BÁO CÁO TỔNG HỢP CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI VỀ VIỆC THỰC HIỆN LỜI HỨA QUA HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN TỪ KỲ HỌP THỨ 5, QUỐC HỘI KHÓA XII ĐẾN NAY

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,

Để chuẩn bị cho phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, theo chỉ đạo của Lãnh đạo Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã gửi công văn đề nghị các Bộ trưởng trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5 và tại phiên họp thứ 22 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho biết về việc tiếp thu thực hiện lời hứa của mình và đến nay đã nhận được văn bản trả lời của 08 vị Bộ trưởng. Sau đây là tổng hợp tình hình thực hiện các lời hứa qua hoạt động chất vấn:

1- Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã trả lời chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội về một số nhóm vấn đề sau: các biện pháp hỗ trợ nông dân gặp khó khăn trong sản xuất; việc sử dụng gói kích cầu trong nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là hệ thống các công trình thủy lợi; về chế biến nông sản thực phẩm; việc phát triển chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh vật nuôi và cây trồng.

Báo cáo trước Quốc hội, Bộ trưởng đã hứa phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện việc quản lý thị trường vật tư nông nghiệp một cách mạnh mẽ hơn; thực hiện công tác quy hoạch, tiến hành tuyên truyền và hướng dẫn nông dân về mục đích, quy trình sản xuất sạch; tăng cường kiểm soát chất lượng vật tư, con giống; tăng cường công tác kiểm tra việc thực thi pháp luật về quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm; trình Chính phủ phê duyệt cơ chế chính sách hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ; chỉ đạo rà soát lại quy hoạch thuỷ lợi đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, xây dựng lại đề án phân ranh giới mặn ngọt và trong năm 2009 sẽ khởi công xây dựng một số công trình trong hệ thống này. Theo công văn số 3643/BNN-VP ngày 9-11-2009, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã báo cáo về việc thực hiện các vấn đề trên như sau:

Về quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm nông, lâm, thuỷ sản

  • Đã xác định lấy năm 2009 là năm “ Tăng cường quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm”; ban hành nhiều Thông tư, Chỉ thị để làm khung pháp lý cho công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra và xử lý triệt để các vi phạm về chất lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và giống cây trồng; đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón để làm cơ sở pháp lý xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này. Bộ cũng đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 61/2008/TTLB-BNN-BNV ngày 15/5/2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn ở địa phương, trong đó có việc tăng cường hệ thống dịch vụ kỹ thuật và vật tư đảm bảo chất lượng.
  • Đã chỉ đạo rà soát, chuyển đổi và xây dựng mới các tiêu chuẩn ngành thành các quy chuẩn kỹ thuật. Các Cục chuyên ngành thuộc Bộ đã hoàn thành chuyển đổi 22 tiêu chuẩn ngành về phương pháp thử liên quan đến an toàn thực phẩm trong sản phẩm thuỷ sản sang tiêu chuẩn quốc gia, đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung 3 tiêu chuẩn ngành, xây dựng mới 2 tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm thuỷ sản; gửi Bộ Khoa học, Công nghệ thẩm định 4 quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cơ sở chế biến chè, cà phê, điều, rau quả.

  • Các đơn vị thuộc Bộ (Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thuỷ sản, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Trồng trọt, Cục Chăn nuôi, Cục Nuôi trồng thủy sản) đã phối hợp với cơ quan chức năng địa phương tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, thanh tra đột xuất việc chấp hành các quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV, phân bón, giống cây trồng, thức ăn, chế phẩm sinh học, sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản; lấy mẫu kiểm tra và xử lý theo quy định những trường hợp vi phạm. Năm 2009 tập trung kiểm tra các cơ sở giết mổ và cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV.

Bộ đã phân công 4 Thứ trưởng triển khai tại địa phương theo vùng (Đồng bằng Sông Hồng, Trung du phía Bắc; Bắc Trung Bộ; Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ; Đồng bằng Sông Cửu Long), đi kiểm tra tình hình triển khai công tác về an toàn vệ sinh thực phẩm nông lâm thủy sản tại các địa phương trọng điểm như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Cần Thơ, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu.

  • Đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng vùng sản xuất an toàn, xây dựng và phổ biến các quy trình sản xuất tốt (GAP), đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.  

Về phát triển thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long:

Đang chỉ đạo rà soát quy hoạch tổng thể thuỷ lợi đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hiện đã giao cho Viện Quy hoạch thuỷ lợi Miền Nam thực hiện (bắt đầu từ tháng 9/2009 và kết thúc vào tháng 6/2011) với một số mục tiêu, nhiệm vụ chính như sau:

  • Đề xuất giải pháp phát triển thủy lợi theo định hướng hiện đại hoá nhằm từng bước ổn định và phát triển sản xuất, đảm bảo an toàn cho nhân dân, nâng cao mức đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, tiêu thoát nước, góp phần phát triển kinh tế-xã hội bền vững, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sử dụng nước của các nước thượng lưu, đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho dân cư đô thị và nông thôn, nhu cầu nước cho công nghiệp, tiêu nước cho đô thị và các vùng dân cư tập trung; nhu cầu tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu; cấp nước, tiêu nước các vùng, cây ăn quả, thủy sản tập trung, nghề muối, chăn nuôi, phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng tăng cường khả năng cạnh tranh và nhu cầu nước cho phát triển du lịch dịch vụ.
  • Đề xuất các giải pháp tổng thể về thuỷ lợi đảm bảo ổn định và phát triển sản xuất; nghiên cứu xây dựng các công trình trên cửa sông để đảm bảo ngăn mặn, tiêu thoát nước cho vùng ven biển, các công trình chống úng ngập cho các thành phố lớn như TP.HCM, Cần Thơ…

  • Về dự án phân ranh mặn ngọt ở Bán đảo Cà Mau:

    Quốc hội đã cho phép sử dụng vốn trái phiếu chính phủ, Bộ đã phê duyệt báo cáo đầu tư với tổng số vốn 664 tỷ đồng bao gồm xây dựng 63 cống đập di động và bổ sung 24 cống ven Quốc lộ 1 phục vụ phân ranh mặn ngọt của tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu, thực hiện từ năm 2009 đến năm 2012.

    Hiện nay, Ban Quản lý đầu tư xây dựng 10 thuộc Bộ đã bàn giao tim mốc đền bù 63 cống thuộc địa bàn huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng và huyện Giá Rai, Phước Long, Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu cho địa phương triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng từ tháng 7/2009. Từ nay đến cuối năm, triển khai công tác đấu thầu xây lắp và ký kết hợp đồng thi công xây dựng 9 cống thuộc huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng và 11 cống thuộc huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu (đây là những công trình cấp bách, cần thực hiện ngay). Các hạng mục công trình còn lại hoàn thành công tác đấu thầu xây lắp và triển khai thi công bắt đầu vào cuối năm 2010.

    Về hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ:

    Đã xây dựng và trình Chính phủ chính sách khuyến khích khai thác hải sản xa bờ với một số nội dung chính như sau:

    • Ưu tiên xây dựng các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá trên các đảo xa bờ phục vụ khai thác hải sản, gồm: Xây dựng cảng cá kết hợp các khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần nghề cá; hệ thống phong điện; nhà máy sản xuất nước ngọt; kho dự trữ dầu; hệ thống kho lạnh đa năng; cơ sở sửa chữa tàu cá; nhà nghỉ và tránh trú bão cho ngư dân; cơ sở hậu cần dịch vụ phục vụ cho nuôi trồng hải sản trên các đảo;
  • Cho vay vốn ưu đãi đóng mới, mua mới tàu cá;

  • Hỗ trợ: nhiên liệu cho chủ tàu; vay vốn để đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào khai thác hải sản; đầu tư lắp đặt, hoàn thiện trang thiết bị thông tin hàng hải trên tàu cá xa bờ; kinh phí mua bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn thuyền viên, đào tạo, nâng cấp bằng thuyền trưởng, máy trưởng; kinh phí vận tải cho các tàu dịch vụ khai thác hải sản trên vùng biển xa bờ…

  • Ngày 20/10/2009, Bộ đã có Công văn số 3392/BNN-KTBVNL gửi Bộ Tư pháp xin ý kiến thẩm định bản thảo hoàn chỉnh trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách nói trên.

    2- Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư

    Tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XII, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về các nhóm vấn đề sau: hiệu quả của gói kích thích kinh tế, vấn đề di dân tái định cư, vấn đề quy hoạch, cấp phép sân golf, vấn đề tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, vấn đề về cải thiện tốc độ, kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… Tại phiên họp, Bộ trưởng đã hứa trước Quốc hội về việc tiếp tục rà soát, quy hoạch, cắt giảm sân golf và khẩn trương xây dựng Đề án tái cấu trúc nền kinh tế.

    Theo công văn số 8662/BKH-TH ngày 9-11-2009, Bộ kế hoạch và đầu tư đã báo cáo kết quả thực hiện hai vấn đề trên như sau:

    – Vấn đề rà soát, quy hoạch, cắt giảm sân golf: Đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định phê duyệt quy hoạch sân golf ở Việt Nam đến năm 2020 kèm theo Tờ trình số 7936/TTr-BKH ngày 16 tháng 10 năm 2009 về quy hoạch phát triển hệ thống sân golf Việt Nam đến năm 2020 trong đó có đưa ra tiêu chí, điều kiện hình thành để làm căn cứ cho các địa phương cấp phép xây dựng sân golf.

    Đến cuối năm 2008, trên địa bàn cả nước dự kiến quy hoạch 166 sân golf theo tổng hợp từ báo cáo của các địa phương có dự án quy hoạch sân golf. Sau khi rà soát các dự án sân golf, tại Tờ trình số 3917/TTr-BKH ngày 02/6/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống sân golf ở Việt Nam đến năm 2020 thì số lượng sân golf đưa vào quy hoạch là 116 sân, giảm 50 sân so với báo cáo từ các địa phương.

    Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo tại Nghị quyết số 44: “…Phát triển sân golf không được lấy đất trồng lúa, đất màu, đất quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị… không được hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phải đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường”. Thực hiện Nghị quyết này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành bổ sung tiêu chí, điều kiện hình thành, rà soát kỹ lại địa điểm và kiên quyết thực hiện theo đúng Nghị quyết của Chính phủ và chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ đồng thời đã làm việc với một số địa phương có dự án sân golf.

    Căn cứ kết quả rà soát đó, tại tờ trình số 7936/TTr-BKH ngày 16 tháng 10 năm 2009, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định phê duyệt quy hoạch hệ thống sân golf đến năm 2020, số sân golf đã giảm từ 116 sân xuống còn 89 sân golf, trong đó có 19 sân golf đã đi vào hoạt động. Như vậy, số lượng sân golf đưa vào quy hoạch đã giảm 77 sân golf, diện tích giảm hơn 9.000 ha so với 166 sân golf được tổng hợp từ báo cáo của các địa phương có dự án quy hoạch sân golf. Địa phương giảm nhiều nhất là Hà Nội và Bình Thuận, mỗi địa phương giảm 11 sân, Bà Rịa – Vũng Tàu giảm 8 sân,…

    • Vấn đề về tái cấu trúc nền kinh tế: Bộ đang nghiên cứu, soạn thảo Đề án “Đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn đến năm 2020”. Đây là vấn đề lớn và rất quan trọng, nên cần có thời gian để nghiên cứu, chuẩn bị, trao đổi với các cấp, các ngành, các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp,… Dự kiến sẽ trình Đề án lên Chính phủ xem xét vào cuối năm 2009. Sau khi Đề án được Chính phủ thông qua sẽ chính thức báo cáo Quốc hội. Theo yêu cầu của Quốc hội, được phép của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có báo cáo sơ bộ gửi Đại biểu Quốc hội xem xét, cho ý kiến về vấn đề này.

    3- Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường

    Tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XII, Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về hai nhóm vấn đề, đó là: về việc sửa đổi Luật đất đai và tình hình quản lý đất đai; về xử lý tình trạng gây ô nhiễm môi trường. Bộ trưởng đã báo cáo Quốc hội về việc cuối năm 2009 sẽ phải hoàn thành việc kiểm tra toàn bộ diện tích đất giao cho các tổ chức và sẽ có đề xuất, kiến nghị về việc thu hồi đất sử dụng không hiệu quả; về việc sẽ tiến hành kiểm tra dự án sân golf có ảnh hưởng đến 2 trại giống ở Hà Tây để cố gắng giữ lại được 2 trại nghiên cứu giống này và việc cuối năm 2009 sẽ khắc phục được tình trạng ô nhiễm phần còn lại trên sông Thị Vải do công ty Vedan gây ra.

    Theo Báo cáo số 198/BC-BTNMT ngày 4-11-2009 về kết quả thực hiện trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Bộ tài nguyên môi trường đã báo cáo về các vấn đề trên như sau:

    Về kết quả kiểm tra việc sử dụng đất của các tổ chức được giao đất, thuê đất

    Việc kiểm tra tình hình sử dụng đất của các tổ chức được giao đất, cho thuê đất nhằm xác định rõ diện tích đất mà các tổ chức đang quản lý, sử dụng; diện tích lấn chiếm, diện tích bị lấn chiếm; diện tích sử dụng sai mục đích; diện tích đất chuyển nhượng, cho thuê trái phép; diện tích đất chưa đưa vào sử dụng làm cơ sở để đánh giá đúng thực trạng tình hình và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đối với quỹ đất đã giao cho các tổ chức sử dụng. Kết quả kiểm tra về hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức như sau:

    Tổng diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng trên toàn quốc là 7.833.142,70 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp 6.687.695,59 ha (chiếm 85,38%), sử dụng mục đích phi nông nghiệp 845.727,62 ha (chiếm 10,80%), diện tích đất chưa sử dụng 299.719,49 ha (chiếm 3,83%), đất mặt nước ven biển được giao, cho thuê là 0,23%, trong đó:

    • Đất nông nghiệp: Diện tích 6.687.695,59 ha, trong đó hầu hết các loại hình tổ chức đều có diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trừ các tổ chức ngoại giao), loại hình tổ chức sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu là: Các nông, lâm trường (chiếm 86,62% tổng diện tích đất nông nghiệp), tổ chức sự nghiệp công (chiếm 5,12%), tổ chức kinh tế (chiếm 4,13%), Ủy ban nhân dân cấp xã (chiếm 3,12% – chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp phần lớn đây là diện tích đất công ích, đất sản xuất nông nghiệp khó giao…)
  • Đất phi nông nghiệp: Tổng số diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức đang quản lý, sử dụng là 845.727,62 ha, các loại hình tổ chức đều có diện tích đất phi nông nghiệp, tập trung nhiều nhất là các tổ chức sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh (34,92%), tổ chức kinh tế (24,79%), nông, lâm trường (18,13%), Ủy ban nhân dân cấp xã (13,79%), tổ chức sự nghiệp công (6,62%)…

  • Đất chưa sử dụng: Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức có 299.719,49 ha, chiếm 3,83% diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng, phần lớn là diện tích đất đã giao nhưng chưa đưa vào sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng hiện còn để hoang hoá. Diện tích đất chưa sử dụng tập trung chủ yếu ở nông, lâm trường (51,36%), tổ chức sự nghiệp công (40,15%), các tổ chức kinh tế (6,88%), Ủy ban nhân dân cấp xã (0,87%).

  • Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức: Cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26%. Nhìn chung, các loại hình tổ chức sử dụng đất đúng mục đích, đạt hiệu quả trong sử dụng, tỷ lệ sử dụng đúng mục đích trên tổng diện tích theo hình thức sử dụng của toàn quốc đạt trên 90%.

  • Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tính đến thời điểm ngày 01 tháng 4 năm 2008, cả nước đã có 52.004 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt 35,99% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 83.299 giấy và diện tích đã cấp là 3.100.040,38 ha, đạt 39,58% diện tích cần cấp giấy.

  • Kết quả kiểm kê quỹ đất đã phát hiện việc các tổ chức, đơn vị quản lý và sử dụng đất chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra hiện tượng như sử dụng không đúng diện tích, không đúng mục đích, không sử dụng, để bị lấn chiếm, cho mượn, cho thuê trái phép, chuyển nhượng trái pháp luật và đặc biệt qua kiểm kê đã phát hiện nhiều diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức, đặc biệt là khối cơ quan nhà nước; từ đó làm cơ sở để các cấp, các ngành đánh giá đúng thực trạng tình hình và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đối với quỹ đất đã giao cho các tổ chức quản lý, sử dụng.

    Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Tờ trình số 13/TTr-BTNMT ngày 14 tháng 10 năm 2009 về kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất (trình kèm theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất). Sau khi Thủ tướng Chính phủ có ý kiến và ban hành Chỉ thị, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ ngành để thực hiện và đôn đốc, chỉ đạo các địa phương nghiêm túc thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

    Về việc khắc phục hậu quả vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Công ty VEDAN

    Bộ đã cập nhật tình hình khắc phục hậu quả vi phạm pháp luật của Công ty Vedan cũng như các vấn đề có liên quan như sau:

    • Công ty Vedan đã hoàn thành nộp tiền phạt vi phạm hành chính là 267.500.000 đồng (hai trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), đã nộp tổng cộng trên 93 tỷ đồng trong tổng số 127.268.067.520 đồng (một trăm hai mươi bảy tỷ, hai trăm sáu mươi tám triệu, sáu mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi đồng) tiền phí bảo vệ môi trường trốn nộp; đồng thời đang làm thủ tục để nộp nốt số tiền còn lại (dự kiến Quý IV/2009 sẽ hoàn thành).
  • Công ty đã cải tạo, nâng cấp 03 hệ thống xử lý nước thải hiện tại (công suất mỗi hệ thống tương ứng là 1.500m3/ngày đêm, 1.800m3/ngày đêm và 1.000m3/ngày đêm); đồng thời, tiếp tục đầu tư hệ thống xử lý độ màu cao cấp, đảm bảo toàn bộ nước phát sinh từ hoạt động của các nhà máy đều được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra môi trường.

  • Công ty đã hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục đối với nước thải trước khi thải ra môi trường (các thông số pH, nhiệt độ, TSS, COD, lưu lượng, độ màu); đầu tư xây dựng mới 02 hệ thống xử lý nước thải với công suất mỗi hệ thống là 2.500m3/ngày đêm, dự kiến cuối tháng 11/2009 sẽ hoàn thành và đưa vào vận hành chính thức; lắp đặt bổ sung 04 dây chuyền cô đặc dung dịch thải sau lên men (loại dung dịch này trước đó đã được thải ra sông Thị Vải) để sản xuất phân bón dạng hạt, dự kiến cuối tháng 12/2009 sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hiện tại, Công ty đang tiến hành rà soát toàn bộ quy trình quản lý công tác bảo vệ môi trường của Công ty, tiến tới xây dựng, áp dụng quy trình quản lý theo tiêu chuẩn ISO 14000.

  • Về chất lượng nước sông Thị Vải, trong thời gian vừa qua, Bộ đã tăng cường các hoạt động quan trắc môi trường, theo dõi sát diễn biến chất lượng nước sông này. Kết quả cho thấy, hiện nay, chất lượng nước sông Thị Vải đã dần dần được cải thiện. Kết quả quan trắc nhanh, liên tục các thông số: ôxy hòa tan (DO), nhiệt độ, độ muối, thế ôxy hóa khử và độ đục dọc theo sông Thị Vải trong ngày 20 tháng 3 năm 2009 vào các thời điểm triều cường và triều kiệt cho thấy chất lượng nước sông đã được cải thiện và phục hồi một cách đáng kể, cụ thể: vùng ô nhiễm nặng (có DO < 1 mg/l) trước đây dài trên 15 km thì nay hầu như không còn; vùng ô nhiễm nhẹ (DO trong khoảng 2 – 3 mg/l) chỉ còn khoảng 5 km; từ cảng Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến vùng cửa sông, nước biển đã có màu xanh bình thường. Kết quả phân tích hàm lượng các thông số ô nhiễm khác và độ đục của nước cũng giảm đáng kể. Kết quả thị sát thực địa vừa qua của đích thân Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường cũng cho thấy cua, cá đã xuất hiện trở lại tại sông Thị Vải.

  • Về các dự án sân golf liên quan đến trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường

    Trong phạm vi trách nhiệm quản lý nhà nước được giao, Bộ đã tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện chính sách pháp luật đất đai trên địa bàn 09 tỉnh, thành phố và tiến hành thanh tra chuyên đề bảo vệ môi trường, đất đai và tài nguyên nước trong hoạt động kinh doanh và khai thác sân golf tại 03 tỉnh. Kết quả kiểm tra cho thấy một số tỉnh trước đây có sân golf, nay là loại bỏ, nhiều tỉnh, thành phố đã giảm số sân golf, đối với sân golf liên quan đến hai trại nuôi giống tại dự án khu du lịch quốc tế Tản Viên, Hà Nội, trước mắt chỉ đầu tư giai đoạn 1. Trong thời gian tới, trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước của mình, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để:

    • Chỉ đạo các địa phương kiểm tra, đình chỉ việc giao đất cho các dự án sân golf chưa triển khai, thu hồi đất đã giao cho các dự án không đúng mục đích, không đúng quy hoạch, chậm sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  • Phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu mối quan hệ giữa các loại hình đầu tư, kinh doanh, dịch vụ có mục tiêu sân golf gắn với phát triển du lịch, dịch vụ và kinh doanh bất động sản để quy định rõ tiêu chí loại đất được phép sử dụng để xây dựng sân golf và điều chỉnh các nguồn thu từ các hoạt động này.

  • Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo hạn chế tối đa việc chuyển đất trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích sân golf; chỉ quy hoạch các dự án sân golf ở các khu vực trung du, miền núi; kiên quyết không cho phép chuyển mục đích sử dụng đất làm sân golf sang xây dựng nhà ở để bán, kinh doanh bất động sản; việc giao đất, cho thuê đất đối với các dự án bất động sản gắn với sân golf cần được kiểm soát, tính toán cẩn thận nhằm điều tiết nguồn thu của nhà nước.

  • 4. Bộ trưởng Bộ Công thương

    Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về 3 nhóm vấn đề, đó là: Việc phát triển thị trường nội địa; về điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, điều hành xuất nhập khẩu; việc quản lý ngành điện và thép. Tại phiên họp, Bộ trưởng đã hứa trước Quốc hội sẽ tổ chức đi kiểm tra, xem xét cụ thể và báo cáo lại với địa phương và đại biểu Quốc hội về việc tái định cư trong dự án công trình thuỷ điện Bản Vẽ; thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra ở Tuyên Quang, Quảng Bình và có giải pháp phù hợp để giải quyết những ảnh hưởng của đường dây 220kv đến đời sống nhân dân; sớm xây dựng và trình Chính phủ ban hành quy định về chế tài xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế trong tiêu thụ sản phẩm cho nông dân theo quy định của Luật Thương mại; sẽ chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thị trường, phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý gian lận thương mại, trong đó có gian lận trong kinh doanh xăng dầu; phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành hữu quan xây dựng hàng rào kỹ thuật, quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật về hàng độc hại.

    Theo công văn số 10622/BCT-KH ngày 23-10-2009 và công văn 11474/BCT-KH ngày 13-11-2009, Bộ Công thương đã báo cáo kết quả thực hiện các vấn đề trên như sau:

    Về vấn đề tái định cư trong dự án công trình thủy điện Bản Vẽ:

    Đánh giá chung về chất lượng xây dựng nhà ở cho đồng bào tái định cư: nhà tái định cư đã được xây dựng theo đúng quy hoạch, qui mô, kết cấu đã được phê duyệt của cấp có thẩm quyền, đa số đáp ứng được nguyện vọng của đồng bào. Tổng hộ dân phải di dời là 2.985 hộ, đến nay (3/11) đã di chuyển được 2520 hộ, đạt 84,4%. Ngoài việc cử đoàn công tác kiểm tra, xem xét tình hình tại các dự án trong tháng 7/2009, Bộ đã dẫn đầu đoàn công tác, trong các ngày từ 3-5/11/2009, trực tiếp khảo sát thực tế và làm việc với lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị về tình hình thực hiện công tác di dân, tái định cư tại dự án Thuỷ điện Bản Vẽ và dự án đường dây tải điện 220Kv Huế- Đồng Hới. Thực tế tại các điểm tái định cư đồng bào bước đầu đã ổn định cuộc sống, nhiều hộ dân đã nhận đất để tổ chức sản xuất, đồng bào phấn khởi, an tâm với nơi ở mới… Những ý kiến mà ĐBQH đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã được Ban QLDA thuỷ điện 2 khắc phục, sửa chữa lại một số nhà mà dân chưa nhận, nay đồng bào đã đến ở, bước đầu đã ổn định đời sống. Việc 80% hộ dân không chịu nhận nhà theo phản ánh là không có. Theo đánh giá qua khảo sát tình hình thực tế thì các hộ dân tái định cư có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ.

    Về công tác khai hoang, cấp đất sản xuất cho đồng bào tái định cư: đối với các khu tái định cư ở huyện Thanh Chương, cuộc sống của đồng bào tái định cư đã bước đầu ổn định, nhiều hộ đã tổ chức sản xuất, tự túc được lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, việc ổn định cuộc sống lâu dài cho đồng bào vẫn đang được tiếp tục thực hiện như: Bố trí đủ đất sản xuất, hướng dẫn người dân thay đổi tập quán sản xuất, hỗ trợ sản xuất, lập hồ sơ cấp đất… Tập đoàn Điện lực Việt Nam cam kết sẽ tiếp tục thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước và Bộ Công Thương về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thuỷ điện Bản Vẽ.

    Về ảnh hưởng của đường dây 220KV đến người dân

    Ngày 10 tháng 7 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3492/QĐ-BCT về việc tổ chức kiểm tra an toàn lưới điện tại các tỉnh Tuyên Quang, Quảng Bình, Quảng Trị và tiến hành kiểm tra thực tế từ ngày 13 tháng 7 năm 2009 đến 05 tháng 8 năm 2009.

    Kết quả kiểm tra cho thấy, nhìn chung, công tác đảm bảo an toàn của các đường dây 110kV, 220kV, 500kV khu vực kiểm tra tại ba tỉnh Tuyên Quang, Quảng Bình, Quảng Trị cơ bản đã được đảm bảo, ngoại trừ một số khoảng cột của đường dây 500kV chưa đảm bảo độ cao pha – đất. Các hộ dân sống trong HLLĐ 110kV, 220kV và gần HLLĐ 500kV mà Đoàn đã kiểm tra theo yêu cầu của ĐBQH và Sở Công Thương tại ba tỉnh Tuyên Quang, Quảng Bình, Quảng Trị đều đã đảm bảo các quy định về an toàn. Ngoài những phản ánh lo ngại khi sống trong hành lang lưới điện, người dân có ý kiến nhiều về công tác bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân trong quá trình giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng đường dây. Về vấn đề bồi thường, Bộ đã đề nghị Đoàn ĐBQH kiến nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết thuộc thẩm quyền. Như vậy, các vấn đề cử tri nêu tại kỳ họp thứ 5 và các kỳ họp trước đó đã được giải quyết xong. Đồng thời, ngày 12/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp. Nghị định 81 thay thế Nghị định 106 với nhiều quy định kỹ thuật được điều chỉnh, bổ sung và cơ chế mới tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho đời sống của người dân phải di dời toàn bộ hoặc một phần tài sản thuộc phạm vi bảo vệ an toàn lưới điện, các quy định mới cũng tạo điều kiện thuận lợi tháo gỡ các khó khăn trong công tác di dân, giải phóng mặt bằng, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án điện.

    Về việc xây dựng quy định về chế tài xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế trong tiêu thụ sản phẩm cho nông dân

    Bộ đã có cuộc họp trao đổi với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT là đầu mối chủ trì phối hợp với các bộ, ngành trong việc việc sửa đổi, bổ sung một số chế tài xử lý vi phạm hợp đồng trong Quyết định số 77/2002/QĐ-BNN ngày 28/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa. Hiện nay, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT đang tích cực chỉ đạo các đơn vị có liên quan trực thuộc Bộ NN & PTNT tiến hành sửa đổi, bổ sung và gửi các bộ, ngành có liên quan xin ý kiến đóng góp để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Về tăng cường hoạt động của lực lượng quản lý thị trường

    Hiện nay, Bộ đang phối hợp với Bộ Tài chính đánh giá tình hình thực hiện Thông tư 75 và ban hành Thông tư 78/2009/TT-BTC về chế độ hỗ trợ kinh phí cho các lực lượng chức năng chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại; đã hoàn thành Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về thực trạng và nhu cầu bổ sung biên chế, phương tiện chuyên dùng, kinh phí cho các lực lượng chức năng chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. Bên cạnh đó, nhằm nâng cao trách nhiệm của quản lý thị trường và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường, Bộ đã lấy ý kiến các bộ, ngành xây dựng Quy chế trách nhiệm và quan hệ công tác giữa các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này. Ngoài ra, Bộ cũng đang phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Chương trình hành động quốc gia về đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại từ nay đến năm 2020 để trình Chính phủ phê duyệt trong tháng 12 năm 2009.

    Về việc xây dựng hàng rào kỹ thuật những quy định tiêu chuẩn kỹ thuật về hàng độc hại

    Rào cản kỹ thuật, quy định kỹ thuật là vấn đề nhạy cảm, bởi một mặt nó liên quan đến thương mại của các nước thành viên WTO, mặt khác sẽ đặt ra các yêu cầu đối với sản xuất trong nước cũng như các điều kiện để kiểm tra, kiểm soát các loại hàng hoá nhập khẩu. Bộ đã chủ động làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ để xây dựng danh mục hàng hóa nhập khẩu phải tăng cường kiểm tra nhằm bảo đảm chất lượng và an toàn, vệ sinh, sức khoẻ, môi trường, đồng thời xây dựng Danh mục hàng hoá có nguy cơ gây mất an toàn (Danh mục sản phẩm nhóm 2) trong phạm vi quản lý của Bộ. Đến nay, Bộ đã xây dựng xong Dự thảo Danh mục hàng hoá có nguy cơ gây mất an toàn và đang chuẩn bị gửi lấy ý kiến các Bộ, ngành liên quan trước khi ban hành.

    5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

    Tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về ba nhóm vấn đề, đó là về giáo dục mầm non; việc quản lý các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài và vấn đề thi và tổ chức thi. Trong khi trả lời chất vấn trực tiếp của các vị đại biểu Quốc hội Bộ trưởng đã thông báo là Bộ đang chuẩn bị đề án xác định các huyện khó khăn để xây dựng 1 đến 2 trường mầm non đạt chuẩn; hứa sẽ rà soát lại để kiến nghị với Bộ nội vụ về cách xử lý đối với định mức lương và phụ cấp của giáo viên ở địa phương; sẽ tổng kết, đánh giá để rút kinh nghiệm về đề án thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo cụm trường; tham khảo ý kiến xã hội và báo cáo Chính phủ về đề án không tổ chức thi đại học, cao đẳng và thi trắc nghiệm; rà soát, kiểm tra xem xét tính hợp lý và bổ sung những ưu tiên cần thiết về chế độ đối với người khuyết tật trong thi cử; sớm hoàn thành nghị định mới về quản lý các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài. Ngày 16-10-2009, Bộ giáo dục và đào tạo đã có văn bản trả lời về kết quả thực hiện các vấn đề nêu trên, cụ thể là:

    Về giáo dục mầm non: Đã tích cực nghiên cứu, xem xét nội dung các chương trình giáo dục mầm non đã được ban hành, trên cơ sở đó và căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương, các vùng, miền khác nhau, đã xây dựng chương trình giáo dục mầm non mới và ngày 25/7/2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT Ban hành Chương trình Giáo dục mầm non. Chương trình mới này kế thừa những ưu điểm của các chương trình giáo dục mầm non đã ban hành; là chương trình khung, mang tính định hướng và mở, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc xây đựng kế hoạch giáo dục phù hợp với đặc điểm vùng miền. Bộ cũng đã tăng cường công tác quản lý các cơ sở giáo dục mầm non bằng việc thường xuyên tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật và các hoạt động chuyên môn của các cơ sở này; tăng cường quản lý việc chăm sóc dinh dưỡng và đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục mầm non.

    Về kết quả tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT 2009

    Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2009 được tổ chức thi theo cụm trường và chấm chéo bài thi tự luận cùng yêu cầu thống nhất sử dựng phần mềm quản lý thi. Các Sở Giáo đục và Đào tạo căn cứ vào Quy chế và tình hình thực tế của địa phương để sắp xếp các trường thành cụm thi; những trường ở vừng xa, vùng cao, hải đảo, đi lại khó khăn, Sở Giáo dục và Đào tạo báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét, quyết định tổ chức thi cụm hoặc không theo cụm. Chủ trương này lúc đầu còn nhiều ý kiến băn khoăn, thậm chí còn có những ý kiến trái chiều. Trước tình hình đó, Bộ đã kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn, đồng thời giúp các các địa phương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Nhìn chung, kỳ thi đã diễn ra nghiêm tức, ý thức tự giác chấp hành kỷ luật, quy chế thi của học sinh và cán bộ coi thi đã từng bước được nâng cao; tỷ lệ thí sinh dự thi so với tổng số đăng ký thi đạt 99,47%, cao hơn kỳ thi năm 2008 (99,26%); trật tự kỷ cương ngày càng tốt hơn, việc chấm thi khách quan hơn, tạo thêm những tiền đề cơ bản, có ý nghĩa quan trọng cho việc tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương đổi mới thi và tuyển sinh của ngành giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.

    Trước mắt, trong năm 2010, Bộ chủ trương sẽ vẫn tổ chức riêng 2 kỳ thi: thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng; đồng thời tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2009, hoàn thiện và chuẩn hóa, ổn định việc thi tốt nghiệp THPT, khẳng định quyết tâm thực hiện lộ trình đổi mới công tác thi và tuyển sinh của ngành.

    Việc quản lý cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài

    Để tăng cường quản lý các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài, trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tích cực nghiên cứu, tìm hiểu để xây dựng dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Bộ đã tổ chức nhiều cuộc họp, trao đổi, hội thảo, xin ý kiến các cơ quan có liên quan, ý kiến chuyên gia và ý kiến của đối tượng chịu sự tác động của văn bản. Do phạm vi điều chỉnh của Nghị định rộng (bao gồm quy định về việc thực hiện Chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, mở Văn phòng đại diện của tổ chức, cơ sở giáo dục nước ngoài và thành lập cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài từ cơ sở giáo dục mầm non đến cơ sở giáo dục đại học) và do còn nhiều ý kiến khác nhau về quy trình thành lập trường trên cơ sở đảm bảo tuân thủ cả 3 Luật là Luật Giáo đục, Luật Dạy nghề và Luật Đầu tư, vì vậy thời gian hoàn thành dự thảo Nghị định bị kéo dài. Ngày 17/9/2009, toàn văn Dự thảo Nghị định quy đinh về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục đã được đưa lên Website của Bộ Giáo dục và Đào tạo để lấy ý kiến rộng rãi của toàn xã hội. Dự kiến hết thời hạn 60 ngày theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, Bộ sẽ chuyển dự thảo Nghị định đã được chỉnh sửa đến Bộ Tư pháp để thẩm định và trình Chính phủ.

    6- Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông

    Tại phiên họp thứ 22 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về ba nhóm vấn đề, cụ thể là: về quản lý nhà nước đối với thông tin trên mạng Internet; việc quản lý cấp phép tần số và nội dung các kênh truyền hình và về nguồn thu ngân sách từ vô tuyến điện. Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông đã thừa nhận việc quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực nêu trên còn nhiều bất cập và hứa sẽ khắc phục trong thời gian tới. Trước kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, Bộ thông tin và truyền thông đã có văn bản báo cáo kết quả thực hiện các vấn đề trên như sau:

    Về kiểm tra đại lý Internet: Bộ đã tăng cường công tác kiểm tra, từ năm 2008 đến nay đã 5 lần tổng kiểm tra các đại lý Internet, các sở, các địa phương đều vào cuộc rất quyết liệt. Qua tiến hành kiểm tra đã có xử lý. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra hiện nay. Trong năm 2009, Bộ tiếp tục chỉ đạo các Sở tăng cường thanh tra, kiểm tra các Đại lý Internet, tính đến tháng 7/2009, đã có 20 Sở Thông tin và Truyền thông gửi báo cáo kết quả kiểm tra về Bộ, trong đó: 895 đại lý đã được thanh kiểm tra, 205 đại lý bị xử lý vi phạm hành chính. Vi phạm của các đại lý Internet chủ yếu tập trung vào việc để khách hàng sử dụng dịch vụ quá giờ quy định, truy cập vào các website đồi trụy, lưu trữ phim, ảnh đồi trụy trong máy tính; không ký hợp đồng đại lý Internet với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ; không niêm yết nội quy sử dụng, không đảm bảo công tác an ninh, an toàn phòng cháy, chữa cháy.

    Về các biện pháp quản lý nhà nước đối với game trực tuyến: Bộ Công an, Bộ Văn hóa thông tin và Bộ Bưu chính viễn thông đã xây dựng Thông tư liên bộ số 60 quy định rất rõ những vấn đề liên quan đến hoạt động game trực tuyến và quản lý game trực tuyến. Hiện nay, Bộ cùng với các bộ có liên quan dự thảo thông tư mới để thay thế Thông tư 60, đang tổ chức hội thảo lấy ý kiến các bộ, ngành, tổ chức liên quan và dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ ban hành vào Quí I/2010.

    Về việc dành nhiều thời lượng phát sóng chương trình phim truyện của các kênh truyền hình địa phương, các đài truyền hình địa phương hiện nay phát đảm bảo đúng kênh, đúng tuyến và chất lượng tốt. Nhưng sản xuất chương trình tại chỗ rất yếu, khi không đủ chương trình thì khai thác chương trình khác đưa vào, nhất là chương trình phim. Bộ đã khảo sát tại một số Đài phát thanh, truyền hình địa phương có thời lượng phát sóng trên 18 giờ/ngày và thấy tỷ lệ phát sóng chương trình phim của các Đài chiếm đến 30–40% tổng thời lượng phát sóng….Việc chiếu phim để vừa lấp sóng đồng thời vừa khai thác quảng cáo trong chương trình phim đã khiến dư luận bức xúc. Căn cứ tình hình thực tế nêu trên, Bộ đã xây dựng dự thảo quy định các điều kiện, tiêu chuẩn và yêu cầu bắt buộc đối với các đài phát thanh, truyền hình các tỉnh, thành phố theo các nội dung cơ bản sau:

    • Tổng thời lượng phát sóng phim nước ngoài tại khung giờ từ 20g đến 22g hàng ngày đối với kênh chương trình truyền hình không vượt quá 50% trong một tuần (không vượt quá 7g/tuần).
  • Có phương án nâng cao chất lượng và thời lượng các chương trình do Đài tự sản xuất bảo đảm phục vụ yều cầu thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương, tiến tới nâng tỷ trọng chương trình địa phương lên tối thiểu 40%/kênh chương trình vào năm 2011.

  • Có phương án kỹ thuật và phương án tài chính đầy đủ, rõ ràng, khả thi để thực hiện việc phát sóng trực tiếp các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương và được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt.

  • Đề nghị của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẳng định việc bảo đảm nguồn lực tài chính để thực hiện phương án đã phê duyệt.

  • Ngày 15/10/2009, Bộ đã có văn bản số 3301/BTTTT-PTTH&TTĐT đề nghị đài phát thanh, truyền hình các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương góp ý kiến bằng văn bản đối với dự thảo nêu trên và sau đó đề nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản cho phép áp dụng các điều kiện, tiêu chuẩn và yêu cầu bắt buộc đối với các đài phát thanh, truyền hình các tỉnh, thành phố. Trước mắt áp dụng cho nhu cầu phát sóng trực tiếp các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương.

    Về bất hợp lý trong quản lý cơ sở hạ tầng ngành viễn thông và trách nhiệm quản lý nhà nước để các doanh nghiệp viễn thông kinh doanh bình đẳng, phát triển: Bộ đã tập trung nghiên cứu và bổ sung, hoàn thiện dự thảo Luật Viễn thông và trình Quốc hội trong kỳ họp thứ 6 này. Nếu Quốc hội thông qua Luật Viễn thông thì đây sẽ là căn cứ để triển khai giải quyết những vấn đề về quản lý hạ tầng viễn thông hiện nay và quản lý thị trường viễn thông kinh doanh bình đẳng.

    7. Bộ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải

    Tại phiên họp thứ 22 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về hai nhóm vấn đề:

    • Về quản lý hành lang bảo vệ quốc lộ; về thi công kéo dài một số đoạn và ùn tắc giao thông trên Quốc lộ 1A, quy hoạch và mức thu phí của các trạm thu phí giao thông trên Quốc lộ 1A; hạn chế tai nạn giao thông; tình hình và biện pháp xử lý tình trạng tắc đường ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh;
  • Về việc đầu tư thiếu đồng bộ trong xây dựng cầu; đầu tư cầu, đường ở miền núi; đảm bảo an toàn trong xây dựng công trình giao thông; việc đầu tư sửa chữa ở một số tuyến quốc lộ cụ thể.

  • Trong khi trả lời chất vấn trực tiếp của các vị đại biểu Quốc hội Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải đã cam kết, sẽ trao đổi với Bộ Tài chính để có cách xử lý, điều chỉnh chính sách cho nhà đầu tư BOT có thể thu phí giao thông thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo được thời gian hoàn vốn; sẽ bàn giao dự án đường 32 cho UBND thành phố Hà Nội triển khai tiếp, và sẽ bàn với UBND thành phố Hà Nội về việc xây dựng các đường phụ, đường công vụ phục vụ việc đi lại của nhân dân khi triển khai dự án; sẽ bàn với các cơ quan hữu quan của Chính phủ để tìm nguồn vốn bố trí bảo trì, nâng cấp đường giao thông nông thôn; cố gắng tăng cường duy tu, bảo dưỡng một số đoạn đường trên Quốc lộ 1A đi qua Phú Yên. Ngày 6-11-2009, Bộ trưởng đã báo cáo về việc triển khai thực hiện các cam kết trên như sau:

    Về dự án đường 32, Bộ giao thông vận tải đã giao thành phố Hà Nội làm chủ đầu tư phần xây lắp các dự án Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn – Nhổn, Quốc lộ 32 đoạn Nhổn – Sơn Tây. Riêng đoạn Nam Thăng Long – Cầu Diễn đã đề nghị Hà Nội làm chủ đầu tư như TP Hà Nội không thống nhất, vì vậy Bộ giao thông vận tải vẫn làm chủ đầu tư dự án. Trong thời gian qua, công tác giải phóng mặt bằng đã có chuyển biến ban đầu. Công tác đảm bảo giao thông đã được thành phố Hà Nội chú ý giải quyết.

    Về chương trình giao thông nông thôn 2: Bộ giao thông vận tải đã hỗ trợ các tỉnh, thành phố đào tạo cho 7000 cán bộ huyện, xã; sử dụng 33 triệu USD cho công tác bảo trì đường giao thông của 33 tỉnh, đồng thời, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật và loại mặt đường phù hợp với điều kiện khí hậu, địa chất của từng vùng để nâng cao chất lượng và tuổi thọ đường.

    Về một số đoạn đường trên Quốc lộ 1A đi qua Phú Yên, Cục đường bộ Việt Nam đã bố trí vốn sửa chữa đường bộ năm 2009, Khu quản lý đường bộ V đang tiến hành sửa chữa. Hiện nay, do ảnh hưởng của cơn bão số 9 và số 11, thời tiết đang mưa nên chỉ tiến hành được công tác đảm bảo giao thông. Trong tháng 11/2009 tiếp tục sửa chữa các đoạn hư hỏng còn lại của tuyến trên, dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2009.

    Về vấn đề hiện đại hóa các trạm thu phí: Bộ đã giao Cục đường bộ Việt Nam lập và thực hiện dự án đầu tư hiện đại hóa mạng lưới trạm thu phí quốc lộ thực hiện quy trình thu một dừng, sử dụng ấn chỉ mã vạch. Đến thời điểm hiện nay, 12 trạm đã đi vào hoạt động chính thức, 6 trạm đang chạy thử, 7 trạm đang triển khai thi công. Dự kiến toàn bộ 25 trạm thu phí thuộc dự án hiện đại hoá nói trên sẽ đi vào hoạt động trong năm năm 2010. Hiện nay, Bộ đang tổ chức rà soát lại thực trạng tổ chức, quản lý thu phí các dự án cầu đường giao thông; xây dựng đề án tổ chức và quản lý thu phí cầu đường bộ, dự kiến hoàn thành và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét vào đầu năm 2010.

    8. Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng Bộ lao động, thương binh và xã hội đã trả lời chất vấn về một số nhóm vấn đề sau: thực trạng và giải pháp đối với người mất việc, thiếu việc làm, lao động vị thành niên; vấn đề quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài và lao động nước ngoài tại Việt Nam, việc đào tạo nghề cho người lao động…; về chế độ bảo hiểm xã hội với cán bộ bán chuyên trách cấp xã; chế độ, chính sách đối với người tham gia kháng chiến và phục vụ kháng chiến, người nhiễm chất độc da cam….Trong quá trình trả lời chất vấn, Bộ trưởng đã cam kết sẽ tăng cường công tác kiểm tra các đối tượng lao động nước ngoài; ban hành Thông tư hướng dẫn mới, nâng mức hỗ trợ dạy nghề cho người tàn tật cao hơn hỗ trợ cho người nghèo, nông dân; nâng cao hơn nữa năng lực dự báo về thị trường lao động, việc làm; tăng cường công tác dạy nghề về cả quy mô và chất lượng; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương kiểm tra việc giải ngân cho hoạt động dạy nghề; tham mưu sửa đổi chế độ đối với người học nghề và giáo viên dạy nghề, cũng như việc tăng cường đầu tư cho sự nghiệp dạy nghề. Đối với lao động nông thôn, nhất là lao động thanh niên ở nông thôn, Bộ sẽ tham mưu với Chính phủ chỉ đạo các địa phương rà soát lại tất cả các đối tượng đi học cử tuyển và vấn đề bố trí việc làm sau khi học xong, mở rộng đối tượng xuất khẩu lao động theo nghị quyết 30a cho đối tượng lao động ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi; bổ sung mục tiêu nâng số lượng lao động trí thức, chuyên gia trong các chương trình đưa người lao động ra nước ngoài làm việc; tiếp tục chỉ đạo rà soát nhanh và sớm tiếp tục trợ cấp chế độ đối với người bị nhiễm đioxin nếu đủ điều kiện; đồng thời, trong năm nay sẽ chỉ đạo sớm việc rà soát, tăng cường công tác kiểm tra việc thống kê hộ nghèo; nghiêm túc nghiên cứu một chuẩn nghèo mới trình Chính phủ ban hành.

    Trước kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá XII, Bộ đã báo cáo việc triển khai thực hiện các nội dung trên như sau:

    Về tình hình quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Đã xây dựng dự thảo Chỉ thị của Ban Bí thư về “Tăng cường công tác quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam” và đang trong quá trình hoàn thiện để trình trong thời gian tới. Đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

    Đang tiến hành sửa đổi Bộ luật lao động, trong đó có một số điểm mới trong nội dung quản lý lao động nước ngoài đó là: Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, nhà thầu trong nước chỉ được tuyển người nước ngoài để làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; không được phép tuyển lao động phổ thông. Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền cấp, trừ các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép theo quy định của Điều ước quốc tế và các trường hợp khác do phát luật quy định (như: luật sư, thương nhân, chủ doanh nghiệp). Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam mà không có giấy phép lao động thì sẽ bị xử ý theo quy định của pháp luật.

    Về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người tàn tật: Hiện nay, Bộ đang trình Quốc hội xem xét dự án Luật Người khuyết tật và dự kiến sẽ thông qua vào tháng 5/2010. Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và các chính sách đối với người tàn tật, khuyết tật (trong đó có chính sách hỗ trợ học nghề cho người tàn tật, khuyết tật), Bộ đề nghị tạm thời chưa điều chỉnh mức hỗ trợ người tàn tật học nghề (tiếp tục thực hiện theo Thông tư liên tịch số 19/2005/TTLT/BLĐTBXH-BTC-BKHĐT). Nội dung này sẽ được hướng dẫn trong các văn bản quy định việc thực hiện Luật Người khuyết tật.

    Về thống kê lao động, việc làm: Với vai trò là một cơ quan quản lý nhà nước và để hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động-việc làm, Bộ đã ban hành Thông tư số 25/2009/TT-BLĐTBXH ngày 14/7/2009 về việc hướng dẫn thu thập và xử lý thông tin cung, cầu lao động, việc làm, thất nghiệp và biến động qua từng thời kỳ, địa bàn, làm cơ sở hoạch định chính sách việc làm và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của cung, cầu lao động; thu thập thông tin về thực trạng lao động của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động theo nghề và trình độ đào tạo; nhu cầu tuyển dụng lao động, làm cơ sở để xác định hướng đào tạo và bố trí hợp lý nguồn nhân lực. Đồng thời, để phục vụ công tác nghiên cứu và dự báo về thị trường lao động, Bộ tổ chức tiến hành Điều tra thực trạng sử dụng và nhu cầu lao động năm 2009.

    Để xây dựng các chính sách, chiến lược về lao động – việc làm phải làm tốt công tác phân tích và dự báo về thị trường lao động. Do vậy, Bộ xác định trong năm tới cần tập trung mọi nguồn lực để cải thiện và nâng cao công tác dự báo. Ngay từ cuối năm 2008, Bộ đã quyết định thành lập Trung tâm quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động và chỉ đạo Trung tâm nhanh chóng, tập trung vào nghiên cứu, phân tích đánh giá và dự báo về tình hình lao động–việc làm của Việt Nam đến năm 2020, dự kiến các kết quả sơ bộ sẽ được công bố vào tháng 12/2009.

    Về chương trình đưa chuyên gia ra nước ngoài làm việc: Năm 2009, Việt Nam đã đưa được khoảng 100 lao động kỹ thuật lĩnh vực nông nghiệp sang Israel vừa học, vừa làm nâng cao tay nghề và kỹ thuật nông nghiệp của phía Bạn. Đoàn công tác liên ngành của Bộ và Bộ NN&PTNT đã đi Nigeria để khảo sát và làm việc với Bạn về việc ký kết thoả thuận hợp tác đưa lao động và chuyên gia lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam sang Nigeria làm việc.

    Về việc miễn, giảm thuế đối với thương binh: Với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực người có công, Bộ đã đề xuất với Chính phủ xem xét và đã đưa nội dung này vào dự thảo Luật thuế nhà, đất trình Quốc hội tại kỳ họp lần này, trong số các trường hợp được miễn thuế có “Nhà ở, đất ở của: Người hoạt động cách mạng trước ngày 19/8/1945; thương binh hạng 1/4, 2/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 1/4, 2/4; bệnh binh hạng 1/3; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thân nhân liệt sĩ được hưởng trợ cấp hàng tháng; người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc màu da cam; người bị nhiễm chất độc màu da cam mà hoàn cảnh gia đình khó khăn”.

    Về chế độ đối với người bị nhiễm chất độc hoá học/dioxin: Qua các đợt kiểm tra, rà soát đối tượng hưởng chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, cả nước có 11.447 trường hợp bị dừng hưởng trợ cấp ưu đãi vì lý do không đủ điều kiện theo qui định hoặc còn vướng mắc về hồ sơ.

    Bộ đã ban hành Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH ngày 07/4/2009 và công văn số 1932/LĐTBXH-NCC-CS ngày 08/6/2009 hướng dẫn giải quyết đối với những trường hợp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học đang bị dừng chế độ trợ cấp như sau: Những hồ sơ được lập đúng và đủ điều kiện theo hướng dẫn tại thời điểm Quyết định 26/2000/ QĐ-TTg ngày 23/02/2000 và Quyết định số 120/ 2004/ QĐ – TTg ngày 05/7/2004 có hiệu lực, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ra quyết định cho hưởng chế độ trợ cấp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học. Trường hợp mắc 1 trong 17 dạng bệnh, tật theo qui định tại Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế, cần sớm bổ sung hồ sơ theo hướng dẫn tại Thông tư số 08/2009/TT-LĐTBXH ngày 07/4/2009 của Bộ để tiếp tục hưởng trợ cấp.

    Những trường hợp Trung tâm y tế chỉ xác nhận các triệu chứng bệnh chung chung (đau đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, mẩn ngứa, đau nhức xương khớp, huyết áp…), Sở Lao động – Thương binh và Xã hội giới thiệu đến giám định tại Hội đồng Giám định y khoa. Căn cứ vào kết luận giám định, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội giải quyết chế độ. Đến nay hầu hết các tỉnh, thành phố có đối tượng bị dừng trợ cấp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học đã kiểm tra, rà soát xong hồ sơ và đề nghị cho hưởng lại theo qui định hiện hành đối với những trường hợp đúng quy định.

    Về rà soát và tăng cường công tác kiểm tra việc thống kê hộ nghèo. Đồng thời nghiên cứu một chuẩn nghèo mới trình Chính phủ ban hành: Hiện nay, Bộ đang tổ chức rà soát lại các chính sách giảm nghèo hiện hành, tiến hành khảo sát thử các mức chuẩn nghèo dự kiến để có cơ sở dự báo chính xác hơn tỷ lệ nghèo mới, hoàn thiện trình Chính phủ. Về số liệu hộ nghèo, Bộ đang chỉ đạo các tỉnh, thành phố tổ chức kiểm tra, đánh giá lại việc xác định đối tượng và quản lý hộ nghèo trên địa bàn; tổ chức rà soát hộ nghèo theo chuẩn hiện hành; tổ chức xây dựng phương pháp, bộ công cụ để khảo sát hộ nghèo phù hợp hơn, tập huấn cho các địa phương để tổ chức khảo sát hộ nghèo ngay sau khi Thủ tướng ban hành chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.


    Trên đây là tổng hợp nội dung báo cáo của các Bộ về việc triển khai thực hiện những lời hứa trong trả lời chất vấn trực tiếp của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII và phiên họp thứ 22 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ngoài những nội dung nêu trên, một số Bộ còn báo cáo về việc thực hiện những vấn đề khác qua chất vấn bằng văn bản của đại biểu Quốc hội; một số nội dung khác có liên quan và gửi kèm công văn trả lời trực tiếp các vị đại biểu Quốc hội có câu hỏi chất vấn. Văn phòng Quốc hội xin trân trọng báo cáo.

     

    VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

    SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ QUỐC HỘI NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

    Advertisements

    Gửi phản hồi

    %d bloggers like this: