “Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản” từ các nhà báo và nhà quản lý. Tuy nhiên có một đối tượng bất ngờ nằm trong phạm vi điều chỉnh của nghị định này là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hành vi bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng, theo dự thảo Nghị định, cũng bất ngờ không kém: Phát hành thông cáo báo chí mà không có giấy phép.

Bất ngờ là bởi hỏi thăm một vòng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và nhất là các công ty chuyên lo chuyện quan hệ đối ngoại cho các doanh nghiệp này, họ đều trả lời trước nay khi soạn, gửi các thông cáo báo chí họ đều không nghĩ phải xin phép. Tất cả đều ngạc nhiên, hỏi lại là xin phép ở đâu, thủ tục như thế nào, thời hạn ra sao…

Hàng ngày có cả chục đến cả trăm thông cáo báo chí được phát ra, trong đó nhiều nhất vẫn là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Từ chuyện thay đổi nhân sự, giới thiệu sản phẩm mới đến chuyện công bố kết quả khuyến mãi, giảm giá hay những vấn đề cấp bách hơn như giải thích một sự cố sản phẩm đang được dư luận quan tâm… Không lẽ tất cả những thông cáo báo chí này đều phải xin phép?

Nguyên văn dự thảo nghị định ghi rõ chuyện phát hành thông cáo báo chí không có giấy phép bị phạt tiền là dành cho “cơ quan, tổ chức nước ngoài, pháp nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam”.

Điều đó có nghĩa ngay cả những tổ chức như Ngân hàng Thế giới – WB, Quỹ Tiền tệ quốc tế – IMF, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc – UNDP… mỗi khi muốn công bố đều gì đó cho báo chí qua hình thức thông cáo đều phải xin phép nếu không muốn bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng.

Thật ra, quy định phát hành thông cáo báo chí đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài phải xin giấy phép nằm ở “Quy chế xuất bản bản tin, tài liệu, tờ rơi; phát hành thông cáo báo chí; đăng, phát bản tin trên màn hình điện tử của các cơ quan, tổ chức nước ngoài, pháp nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” do Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành vào tháng 11-2002. Quy chế này nói rõ hồ sơ xin phép phát hành thông cáo báo chí nộp ở Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Thông tin – Truyền thông), phải nộp hồ sơ “ít nhất trước 48 tiếng đồng hồ so với thời gian dự định phát hành thông cáo báo chí”…

Điều đáng nói là từ năm 2002 đến nay, bộ là nơi nắm rõ nhất có bao nhiêu hồ sơ gửi đến để xin phát hành thông cáo báo chí, so với thực tế thì con số tuân thủ chiếm chừng bao nhiêu phần trăm. Bộ cũng là nơi hiểu rõ nhất quy chế xin phép này có mang tính thực tiễn không hay chỉ là quy định hình thức bởi thực tế ít ai phát hành một thông cáo báo chí đơn giản một trang giấy mà phải làm hồ sơ xin phép cả.

Thông cáo báo chí là cầu nối cung cấp thông tin từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng – không có lý do gì phải ràng buộc bằng giấy phép. Còn nếu lo ngại nội dung thông cáo báo chí có những vấn đề gì nhạy cảm hay mang tính sai trái như vu khống đối thủ chẳng hạn thì cơ quan báo chí, nơi nhận thông báo, sẽ phải xử lý thông tin như một nguồn tin bình thường.

Quan trọng hơn, kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, chúng ta đã cam kết không phân biệt đối xử giữa công ty trong nước và công ty nước ngoài. Chắc chắn về mặt pháp lý quy chế đòi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải xin phép khi phát hành thông cáo báo chí trong khi doanh nghiệp trong nước thì không đã bị vô hiệu hóa bởi các văn bản triển khai việc gia nhập WTO.

Quy chế nói trên (phần liên quan đến thông cáo báo chí) có mặt trong đời sống doanh nghiệp từ năm 2002 nhưng không thấy triển khai thực thi. Nay dự thảo nghị định nêu lại. Thiết nghĩ việc đầu tiên là nên cập nhật lại quy chế và sau đó đưa nội dung xử phạt nói trên ra khỏi dự thảo nghị định. Làm như thế chính là đem lại sự nghiêm minh cho pháp luật vì không nên để tồn tại một quy định mà không ai thực hiện.

***

Kỳ họp Quốc hội lần này đang thảo luận và sẽ thông qua khá nhiều sắc luật. Nhưng thảo luận cặn kẽ để lường trước mọi tác dụng của luật là một chuyện; còn luật sẽ đi vào cuộc sống như thế nào là một chuyện khác.

Xin minh họa bằng chuyện đóng thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà. Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định một trong những loại thu nhập được miễn thuế là “Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất”.

Như vậy người chỉ có một căn nhà, khi bán nó đi, đương nhiên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Vấn đề nm ở chỗ, khi áp dụng trong thực tế, không một cơ quan nào chịu đứng ra xác nhận cho người dân rằng họ chỉ có một căn nhà duy nhất ở Việt Nam. Cũng không thể trách các cơ quan nhà nước lãng tránh trách nhiệm vì họ không tài nào kiểm tra để có thể an tâm ký một chứng nhận như thế.

Trong tình trạng các quận, huyện được phân cấp cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà như hiện nay, làm sao cán bộ quận, huyện có thể biết cá nhân đó có hay không sở hữu nhà ở quận, huyện khác. Ngay cả tỉnh hay thành phố có một tổ chức đăng bạ địa chính, thu thập thông tin đăng ký sở hữu nhà trên toàn địa bàn tỉnh, thành phố, họ cũng không thể xác nhận cho cá nhân này được vì biết đâu người xin xác nhận có nhà ở tỉnh khác, thành phố khác.

Thật ra, trong một thông tư hướng dẫn, Bộ Tài chính đã quy định khá rõ: “Cá nhân chuyển nhượng tự khai và ghi rõ được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khai có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Mọi trường hợp phát hiện khai không đúng đều là hành vi gian lận thuế, cá nhân chuyển nhượng nếu vi phạm sẽ bị truy thu thuế và bị phạt về hành vi gian lận thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế”.

Nếu Bộ Tài chính ghi thêm một ý trong thông tư này rằng bản tự khai theo yêu cầu không cần phải có xác nhận của bất kỳ cơ quan nhà nước nào thì có lẽ mọi chuyện càng thêm rõ ràng. Trong thực tế vẫn có nhiều chi cục thuế ở nhiều địa phương trên cả nước yêu cầu phải có xác nhận của chính quyền địa phương trên bản tự khai và cam kết này, gây nhiều phiền hà cho người dân như báo chí phản ánh trong thời gian qua. Mặt khác, khi ràng buộc như trong thông tư, Bộ Tài chính chắc cũng chưa có biện pháp nào để kiểm tra nhằm ngăn chặn các trường hợp gian lận thuế.

Như vậy, để luật đi vào cuộc sống, cần có một bộ máy hành chính triển khai áp dụng luật hoạt động ở mức tốt nhất như hình dung của người làm luật khi thông qua. Đó là một bộ máy hành chính được tập huấn kỹ để thống nhất mọi thủ tục trên cả nước; là ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý để tiến đến chỗ tra cứu mọi thông tin cần thiết một cách dễ dàng; là ban hàng thủ tục hành chính càng sát luật càng tốt, không tạo ra thêm những yêu cầu luật không quy định. Có như vậy những luận bàn của đại biểu Quốc hội mới thật sự có ý nghĩa là ý nguyện của người dân thông qua người đại biểu của mình.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/24872/

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: