TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: “QUA ĐƯỜNG” CŨNG LÀ VỢ CHỒNG?

HOÀNG LAM

Do ký tên xác nhận căn nhà là của vợ nên người chồng mất quyền đối với tài sản chung.

Ông T. chung sống với bà K. từ năm 1976, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Theo Nghị quyết số 35 năm 2000 của Quốc hội, quan hệ của họ là hôn nhân thực tế. Năm 2004, họ từng ra tòa ly hôn nhưng sau khi được tòa hòa giải thành thì họ đã quay về đoàn tụ. Ba năm sau, ông T. lại nộp đơn đòi ly hôn vợ.

Xuất hiện bà vợ “qua đường”

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T. hoảng hồn khi hội đồng xét xử xác định ông và bà K. không phải là vợ chồng. Bởi lẽ trước khi sống với bà K., ông đã chung sống và có con với người phụ nữ khác. Ông chưa ly hôn với bà này nên quan hệ giữa ông và bà K. là bất hợp pháp. TAND quận Gò Vấp không công nhận ông T. và bà K. là vợ chồng.

Ông T. phản ứng: “Năm 1972, tôi có cặp bồ và làm một phụ nữ có thai. Đó là chuyện đã qua của thời trai trẻ của tôi. Cô ấy đã chết sau ngày giải phóng, làm sao mà tôi ly hôn được!”.

Phúc thẩm vụ án hồi tháng 3-2008, TAND TP.HCM viện dẫn Thông tư số 690 năm 1960 của TAND tối cao và xác định quan hệ giữa ông T. và bà K. không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Họ là vợ chồng hợp pháp. Vì đời sống chung của họ có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cấp phúc thẩm giải quyết cho họ được ly hôn.

Mất quyền vì bản cam kết

Tài sản lớn nhất hai bên tranh chấp là căn nhà tại quận Gò Vấp. Ông T. bảo đây là tài sản chung vợ chồng tích cóp mãi mới có được, yêu cầu chia đôi. Bà K. lại nhận căn nhà là của riêng mình. Bằng chứng là giấy tờ nhà đất đều do một mình bà đứng tên. Hơn nữa, chính ông T. đã ra Phòng Công chứng số 5 vào cuối năm 2004 để ký giấy cam kết căn nhà là tài sản riêng của bà.

Ông T. khai bà K. đã dùng lời lẽ ngon ngọt để dụ dỗ ông ký cam kết. Trước khi ra phòng công chứng, bà đã cho ông uống một loại thuốc gì đó làm cho người ông bần thần, tinh thần không còn minh mẫn. Ký xong giấy và về nhà, bà ngày càng đối xử tệ bạc với ông nên ông buộc phải ly hôn.

Theo TAND quận Gò Vấp, lý giải việc ký cam kết của ông T. không có cơ sở tin cậy. Ông bảo bà K. cho ông uống thuốc gì đó nhưng lại không chứng minh được. Do đó, yêu cầu chia nửa căn nhà của ông không thể chấp nhận. Tại phiên phúc thẩm, TAND TP.HCM đồng tình với cách giải quyết này. Cấp phúc thẩm phân tích thêm: Ông T. có thể khởi kiện yêu cầu xác định ông ký cam kết do bị lừa dối, bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, ông T. ký cam kết vào cuối tháng 12-2004. Theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự năm 1995, thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là một năm kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Thời hiệu ấy đã hết nên ông T. không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố cam kết mình ký là vô hiệu nữa.

Với lý do mình bị vợ cho uống một loại thuốc gì đó trước khi đi công chứng, ông T. đã gửi đơn khiếu nại để yêu cầu xét lại quyền lợi của ông đối với căn nhà. Tháng 7-2009, TAND tối cao có công văn trả lời giấy cam kết ông T. ký là do sự thỏa thuận và ý chí tự nguyện của ông. Án sơ thẩm và phúc thẩm công nhận căn nhà là tài sản riêng của bà K. là có cơ sở.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=278011

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: