BÁO CÁO SỐ 186/BC-CP NGÀY 18 THÁNG 11 NĂM 2009 GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẠI KỲ HỌP THỨ SÁU, QUỐC HỘI KHÓA XII

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào, đồng chí,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã cơ bản đồng tình với Báo cáo của Chính phủ và đã thông qua các Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2010. Chính phủ sẽ nỗ lực cao nhất để thực hiện các nhiệm vụ còn lại của năm 2009 và sẽ khẩn trương triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ năm 2010.

Thưa Quốc hội,

Diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước tháng 10 và nửa tháng 11 vừa qua đã làm sáng tỏ thêm những nhận định, đánh giá và dự báo của chúng ta về khả năng hoàn thành kế hoạch năm 2009 và triển vọng phát triển kinh tế – xã hội năm 2010. Trong tháng 10, sản xuất công nghiệp nước ta tiếp tục phục hồi và tăng trưởng 11,9%; nông nghiệp, tuy gặp nhiều thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn phát triển khá ổn định; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng; thu chi ngân sách, lãi suất và giá tiêu dùng tương đối ổn định (giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,37% so với tháng 9/2009 và tăng 4,49% so với tháng 12/2008). Tuy nhiên, những thách thức, khó khăn vẫn còn rất lớn như đã trình bày trong các báo cáo của Chính phủ. Thêm vào đó, trong một thời gian ngắn, hai cơn bão lớn liên tiếp đổ bộ vào miền Trung, Tây Nguyên gây thiệt hại nặng nề về sinh mạng và tài sản. Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ ngành chức năng, các địa phương tập trung sức trợ giúp để đồng bào ta sớm vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất, ổn định cuộc sống.

Tại kỳ họp này đã có 112 đại biểu Quốc hội gửi 254 chất vấn đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các thành viên Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao và thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ trả lời bằng văn bản đối với các chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội. Trong 2 ngày qua 4 đồng chí Bộ trưởng đã trực tiếp trả lời chất vấn tại hội trường. Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo giải trình thêm về một số nội dung thuộc ba nhóm vấn đề mà nhiều vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước quan tâm, chất vấn và đây cũng là những công việc mà Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quốc hội.

Nhóm vấn đề thứ nhất

VỀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHỤC HỒI TĂNG TRƯỞNG, GIỮ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KHÔNG ĐỂ LẠM PHÁT CAO TRỞ LẠI VÀ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1. Trong thảo luận, đa số các vị đại biểu Quốc hội đều đánh giá các chính sách kích thích kinh tế vừa qua là cần thiết, kịp thời, hợp lý và đã tạo nên nguồn lực tổng hợp để thực hiện có hiệu quả các yêu cầu đặt ra trong mục tiêu tổng quát của kế hoạch năm 2009, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi giai đoạn khó khăn nhất. Các Đại biểu cũng đã đề cập tới những hạn chế, bất cập trong nội dung và quá trình triển khai thực hiện, Chính phủ xin tiếp thu và sẽ có những điều chỉnh cần thiết để nâng cao hiệu quả của các chính sách này[1]. Một vấn đề được nhiều Đại biểu và đồng bào cử tri quan tâm là năm 2010, chúng ta sẽ làm gì để tiếp tục thúc đẩy phục hồi kinh tế nhanh hơn, vững chắc hơn sau khi các chính sách hỗ trợ trong năm 2009 sẽ kết thúc. Về vấn đề này, Chính phủ xin báo cáo thêm như sau:

Tình hình kinh tế thế giới và trong nước như đã phân tích trong các báo cáo của Chính phủ cũng như qua thảo luận của các vị đại biểu Quốc hội thì năm 2010 vẫn sẽ là năm khó khăn rất lớn đối với phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Năm 2009, kinh tế nước ta tuy đạt được tốc độ tăng trưởng khá (khoảng 5,2%) trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm mạnh, nhưng mức độ phục hồi còn chậm, chưa vững chắc và đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong nhiều năm qua. Biện pháp nới lỏng thận trọng chính sách tiền tệ và hỗ trợ lãi suất tuy đã giúp nhiều doanh nghiệp, ngân hàng vượt qua khó khăn và có tác động lan toả đến toàn bộ nền kinh tế, nhưng khả năng tiếp cận nguồn hỗ trợ này của doanh nghiệp vừa và nhỏ, của các hộ nông dân còn bị hạn chế, thời gian thực hiện còn ngắn nên tác động chưa nhiều đến đầu tư trung và dài hạn để đổi mới thiết bị và công nghệ, tạo ra năng lực sản xuất mới. Để đạt được mục tiêu phục hồi tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2009, phấn đấu tăng GDP 6,5% trong năm 2010 và tăng bình quân khoảng 7 – 8% trong những năm tiếp theo, cần phải tiếp tục thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế một cách phù hợp để tiếp sức cho các doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế, hướng trọng tâm vào việc chuyển dịch cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; đồng thời, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Trên tinh thần đó, tiếp thu ý kiến thảo luận của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã thống nhất chủ trương là cần phải tiếp tục có các chính sách hỗ trợ, kích thích thiết thực để vừa hỗ trợ cho phục hồi tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa để cho các doanh nghiệp thích ứng dần với lãi suất thị trường và không để lạm phát cao trở lại. Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện các chính sách đã áp dụng trong năm 2009, Chính phủ sẽ xem xét toàn diện để chính thức ban hành trong tháng 12 năm 2009 các chính sách hỗ trợ cụ thể áp dụng trong năm 2010. Đồng thời, Chính phủ cũng sẽ ban hành Nghị định về chính sách tín dụng hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X.

2. Điều hành chính sách tài chính, tiền tệ để đạt được mục tiêu vừa phục hồi tăng trưởng, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao trở lại, vừa bảo đảm an sinh xã hội là vấn đề đang được nhiều vị đại biểu Quốc hội đặc biệt quan tâm. Thực tế rất phong phú trong những năm vừa qua đã để lại cho chúng ta niềm tin và một số kinh nghiệm, song nhiệm vụ điều hành trên lĩnh vực trọng yếu và rất nhạy cảm này trong thời gian tới (có cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài tác động) là rất phức tạp, khó khăn, đòi hỏi Chính phủ và các cơ quan chức năng của Chính phủ phải bám sát tình hình, nâng cao năng lực dự báo và phải có những chính sách, giải pháp chỉ đạo điều hành kịp thời, linh hoạt, phù hợp trong thực thi chính sách tài chính, tiền tệ.

Ngay sau Kỳ họp này của Quốc hội, Chính phủ sẽ họp với các địa phương, triển khai sớm Nghị quyết của Quốc hội về Dự toán ngân sách nhà nước năm 2010. Để thực hiện được các nhiệm vụ thu chi ngân sách mà Quốc hội đã thông qua, các cơ quan Trung ương và các địa phương phải nghiêm túc, quyết liệt trong quản lý thu chi ngân sách, bảo đảm kỷ luật tài chính, ngăn chặn gian lận và thất thu thuế, nhất là các khoản thu liên quan đến tài nguyên, kinh doanh bất động sản, hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động dịch vụ. Thực hiện công khai chi tiêu ngân sách và bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và đồng bào cử tri kiểm tra, giám sát. Năm 2010, nước ta có nhiều ngày lễ và nhiều hoạt động chính trị, văn hoá lớn, các ngành các cấp cần quán triệt tinh thần triệt để tiết kiệm, cắt giảm những khoản chi lãng phí, phô trương hình thức. Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng tiềm năng tiết kiệm trong các cơ quan và toàn xã hội còn nhiều, Chính phủ sẽ rà soát và ban hành những quy định cụ thể để các tiềm năng này thành nguồn lực bổ sung cho phát triển; một điều có ý nghĩa rất quyết định để thực hiện có kết quả yêu cầu này là sự gương mẫu của các cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt trong các cơ quan đơn vị, trong cả hệ thống chính trị của chúng ta. Chính phủ sẽ tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra tài chính và xử lý nghiêm các vi phạm.

Chủ trương nhất quán của Chính phủ là không phát hành tiền cho chi tiêu ngân sách. Toàn bộ số vay bù đắp bội chi ngân sách được dành cho đầu tư phát triển. Việc điều hành chính sách tiền tệ phải theo nguyên tắc thị trường và chủ yếu thông qua các công cụ thị trường mở. Chủ động giữ ổn định và từng bước hạ mặt bằng lãi suất cho phù hợp với yêu cầu khôi phục tăng trưởng, nhất là sau khi Nhà nước giảm dần và kết thúc các giải pháp hỗ trợ kích thích kinh tế. Kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và bảo đảm tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng quát của kế hoạch năm 2010. Tăng cường công tác quản lý ngoại hối, điều hành tỷ giá linh hoạt hơn theo quan hệ cung cầu và lợi ích tổng hợp của nền kinh tế, ứng phó có hiệu quả với biến động của các luồng vốn, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, giữ an toàn cán cân thanh toán tổng thể và mức dự trữ ngoại hối cần thiết. Kiểm tra chất lượng tín dụng, bảo đảm khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh. Tăng cường công tác thông tin về các chính sách của Nhà nước và về tình hình thị trường tài chính tiền tệ; chủ động ngăn ngừa và xử lý kịp thời, có hiệu quả các hoạt động đầu cơ, tung tin thất thiệt làm rối loạn thị trường.

Thị trường những tháng tới, nhất là dịp cuối năm dương dịch và Tết cổ truyền của dân tộc sẽ rất sôi động, Chính phủ yêu cầu các Bộ và các địa phương chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị đầy đủ hàng hoá phục vụ nhân dân, tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát giá cả theo cung cầu, không để xẩy ra tình trạng khan hiếm hàng hoá và biến động lớn về giá cả; khẩn trương chuẩn bị tốt các điều kiện để mọi người dân, nhất là những hộ nghèo, các gia đình chính sách và đồng bào ở những vùng bị thiên tai được đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn và tiết kiệm.

3. Một số vị đại biểu Quốc hội băn khoăn về tiến độ giải ngân, về chất lượng và hiệu quả của các dự án đầu tư, về việc không thực hiện hết kế hoạch vốn trái phiếu chính phủ năm 2009 trong khi chúng ta lại vẫn tiếp tục tăng đầu tư trong kế hoạch năm 2010. Đây cũng là một trọng tâm mà Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo trong thời gian tới, xin được trình bày thêm như sau:

Nghị quyết của Quốc hội vừa được thông qua đã đề ra chỉ tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2010 so với GDP là khoảng 41%; đồng thời, quyết định giảm tỷ lệ bội chi ngân sách xuống 6,2% trên cơ sở phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi và giữ tổng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước và từ trái phiếu chính phủ xấp xỉ năm 2009. Đây là những quyết sách tích cực, tạo điều kiện tập trung vốn hoàn thành sớm và triển khai đầu tư xây dựng các công trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đang rất bức xúc để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Để đạt được mức huy động đầu tư cao nhất, Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, giải quyết kịp thời và có hiệu quả các khó khăn vướng mắc trong các khâu thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng; cải cách mạnh thủ tục xây dựng cơ bản, quy chế đấu thầu và cách bố trí vốn nhằm rút ngắn hơn nữa thời gian chuẩn bị và thực hiện dự án, đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm đưa công trình vào vận hành, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và tăng tốc độ quay vòng vốn của nền kinh tế. Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật này, đây sẽ là một thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản.

Chính phủ đang tập trung chỉ đạo để hoàn thành đưa vào sử dụng và khẩn trương chuẩn bị để khởi công xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội theo quy hoạch, nhất là các dự án quan trọng về giao thông và năng lượng. Tìm mọi giải pháp để đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các dự án giao thông tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tạo các điều kiện thuận lợi để các tập đoàn, các tổng công ty và các doanh nghiệp triển khai đầu tư xây dựng nguồn và lưới điện theo quy hoạch. Tiếp tục đầu tư hạ tầng viễn thông. Đã bố trí tập trung vốn để tiếp tục thực hiện Chương trình giao thông nông thôn và Chương trình đường ô tô đến trung tâm xã đồng thời với việc triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục cho các địa phương vay vốn không lãi để xây dựng một số kết cấu hạ tầng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Cải tiến cơ chế quản lý và lồng ghép các chương trình mục tiêu, dự án trên cùng địa bàn để nâng cao hiệu quả, nhất là trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và xoá đói giảm nghèo. Kiểm tra thúc đẩy tiến độ thi công và chất lượng các dự án xây dựng bệnh viện, trường học, nhà ở cho giáo viên, ký túc xá sinh viên,… đã bố trí trong kế hoạch nhằm cải thiện một bước tình trạng khó khăn, quá tải của các cơ sở này. Riêng về nguồn vốn trái phiếu chính phủ, Chính phủ sẽ báo cáo ngay với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về phương án phân bổ cho kế hoạch năm 2010 và chỉ phát hành trái phiếu vay vốn khi đã có nhu cầu giải ngân. Chính phủ sẽ tiếp tục phân cấp đầu tư cho các địa phương đi liền với nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và kiểm tra, giám sát. Yêu cầu các địa phương tăng cường quản lý và bố trí vốn tập trung, ưu tiên cho các công trình, dự án sắp hoàn thành, bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình.

Một số đại biểu đề cập về một thực tế đáng quan tâm là hệ số ICOR của chúng ta khá cao và đang có xu hướng tăng lên. Về vấn đề này, Chính phủ xin báo cáo như sau: Hạ tầng kinh tế – xã hội của nước ta còn lạc hậu xa so với nhiều nước và đang là một điểm nghẽn của sự phát triển; đầu tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội là cần thiết, cấp bách nhưng yêu cầu vốn rất lớn, lại chưa tạo ra ngay được nhiều sản phẩm và nhất là đầu tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn, miền núi, hải đảo nhưng nếu không đầu tư thì các vùng này không thể phát triển, cuộc sống của đồng bào ở đây (chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào nghèo) sẽ không được cải thiện và việc bảo đảm quốc phòng, an ninh trên các địa bàn này cũng sẽ rất khó khăn. Tuy nhiên, hệ số ICOR cao có phần là do đầu tư công và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hiệu quả còn thấp, thất thoát, lãng phí còn lớn và còn do thủ tục đầu tư phức tạp, phiền hà gây tốn kém nhiều thời gian và tiền bạc của các nhà đầu tư. Nhận thức được những yếu kém này, Chính phủ sẽ tăng cường quản lý đầu tư công, bao gồm cả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư của nền kinh tế; đồng thời, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư (chiếm tỷ lệ ngày càng tăng cao trong tổng đầu tư toàn xã hội) vào kinh doanh cơ sở hạ tầng và nhất là đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh vì đây là những khu vực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn. Thực hiện tích cực, đồng bộ và có kết quả các giải pháp trên đây sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và giảm dần hệ số ICOR của nước ta.

Chính phủ trân trọng đề nghị các vị đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tăng cường giám sát công tác đầu tư và xây dựng, nhất là đầu tư công.

4. Trong thảo luận, một số đại biểu Quốc hội đặt yêu cầu phải đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế ngay trong năm 2010. Trong báo cáo trình Quốc hội tại phiên khai mạc, Chính phủ cũng đã xác định: “Khẩn trương xây dựng đề án và thực hiện một bước tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng”. Về nội dung này, xin trình bày thêm như sau:

Tái cấu trúc nền kinh tế mà nội dung chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, gắn liền với tái cấu trúc các ngành sản xuất, tái cấu trúc doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường là một vấn đề lớn, phải được thực hiện liên tục, lâu dài, trên cơ sở của sự phát triển khoa học – công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là yêu cầu thường xuyên của mọi nền kinh tế, càng đặc biệt cấp thiết đối với nền kinh tế đang chuyển đổi như nước ta và trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biển đổi rất nhanh và đang phục hồi sau khủng hoảng. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta là chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ, phân tán, lạc hậu sang một nền nông nghiệp tiên tiến hiện đại; một nền công nghiệp từ chỗ chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên khoáng sản và lắp ráp, gia công sang các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến và phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; từ chú trọng ưu tiên cho xuất khẩu sang vừa coi trọng xuất khẩu, vừa kết hợp phát triển khai thác có hiệu quả thị trường nội địa với 86 triệu người tiêu dùng và tương lai không xa sẽ là 100 triệu với thu nhập và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng. Mục tiêu cuối cùng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và từng sản phẩm. Tuy nhiên, đây phải là một quá trình vận động chuyển đổi liên tục, tích cực từ thấp đến cao. Mặt khác, do điểm xuất phát của nền kinh tế nước ta còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo và nhất là lao động có chất lượng cao chưa nhiều, thị trường công nghệ chưa phát triển, nên chưa thể ngay lập tức từ bỏ việc phát triển theo “chiều rộng” để chuyển hẳn sang phát triển theo “chiều sâu”, mà phải kết hợp hài hoà và có bước chuyển dịch khẩn trương, thích hợp.

Những năm gần đây, đời sống các tầng lớp nhân dân có bước được cải thiện tốt hơn, thị trường trong nước phát triển mạnh hơn, nhất là trong hai năm 2008 và 2009. Chính phủ chủ trương tiếp tục tăng đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư để phát triển thị trường trong nước. Ngân sách năm 2010 bố trí tăng thêm cho công tác xúc tiến thương mại và triển khai cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Phấn đấu để ngày càng có nhiều hàng hoá Việt Nam chiếm lĩnh thị trường trong nước và cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Nhà nước sử dụng pháp luật và các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng để hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện tái cấu trúc nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.

Chính phủ đánh giá cao Báo cáo giám sát các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Qua quá trình sắp xếp, đổi mới nhìn chung doanh nghiệp nhà nước đã thích ứng được và có bước phát triển khá trong kinh tế thị trường, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên, thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò, nhiệm vụ được giao[2]. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực và lợi thế, một số còn thua lỗ và chưa làm tốt nhiệm vụ được giao[3]. Chính phủ sẽ chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các kiến nghị qua giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có kế hoạch và biện pháp đồng bộ, cụ thể để phát huy mặt mạnh, mặt tích cực và kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém, cấu trúc lại thích hợp trong từng doanh nghiệp, cơ cấu lại tài chính, bổ xung nguồn lực, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh kiên trì phấn đấu xây dựng các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước ngày càng vững mạnh, đủ sức thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, để kinh tế nhà nước thực sự là lực lượng vật chất quan trọng cho Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Những nội dung chủ yếu của tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng sẽ được đề cập đầy đủ trong Đề án và quá trình thảo luận thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020 và Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 nhưng ngay trong kế hoạch năm 2010, chúng ta cũng đã thể hiện một số bước cụ thể nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc tiếp tục huy động vốn đầu tư toàn xã hội tương đương khoảng 41% GDP, đồng thời bảo đảm giải ngân nhanh và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, trong đó vốn ngân sách và trái phiếu chính phủ trong kế hoạch năm 2010 chiếm 23% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, để tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội sẽ tạo thêm một bước quan trọng trong việc giải quyết các điểm nghẽn của phát triển, tạo tiền đề để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thực hiện có hiệu quả các chính sách và giải pháp chủ yếu trên đây sẽ là nhân tố rất quan trọng để chúng ta thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát mà Quốc hội đã xác định.

Nhóm vấn đề thứ hai

TẬP TRUNG CHỈ ĐẠO GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ BỨC XÚC VỀ XÃ HỘI

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn những mặt hạn chế, yếu kém như đã trình bày trong các báo cáo của Chính phủ. Tại Kỳ họp này, nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước cũng đã nêu và phân tích rõ thêm một số vấn đề bức xúc về xã hội[4]. Đây là những vấn đề xác đáng. Chính phủ sẽ nỗ lực để cùng cả hệ thống chính trị chung sức phấn đấu khẩn trương giải quyết có kết quả những vấn đề bức xúc đặt ra. Tuy nhiên, đây là những vấn đề lớn và cũng không ít khó khăn, cần phải dành nhiều công sức, nguồn lực và thời gian để giải quyết. Thay mặt Chính phủ, tôi xin trình bày một số công việc sẽ tập trung chỉ đạo trong năm 2010.

1. Tập trung chỉ đạo thực hiện có kết quả các chính sách và chương trình, dự án về giảm nghèo nhanh và bền vững

Xoá đói giảm nghèo vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của phát triển bền vững. Trong nhiều năm qua, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội để nâng cao mức sống chung của mọi người dân, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách và chương trình, dự án để hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, vùng có nhiều khó khăn và đã đạt được kết quả tích cực, được nhân dân đồng tình và quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo vẫn chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, các nhóm dân cư chậm được thu hẹp. Để giảm nghèo nhanh và bền vững, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo đã có, trong đó tập trung triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo ở 62 huyện. Đây là một Chương trình tổng thể mang ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, thực hiện trong thời gian 12 năm. Mục tiêu của Chương trình là giúp giảm nghèo nhanh và bền vững cho khoảng 2,5 triệu người, trong đó trên 90% là đồng bào dân tộc thiểu số thông qua nhiều chính sách hỗ trợ về phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; về giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; về đào tạo cán bộ; về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội… Cùng với 62 huyện này, các tỉnh thành chọn thêm một số huyện nghèo khác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung để huy động mọi nguồn lực của địa phương đầu tư hỗ trợ các huyện này giảm nghèo nhanh và bền vững. Nghị quyết 30a của Chính phủ đã được các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện[5]. Tuy nhiên, còn một số vấn đề mà nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm và yêu cầu làm tốt hơn, Chính phủ xin tiếp thu và sẽ tập trung chỉ đạo các Bộ ngành, chính quyền địa phương kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện. Triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ đề ra trong Nghị quyết 30a; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, đồng thời tiếp tục kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng doanh nghiệp và của toàn xã hội, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của Ban Chỉ đạo Chương trình giảm nghèo các cấp và của cán bộ cơ sở. Nâng cao chất lượng quy hoạch. Tăng cường kiểm tra giám sát việc thực thi, coi trọng giám sát của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của người dân, bảo đảm các chế độ, chính sách được thực hiện đúng quy định, có hiệu quả. Động viên người nghèo, hộ nghèo nỗ lực vươn lên thoát nghèo.

Hai là, cùng với việc thực hiện tốt các chính sách và chương trình, dự án đã ban hành, phải khẩn trương sửa đổi bổ sung và nghiên cứu ban hành mới các cơ chế chính sách giảm nghèo bền vững. Năm 2010, nhiều chính sách và chương trình, dự án giảm nghèo sẽ hết thời hạn (Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, Chương trình 135 giai đoạn II, Chương trình 134…), cần làm tốt công tác tổng kết, trên cơ sở đó ban hành các chính sách và chương trình, dự án phù hợp cho giai đoạn tiếp theo.

Riêng về chuẩn nghèo, từ năm 1993 đến nay, chúng ta đã 5 lần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và từng bước tiếp cận với chuẩn nghèo quốc tế. Sau mỗi lần điều chỉnh, số hộ được hưởng chính sách trợ giúp tăng thêm. Hiện nay chúng ta đang áp dụng chuẩn nghèo ban hành từ năm 2005[6]. Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng chuẩn này không còn phù hợp, cần phải điều chỉnh. Các ý kiến này là xác đáng. Thời gian qua, trong khi chưa điều chỉnh chuẩn nghèo, Chính phủ đã ban hành một số chính sách nhằm trợ giúp cấp bách cho người nghèo, hộ nghèo và các đối tượng khó khăn, đồng thời đang tích cực chỉ đạo triển khai việc điều chỉnh chuẩn nghèo để áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015.

2. Đẩy mạnh đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Mặc dù đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đào tạo nghề, song chất lượng lao động của nước ta, nhất là lao động nông thôn vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm. Giải quyết việc làm tuy có nhiều cố gắng song kết quả còn hạn chế[7] . Đây cũng là những vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động, việc làm, thu nhập của người lao động và an sinh xã hội nói chung và cũng là những vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, chất vấn.

Trong năm 2010 và các năm tới, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo phát triển mạnh hệ thống dạy nghề và từng bước nâng cao chất lượng dạy nghề để nâng cao chất lượng lao động. Hình thành và phát triển hệ thống dạy nghề có năng lực đào tạo nghề chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực kỹ thuật của các ngành, các địa phương; phát triển các trung tâm dạy nghề để đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng nhằm phổ cập nghề và đào tạo lại. Tiếp tục hoàn thiện các chính sách thu hút nguồn lực của xã hội kể cả nguồn lực nước ngoài để phát triển dạy nghề. Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề theo các chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế. Xây dựng chương trình, giáo trình và phương pháp thích hợp trong dạy nghề. Quản lý chặt chẽ hệ thống bảo đảm chất lượng dạy nghề. Có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với cả người học và cơ sở dạy nghề trong đó có cho vay ưu đãi để học nghề, hỗ trợ thanh niên, bộ đội xuất ngũ học nghề. Phấn đấu đạt chỉ tiêu 40% lao động được đào tạo mà kế hoạch năm 2010 đã đề ra.

Đẩy mạnh việc đào tạo theo nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp. Đây là hướng đột phá nhằm tăng nhanh quy mô lao động kỹ thuật, lành nghề ở những lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ cao đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động. Tăng cường gắn kết giữa các cơ sở dạy nghề với hệ thống giao dịch việc làm (hướng nghiệp, thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động) và với doanh nghiệp; coi trọng việc mở rộng hình thức dạy nghề theo hợp đồng, liên kết đào tạo, đào tạo lại hoặc đặt hàng giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp sử dụng lao động; khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức đào tạo tại doanh nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp đóng góp kinh phí đào tạo nghề khi tiếp nhận lao động đã qua đào tạo.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn gắn với nhu cầu thị trường lao động, phục vụ cho chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế nói chung và trong khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng, phù hợp với yêu cầu của từng ngành và từng địa phương. Từ năm 2010, hàng năm sẽ tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã; chú trọng đào tạo nghề gắn với chuyển đổi ngành nghề đối với nông dân mà Nhà nước đã thu hồi đất. Hỗ trợ đầu tư xây dựng và tăng cường quản lý, bảo đảm hiệu quả hoạt động của 220 trung tâm dạy nghề mới được thành lập năm 2009, trong đó có 116 trung tâm thuộc các huyện vùng đồng bằng, 74 trung tâm thuộc các huyện vùng núi, biên giới, 30 trung tâm thuộc các huyện có tỷ lệ hộ nghèo từ 30 – 50%; hỗ trợ đầu tư cho 9 trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở các tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống và một số giải pháp cụ thể khác.

Cùng với các biện pháp kích thích kinh tế, đẩy mạnh đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển đào tạo nghề, bảo đảm và tạo thêm nhiều việc làm mới, Chính phủ sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, hỗ trợ cho người lao động bị mất việc làm, thực hiện bảo hiểm thất nghiệp. Thúc đẩy hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Tiếp tục chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước, nhất là trách nhiệm quản lý trực tiếp của các cấp chính quyền địa phương và các chủ đầu tư trong việc sử dụng lao động nước ngoài; xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực này.

3. Tập trung chỉ đạo bảo đảm chất lượng giáo dục đại học

Nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm chất vấn về chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Báo cáo gửi đến các vị đại biểu. Xin giải trình thêm về giáo dục đại học như sau:

Sau 23 năm thực hiện đường lối đổi mới và 9 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục (2001 – 2010), giáo dục đại học nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng trân trọng. Cùng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, đã huy động được nhiều nguồn lực của xã hội để phát triển giáo dục đại học. Năng lực và quy mô đào tạo tăng nhanh, chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng được quan tâm và từng bước được nâng lên. Mạng lưới các trường đại học và cao đẳng đã phủ kín 62/63 tỉnh thành (còn tỉnh Đắk Nông chưa có) và đã phát triển khá nhanh ở các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn (Tây Bắc có 1 trường đại học, 8 trường cao đẳng; Tây Nguyên có 3 trường đại học, 10 trường cao đẳng; đồng bằng sông Cửu Long 11 trường đại học, 27 trường cao đẳng). Số con em diện chính sách, miền núi, dân tộc thiểu số được thu hút vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng nhiều. Bình quân 5 năm (2004 – 2008), tỷ lệ thí sinh trúng tuyển hệ chính quy từ khu vực nông thôn và miền núi là 64,5% và số thí sinh nữ là 51,6% so với tổng số thí sinh trúng tuyển. Năng lực đào tạo tăng hơn 3 lần, từ 101 trường đại học, cao đẳng với 20 nghìn giảng viên (năm 1987), nay đã tăng lên 376 trường với trên 61 nghìn giảng viên; quy mô tuyển sinh mới đạt trên 500 nghìn sinh viên/năm, gấp 15 lần; quy mô đào tạo đạt trên 1,7 triệu sinh viên, gấp gần 13 lần. Hiện đã có gần 10.000 sinh viên nước ngoài đang theo học đại học, cao đẳng ở nước ta. Quy mô sinh viên tốt nghiệp đạt trên 222 nghìn người/năm, gấp hơn 11 lần. Loại hình trường và phương thức đào tạo được đa dạng hoá, đã có 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 21,5%. Cơ cấu trình độ, ngành nghề đào tạo đang được chuyển dịch theo hướng tích cực hơn, gắn với nhu cầu xã hội. Đã có 159 viện nghiên cứu và trường đại học tham gia đào tạo sau đại học. Nhờ kết quả này, đến nay, nước ta có khoảng 7% lực lượng lao động đang làm việc (trên 3 triệu người) có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học, đây thực sự là một lực lượng nòng cốt của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, giáo dục đại học vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập như trong báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhiều đại biểu Quốc hội đã nêu. Trong đó nổi lên là quản lý nhà nước về giáo dục đại học chưa tốt, nhất là trong việc thành lập, nâng cấp trường, mở ngành đào tạo và tuyển sinh, quản lý chất lượng đào tạo, dẫn đến chất lượng giáo dục đại học ở nhiều trường và chuyên ngành đào tạo còn thấp, chậm được cải thiện, không ít sinh viên ra trường còn khó khăn về tìm việc làm[8]. Quy mô giáo dục tuy có được mở rộng, nhưng so với yêu cầu và so với một số nước thì chúng ta vẫn ở mức thấp về các chỉ số như: quy mô dân số/1 trường đại học cao đẳng, số sinh viên/1 vạn dân, tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học trong tổng số lao động…, phải cố gắng nhiều hơn nữa với phương châm phát triển hợp lý theo quy hoạch về số lượng đi liền với bảo đảm chất lượng[9].

Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Kết luận số 242 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Nghị quyết số 14 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006 – 2020; cùng với việc mở rộng quy mô một cách hợp lý theo quy hoạch, phải tập trung chỉ đạo bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Tập trung vào một số trọng tâm sau đây:

Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch mạng lưới trường đại học và cao đẳng trong cả nước; bổ sung, hoàn chỉnh các quy định về điều kiện thành lập trường, nâng cấp trường, mở ngành đạo tạo và tuyển sinh; đồng thời làm tốt công tác thẩm định (cả tại hồ sơ và trên thực tế), thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Xử lý kịp thời và nghiêm minh các hành vi vi phạm. Kiên quyết không cho tuyển sinh đào tạo khi chưa đủ các điều kiện quy định.

Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Trước hết là đổi mới quản lý hệ thống giáo dục. Rà soát, bổ sung hoàn thiện và triển khai thực hiện nghiêm các quy định về hoạt động của nhà trường; phân cấp và đề cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố đối với các trường trên địa bàn; tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện việc 3 công khai (về chất lượng, nguồn lực và thu chi tài chính) đối với tất cả các trường; chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; xây dựng hệ thống cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng từ trung ương đến các trường; tăng cường thanh tra, kiểm tra giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước để quản lý chất lượng. Chuẩn hoá và nâng cao chất lượng đầu vào: chuẩn hoá về tuyển sinh, về giảng viên, cán bộ quản lý, bảo đảm đủ số lượng giảng viên/sinh viên của hệ thống giáo dục đại học[10] và nâng cao nhanh chất lượng giảng viên, phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 60% giảng viên có trình độ thạc sĩ và 35% có trình độ tiến sĩ. Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy đại học bảo đảm chuẩn hoá về chất lượng, liên thông trong toàn hệ thống và từng bước hội nhập quốc tế. Đẩy nhanh việc xây dựng chương trình đào tạo khung và giáo trình chuẩn dùng chung cho cùng nhóm ngành nghề đào tạo. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng nhanh các chương trình đào tạo tiên tiến và xây dựng một số trường đại học có trình độ cao. Nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng ngoại ngữ, tin học cho sinh viên. Khuyến khích để ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam sang học tập nghiên ở các nước có nền giáo dục tiên tiến; tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà giáo, nhà khoa học giỏi từ các nước, trong đó có người Việt Nam ở nước ngoài đến giảng dạy, nghiên cứu tại các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu ở Việt Nam. Để phát triển nhanh hơn và nâng cao hiệu quả cho giáo dục đại học, đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng. Vừa qua, Quốc hội đã có Nghị quyết 35 về định hướng đổi mới một số nội dung cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015. Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính tích cực chuẩn bị để triển khai Nghị quyết này.

Năm 2010, Chính phủ sẽ chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 và xây dựng Chiến lược phát triển cho giai đoạn 2011 – 2020 phù hợp với tình hình mới, đặc biệt quan tâm bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

4. Tạo bước chuyển biến trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm chất vấn về các biện pháp để bảo đảm tốt hơn công tác y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, sớm khắc phục tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện. Xin được giải trình thêm như sau:

Nhà nước sẽ tiếp tục tăng đầu tư và đẩy mạnh xã hội hoá, xây dựng và thực hiện đồng bộ các chính sách giải pháp để làm tốt hơn việc phòng bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.

Tăng cường công tác y tế dự phòng. Tập trung ngăn chặn có hiệu quả các bệnh dịch nguy hiểm, các bệnh mới và đang lây lan như sốt xuất huyết, cúm A (H1N1), cúm A (H5N1)… hạn chế tối đa tỷ lệ mắc bệnh và tử vong; loại trừ và tiến tới thanh toán một số bệnh truyền nhiễm phổ biến; giảm thiểu các nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm và các bệnh liên quan tới môi trường sống. Trước hết, phải làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của y tế dự phòng và trách nhiệm thực hiện của các cấp, các ngành, của cộng đồng và mỗi người dân; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách về phát triển y tế dự phòng; triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Đẩy mạnh Chương trình tiêm chủng mở rộng; kiện toàn về tổ chức và nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất của mạng lưới y tế dự phòng các cấp.

Tập trung triển khai thực hiện các giải pháp để sớm khắc phục tình trạng quá tải, nhất là ở các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 2 Đề án về đầu tư, xây dựng, cải tạo nâng cấp bệnh viện huyện, bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện và các bệnh viện chuyên khoa lao, tâm thần, nhi, ung bướu và một số bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc vùng miền núi, khó khăn (số 47/2008/QĐ-TTg và số 930/QĐ-TTg năm 2009 của Thủ tướng). Theo 2 đề án này, sau năm 2010, sẽ có 621 bệnh viện huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện; sau năm 2013 sẽ có 55 bệnh viện lao; 40 bệnh viện, trung tâm tâm thần; 33 bệnh viện nhi, sản nhi; 9 bệnh viện, trung tâm ung bướu; 7 khoa ung bướu thuộc các bệnh viện trung ương; 78 bệnh viện đa khoa tỉnh và trung ương; Viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia sẽ được cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Đến nay, ngân sách đã bố trí 8.750 tỷ đồng để thực hiện 2 Đề án trên và sẽ tiếp tục bố trí theo tiến độ. Yêu cầu các Bộ ngành chức năng và các địa phương tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện đúng quy định, sớm đưa các công trình này vào sử dụng. Trên cơ sở quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cơ sở khám chữa bệnh, nhất là khám chữa bệnh có kỹ thuật cao. Đồng thời với các giải pháp cơ bản trên, sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp giảm tải, giảm bệnh nhân nằm ghép giường như: thu xếp để tăng diện tích cho khu điều trị, tăng cường điều trị ngoại trú, phát triển và nhân rộng mô hình dự án bệnh viện vệ tinh, tiếp tục cử cán bộ từ tuyến trên luân phiên hỗ trợ có hiệu quả các bệnh viện tuyến dưới, tổ chức hợp tác liên thông bệnh viện của các ngành, giữa công lập và ngoài công lập….

Tiếp tục cải thiện chất lượng khám, chữa bệnh đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Cùng với việc đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp, xây mới các bệnh viện và mua sắm các trang thiết bị y tế, phải tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà, tạo thuận lợi cho người bệnh, triển khai thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế. Chú trọng đẩy nhanh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện; nâng cao y đức và cải thiện đời sống của cán bộ y tế; xây dựng và tổ chức thực hiện tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; mở rộng bảo hiểm y tế tự nguyện, thực hiện đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế, khuyến kích phát triển dịch vụ y tế kỹ thuật cao; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong bệnh viện; huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống quản lý và xử lý chất thải y tế.

5. Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia và cuộc vận động xây dựng nông thôn mới

Các vấn đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn và đời sống nông dân cũng được nhiều vị đại biểu Quốc hội quan tâm. Trong báo cáo trình bày tại phiên khai mạc, Chính phủ đã nêu những công việc đã và đang triển khai để thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Hôm nay xin báo cáo thêm vấn đề xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và giải pháp về xây dựng nông thôn và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt. Tuy nhiên, như nhiều đại biểu Quốc hội đã phát biểu: nông thôn nước ta phát triển còn tự phát, thiếu quy hoạch[11]; kết cấu hạ tầng nhiều nơi còn lạc hậu; kinh tế phát triển chậm, thiếu bền vững; đời sống còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hệ thống an sinh chưa phát triển; mức hưởng thụ văn hoá của người dân còn thấp, còn nhiều vấn đề bức xúc về xã hội và môi trường.

Để khắc phục những tồn tại, yếu kém trên đây, bên cạnh việc thực hiện toàn diện các nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ chủ trương tập trung mọi nguồn lực, trong một thời gian nhất định tạo bước tiến mới trong phát triển nông thôn. Phát huy những thành quả và kinh nghiệm xây dựng nông thôn trong những năm qua, trên cơ sở tổng kết những mô hình thí điểm đã triển khai từ năm 2000 đến nay và tham khảo kinh nghiệm của một số nước, Chính phủ đã thảo luận và thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 với mục tiêu tổng quát là: xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, hiệu quả, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ. Yêu cầu đặt ra là đến năm 2020, phải có 50% số xã đạt chuẩn “nông thôn mới” theo Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới đã được ban hành.

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình khung tổng thể bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, có liên quan tới nhiều bộ, ngành và tới tất cả các địa phương (Chương trình được thiết kế gồm 11 Đề án với 51 nội dung cụ thể). Chương trình sẽ được thực hiện trên địa bàn xã gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của từng địa phương và lồng ghép các chương trình, dự án đã có trên địa bàn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Dự kiến kinh phí thực hiện Chương trình được huy động từ các nguồn: ngân sách nhà nước, đóng góp của nhân dân và nguồn tích luỹ tại chỗ (ngân sách xã). Chính phủ sẽ bổ sung, sửa đổi một số chính sách huy động nguồn lực tổng hợp của cả xã hội tham gia thực hiện Chương trình và sửa đổi một số cơ chế quản lý cho phù hợp với tình hình và khả năng thực hiện ở cơ sở. Chính phủ sẽ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện chương trình; đồng thời, thực hiện cơ chế giám sát của cộng đồng, giám sát đánh giá của tư vấn độc lập và chịu sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, các công việc cụ thể do chính cộng đồng dân cư ở thôn, xã bàn bạc dân chủ và quyết định; các cấp uỷ Đảng, chính quyền có vai trò lãnh đạo chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới vừa là một chương trình mục tiêu quốc gia, vừa là cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn xã hội, được thực hiện theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn và xây dựng các mô hình điểm trước khi nhân rộng.

6. Tăng cường quản lý nhà nước để bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng

Kinh tế thị trường, một mặt, đem lại cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn, nhưng mặt khác, nếu không được kiểm soát tốt cũng tạo nên nguy cơ phải sử dụng những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn an toàn, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ xuất xứ và gian lận về số lượng hàng hoá, dịch vụ, đặc biệt là những hàng hoá có liên quan đến sức khoẻ con người và môi trường sống. Việc bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta đã được đặt ra từ nhiều năm nay và đã có khung pháp lý khá đầy đủ, song việc thực hiện kém hiệu quả; tình trạng vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng diễn ra nhiều, nhưng chưa được xử lý nghiêm. Đây là vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội, được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm chất vấn và cũng là một trong những trọng tâm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong thời gian tới.

Trên cơ sở các khuyến cáo của Liên hợp quốc về 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng và từ thực tiễn của nước ta, Chính phủ sẽ xây dựng và trình Quốc hội dự luật về bảo vệ người tiêu dùng; đồng thời, tăng cường công tác thông tin về quyền và trách nhiệm của người bán hàng và người tiêu dùng, về mua bán hàng hoá, dịch vụ, về các cơ quan và cơ chế xử lý khiếu nại, tố cáo; đưa hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trở thành công việc thường xuyên trong đời sống kinh tế – xã hội. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam và các Văn phòng khiếu nại; tăng cường giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng thông qua các Hội, Văn phòng khiếu nại và các Văn phòng luật sư. Thực hiện giám sát chặt chẽ thị trường, giá cả, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường; thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vụ vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng.

Hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được quan tâm và bước đầu đã đạt được một số kết quả[12]. Tuy nhiên, tình trạng không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang là vấn đề gây nhiều bức xúc trong xã hội. Nguyên nhân của tình trạng này, trước hết là sự thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức của một số người sản xuất, kinh doanh, coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng; mặt khác, có phần do buông lỏng quản lý nhà nước, chưa đầu tư thích đáng cho công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và có phần do ý thức tự bảo vệ còn rất kém của một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng.

Trong thời gian tới, cùng với việc khẩn trương hoàn chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó có Luật an toàn thực phẩm, Chính phủ sẽ khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường cán bộ và phương tiện cho công tác quan trọng này, phân công rõ trách nhiệm của từng ngành trong quản lý, kiểm soát các công đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông, kinh doanh thực phẩm, đặc biệt là tăng cường trách nhiệm và hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trong việc chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm. Đồng thời, Nhà nước có chính sách khuyến khích thực hiện quy hoạch các vùng sản xuất thực phẩm an toàn gắn với quy hoạch hệ thống thương mại, bán lẻ, giết mổ và kiểm soát nhập khẩu thực phẩm. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm nhất là trách nhiệm, ý thức của người sản xuất kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng; tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực này.

7. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai

Nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, chất vấn về các biện pháp tăng cường bảo vệ môi trường; ngăn chặn tình trạng phá rừng; việc phát triển thuỷ điện phải đi liền với quản lý vận hành hồ chứa để góp phần kiểm soát lũ lụt giảm nhẹ thiệt hại thiên tai; giải pháp ứng phó với biển đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Về các vấn đề này, xin được giải trình thêm như sau:

Về bảo vệ môi trường, phải tiếp tục tích cực xử lý các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng hiện có theo Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ và các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng mới phát hiện; thực hiện đồng bộ các biện pháp kiên quyết ngăn chặn phát sinh ô nhiễm mới, trong đó khẩn trương cập nhật, hoàn chỉnh các quy định tiêu chuẩn về môi trường, làm tốt công tác bảo vệ môi trường ngay từ khâu thẩm định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch và dự án đầu tư; tăng cường giám sát việc thực thi để ngăn chặn ô nhiễm. Nhà nước tăng đầu tư và đẩy mạnh xã hội hoá để huy động nguồn lực và định hướng công nghệ, xây dựng mô hình, cơ chế chính sách tạo bước chuyển biến mạnh trong việc xử lý rác thải bệnh viện, đô thị lớn, khu tập trung đông dân cư, làng nghề. Tiếp tục khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các lưu vực sông; ngăn chặn nhập khẩu công nghệ và hàng hoá gây ô nhiễm; tăng cường kiểm tra, thanh tra xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 129 phê duyệt Đề án Cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường, yêu cầu các Bộ ngành và địa phương thúc đẩy việc triển khai thực hiện.

Một vấn đề liên quan đến môi trường hiện nay là tình trạng vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, tuy có giảm nhưng phá rừng vẫn còn nghiêm trọng[13]. Cùng với việc đẩy mạnh triển khai thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, phải làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ rừng. Chính phủ chủ trương tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng hiện có, đồng thời sẽ phê duyệt và chỉ đạo thực hiện Đề án quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, trong đó tập trung vào các trọng tâm như: xác định rõ chủ rừng, cơ chế quản lý, bảo vệ và chính sách hưởng lợi cụ thể đối với từng loại rừng (rừng đặc dụng, phòng hộ và rừng sản xuất), gắn với việc thực hiện các chính sách xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ để người làm nghề rừng có cuộc sống ổn định và từng bước được cải thiện. Những nơi có điều kiện có thể giao khoán bảo vệ rừng cho lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn; có chính sách khuyến khích sử dụng các vật liệu thay thế gỗ rừng tự nhiên để giảm áp lực phá rừng; yêu cầu Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng công an và kiểm lâm có phương án cụ thể kiên quyết xử lý các tổ chức, các đường dây, băng nhóm phá rừng. Tăng cường kiểm tra xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, bao gồm cả việc tiêu thụ, chế biến gỗ không rõ nguồn gốc; chấn chỉnh lại các Ban chỉ đạo, Ban quản lý liên quan đến phát triển và bảo vệ rừng; kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực cho hệ thống kiểm lâm các cấp.

Cùng với việc rà soát, cập nhật và triển khai xây dựng các nhà máy thuỷ điện theo quy hoạch, từ năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 285 quy định thẩm quyền phê duyệt Quy trình vận hành đối với các hồ chứa thuỷ điện trong đó có yêu cầu cắt giảm lũ đối với những hồ lớn[14]. Việc phê duyệt Quy trình vận hành cho những hồ chứa này đã được thực hiện khi công trình đưa vào sử dụng, qua thực tế các mùa mưa lũ phải tiếp tục rà soát để có điều chỉnh bổ sung cho phù hợp, bảo đảm vận hành an toàn công trình và cắt giảm lũ có hiệu quả cho hạ lưu. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020” trong đó có “Đề án Xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông lớn, quan trọng”. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy trình vận hành hệ thống hồ chứa trên sông Đà và sông Lô và đã được sử dụng để vận hành các hồ chứa thuỷ điện Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà và đang mở rộng quy trình vận hành liên hồ này khi thuỷ điện Sơn La, Lai Châu đi vào hoạt động; đang chỉ đạo khẩn trương xây dựng Quy trình vận hành liên hồ cho các lưu vực sông khác còn lại trên địa bàn cả nước, trong đó có lưu vực các sông trên địa bàn miền Trung và Tây Nguyên; tổ chức kiểm tra việc xây dựng, ban hành quy trình và tổ chức vận hành các hồ chứa trên địa bàn cả nước.

Từ đầu năm đến nay, mặc dù chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, nhưng thiệt hại vẫn còn lớn cả về người và tài sản[15]. Chính phủ cùng các địa phương và xã hội đã kịp thời hỗ trợ, cứu trợ khẩn cấp cho nhân dân vùng bị thiên tai. Yêu cầu các Bộ, ngành và các địa phương liên quan tiếp tục tập trung chỉ đạo khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống và sản xuất, đẩy mạnh sản xuất vụ đông, làm tốt vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, không để người dân nào bị đói. Thiên tai bão, lũ lụt sẽ còn diễn biến phức tạp, yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tiếp tục chủ động làm tốt công tác phòng chống. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo cán bộ để nâng cao năng lực, làm tốt hơn nữa công tác dự báo khí tượng thuỷ văn để góp phần tích cực, có hiệu quả vào công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Trên cơ sở sơ kết công tác phòng chống thiên tai vừa qua, tiếp tục đúc rút kinh nghiệm, bổ sung thêm những giải pháp thiết thực để phòng chống chủ động hơn, hiệu quả và bền vững hơn, phấn đấu giảm thiểu tối đa thiệt hại.

Biến đổi khí hậu là một trong những đe doạ và là thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21, tác động nghiêm trọng đến môi trường sống và sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu. Ý thức được vấn đề nghiêm trọng này, trong nhiều năm qua, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo xây dựng và thực hiện các phương án ứng phó[16]. Gần đây, khi Việt Nam được dự báo là một trong số ít quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực và xây dựng kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó có hiệu quả cho từng giai đoạn cả trong ngắn hạn và dài hạn, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước; tận dụng các cơ hội để phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp và tích cực tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. Chương trình này đã đề ra 8 mục tiêu cụ thể với 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, cơ chế tài chính và những vấn đề về tổ chức thực hiện, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các Bộ ngành, địa phương và các cơ quan liên quan về giám sát đánh giá thực hiện Chương trình (nội dung cụ thể của Chương trình đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng).

Sau gần 1 năm, Chương trình đã được triển khai tích cực, đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia do Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban, Ban chủ nhiệm và Văn phòng thường trực của Chương trình. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hướng dẫn các Bộ ngành và địa phương đánh giá tác động, xây dựng kế hoạch hành động ứng phó. Yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tiếp tục quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt những nội dung của Chương trình trên cơ sở kịch bản đã công bố và sẽ tiếp tục được cập nhật[17]. Cùng với các cố gắng trong nước, Chính phủ chủ trương đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Đến nay, cộng đồng quốc tế đã cam kết hoặc đang xem xét phê duyệt danh mục các chương trình, dự án hỗ trợ cho nước ta ứng phó với biến đổi khí hậu với tổng số tiền gần 3 tỷ USD đến năm 2015 (bao gồm viện trợ không hoàn lại và vay ưu đãi có kèm theo hỗ trợ kỹ thuật). Tháng 12 này, Hội nghị các bên của Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP15) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto của Công ước (CMP5) sẽ được tổ chức tại Cô-pen-ha-gen, Đan Mạch. Việt Nam sẽ tham dự hội nghị này để thể hiện quyết tâm phối hợp hành động cùng thế giới ứng phó với biến đổi khí hậu; ủng hộ việc khẳng định Công ước Khí hậu và Nghị định thư Kyoto tiếp tục là các văn kiện pháp lý cơ bản cho cộng đồng quốc tế trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu; việc thực hiện Công ước và Nghị định thư Kyoto là trách nhiệm chung của các nước phát triển, nhưng tôn trọng nguyên tắc có phân biệt và năng lực cụ thể của từng quốc gia; các nước phát triển phải chịu trách nhiệm về lượng khí nhà kính phát thải của mình trong quá khứ và phải đóng vai trò tiên phong trong việc giảm phát thải khí nhà kính định lượng thông qua cam kết chỉ tiêu cắt giảm với lộ trình tích cực[18], đồng thời phải có trách nhiệm hỗ trợ các nước đang phát triển và kém phát triển về tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu. Cộng đồng quốc tế cần có một tổ chức điều phối chung và cần phải xây dựng một chương trình hỗ trợ đặc biệt cho các nước đang phát triển và kém phát triển chịu nhiều tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng. Kêu gọi các Bên tham gia Công ước và Nghị định thư Kyoto tăng cường hợp tác trong việc khắc phục hậu quả do biến đổi khí hậu và thiên tai gây ra, bao gồm cả các biện pháp tìm kiếm cứu nạn và đối phó với nước biển dâng. Với tư cách là quốc gia cung cấp khoảng 1/5 lượng lương thực xuất khẩu trên thế giới, đồng thời cũng là một trong số ít quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế tiếp tục trợ giúp Việt Nam nhiều hơn nữa để ứng phó có hiệu quả vấn đề này, đó cũng chính là góp phần vào bảo đảm an ninh lương thực cho thế giới.

Nhóm vấn đề thứ ba

LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Thực tiễn và kinh nghiệm chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện những năm vừa qua, đặc biệt là trong 2 năm đầy khó khăn 2008 – 2009 cho thấy, cùng với những cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, cần phải có sự chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện quyết liệt, nhạy bén và kịp thời. Mặt khác, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội cũng đang đặt ra đòi hỏi bức xúc là phải không ngừng nâng cao năng lực chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện để bảo đảm hiệu lực hiệu quả trong quản lý nhà nước. Nhiều đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri đã chất vấn về những yếu kém của Chính phủ và chính quyền các cấp trong lĩnh vực này. Chính phủ xin nghiêm túc tiếp thu các ý kiến xác đáng và xin trình bày thêm mấy vấn đề sau đây:

Chúng ta triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2010 trong bối cảnh có những thuận lợi cơ bản nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức rất lớn. Kinh tế thế giới tuy đã có chuyển biến tích cực hơn nhưng tín hiệu phục hồi vẫn còn yếu, nhất là ở những thị trường xuất khẩu lớn của ta; toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng làm cho tính bất định và độ rủi ro tăng lên. Vì vậy, chỉ đạo điều hành càng có vai trò hết sức quan trọng. Phải theo sát diễn biến của tình hình, cập nhật thông tin, nâng cao năng lực dự báo để có phản ứng chính sách phù hợp, kịp thời và linh hoạt; tập trung sức chỉ đạo tổ chức thực hiện, khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp; tăng cường việc kiểm tra, sâu sát thực tế, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc, xử lý phù hợp những vấn đề mới nẩy sinh để thực hiện có kết quả cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, tạo sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt công tác và trên từng công việc cụ thể. Với tinh thần đó, phải tập trung làm tốt các việc sau đây:

– Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch và ngân sách nhà nước năm 2010, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, quy định rõ từng nhiệm vụ, thời gian và phân công người chịu trách nhiệm thực hiện từng phần việc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; đưa vào nền nếp việc kiểm điểm tiến độ và kết quả thực hiện chương trình công tác đã đề ra; hàng tháng, hàng quý có kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện và báo cáo đầy đủ, nghiêm túc theo quy định.

– Rà soát, đánh giá kết quả việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển các ngành, các vùng đến năm 2010; xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển cho giai đoạn tới theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, gắn với việc xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 và kế hoạch 5 năm 2011 – 2015.

– Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các thể chế, chính sách và đơn giản hoá thủ tục hành chính. Kiên quyết cắt giảm 30 – 40% quy định về thủ tục hành chính hiện hành. Triển khai nhân rộng những mô hình chuẩn về giải quyết thủ tục hành chính. Phải tạo bước chuyển biến thật sự về kỷ luật, kỷ cương trong toàn bộ hệ thống chính trị, trong hệ thống chính quyền các cấp. Tăng cường sự phối hợp công tác giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Đoàn thể ở các cấp, từ Trung ương đến cơ sở, trước hết là phối hợp tốt giữa các bộ và cơ quan của Chính phủ, nêu cao ý thức cộng đồng trách nhiệm đồng thời phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xử lý công việc. Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ. Thực hiện đồng bộ và kết hợp chặt chẽ việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý nhà nước với việc chuẩn bị nhân sự, tổ chức tốt Đại hội Đảng bộ và qua đó củng cố, kiện toàn chính quyền các cấp.

– Cải tiến cách làm việc của cấp trên với cấp dưới, giảm nghi lễ, hình thức; thường xuyên kiểm tra để nắm chắc tình hình, lắng nghe ý kiến thực của cơ sở và của dân để có giải pháp điều hành đúng. Chính phủ và lãnh đạo các bộ, ngành, chính quyền địa phương tiếp tục phát huy các hình thức tiếp xúc, đối thoại và quan tâm chỉ đạo giải quyết những kiến nghị hợp lý của các doanh nghiệp và của người dân. Thực hiện tốt Luật Khiếu nại, tố cáo, giải quyết cơ bản các vụ việc tồn đọng, chủ động xử lý những vấn đề mới phát sinh từ cơ sở, không để tích tụ thành "điểm nóng".

– Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, đề cao vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ và cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước phải chủ động thông tin đầy đủ, kịp thời, đồng thời tăng cường việc trao đổi, tiếp nhận thông tin phản hồi từ nhân dân, doanh nghiệp về các cơ chế, chính sách, đặc biệt là các chính sách về kích thích kinh tế, phục hồi tăng trưởng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, các cơ chế chính sách gắn liền với cuộc sống của dân và hoạt động của doanh nghiệp.

– Phát huy vai trò quan trọng, tích cực của các phương tiện thông tin đại chúng, khắc phục những hạn chế yếu kém, cùng nhau làm tốt hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao và sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ năm 2010

Kết hợp chặt chẽ các công việc nêu trên với thực hiện tốt cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực thi các biện pháp kiên quyết, đồng bộ và thiết thực chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong từng cơ quan, đơn vị.

Thưa Quốc hội,

Thay mặt Chính phủ, tôi báo cáo giải trình thêm một số vấn đề trên đây mà nhiều vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước quan tâm, chất vấn.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.

Sau đây, tôi xin trực tiếp trả lời các ý kiến chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội./.


[1] Quyết định 131 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh (23/01/2009); Quyết định 443 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất – kinh doanh (4/4/2009); Quyết định 497 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn (17/4/2009); Quyết định 579 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay tại Ngân hàng Chính sách Xã hội (6/5/2009); Quyết định 14 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại (21/01/2009).

[2] Năm 2008, khối doanh nghiệp nhà nước mà nòng cốt là các tập đoàn, tổng công ty, đã đóng góp gần 40% GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu).

[3] Năm 2008, có 45 % trong số 91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%, trong đó 3,3% đơn vị thua lỗ.

[4] Triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo ở 62 huyện nghèo; điều chỉnh chuẩn nghèo; chất lượng đào tạo đại học; đào tạo nghề; y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, tình trạng quá tải ở bệnh viện, thủ tục và chất lượng khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế; ô nhiễm môi trường; tình trạng phá rừng vẫn còn nghiêm trọng; xây dựng thuỷ điện và vận hành các hồ chứa; phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai; ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; xây dựng nông thôn mới; ùn tắc và tai nạn giao thông; úng ngập ở một số thành phố lớn; khiếu kiện đông người; phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; chuyển đối đất lúa sang đất phi nông nghiệp; thu hồi đất và tái định cư; đầu tư cho nghiên cứu khoa học kém hiệu quả; tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại; quản lý báo chí và internet; giữ gìn bản sắc dân tộc…

[5] Sau gần 1 năm, đã cơ bản hoàn thành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện; 62/62 huyện nghèo đã xây dựng xong Đề án giảm nghèo và được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Chính phủ đã ứng ngân sách để triển khai thực hiện bước đầu; 41 tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước và nhiều doanh nghiệp khác đã nhận hỗ trợ, giúp đỡ cho 62 huyện nghèo với tổng số tiền cam kết trên 1.600 tỷ đồng. Nhiều chính sách hỗ trợ đã được triển khai và có kết quả như giao khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng; sơ tuyển và đào tạo để xuất khẩu lao động; luân chuyển, tăng cường cán bộ cho các xã thuộc 62 huyện nghèo; giúp xây dựng nhà ở cho hộ nghèo. Đã khởi công xây dựng 52,3/77,3 nghìn căn nhà, trong đó đã hoàn thành 14,8 nghìn căn bàn giao cho hộ nghèo. Dự kiến đến trước Tết Canh Dần cơ bản hoàn thành việc xoá nhà tạm ở 62 huyện nghèo.

[6] Chuẩn nghèo ban hành năm 2005 được áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010. Theo chuẩn này thì hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân dưới 200 nghìn đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và dưới 260 nghìn đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị.

[7] Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2008 đạt 37%; năm 2009 ước đạt 38,5%; lao động nông thôn được đào tạo đạt 18,86%.

Năm 2009, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 51,7%; công nghiệp và xây dựng 21,5% dịch vụ 26,8%.

Năm 2006: số lao động được giải quyết việc làm đạt 1,65 triệu người; năm 2007: 1,69 triệu; năm 2008: 1,62 triệu; năm 2009 ước đạt 1,51 triệu người.

[8] Từ năm 1998 đến nay (12 năm) có 33 trường đại học thành lập mới, 54 trường đại học được nâng cấp từ trường cao đẳng. Có khoảng 20% trường đại học, cao đẳng (12 trường) được thành lập mới hoặc nâng cấp từ năm 2005 trở lại đây chưa thực hiện đủ các cam kết như trong Đề án khả thi thành lập trường và mở ngành tuyển sinh, chưa chuẩn bị đồng bộ 4 yếu tố về mặt bằng xây dựng, đội ngũ giảng viên, vốn đầu tư và các điều kiện bảo đảm chất lượng khác.

[9] Quy mô dân số/1 trường đại học của nước ta là 572 nghìn người. Trong khi đó ở Malaysia 415 nghìn, Philipines 40 nghìn, Thái Lan 404 nghìn, Singapore 374 nghìn, Hàn Quốc 115 nghìn, Nhật Bản 143 nghìn, Trung Quốc 588 nghìn, Anh 466 nghìn, Pháp 271 nghìn, Đức 551 nghìn, Úc 157 nghìn, Canada 389 nghìn, Mỹ 208 nghìn, Nga 327 nghìn;

Năm 2009 tỷ lệ sinh viên/vạn dân của Việt Nam đạt 195 sinh viên, trong khi đó năm 2005 tỷ lệ này của một số nước như sau: Thái Lan là 374 sinh viên, Chi Lê là 407 sinh viên, Nhật Bản là 316 sinh viên, Pháp là 359 sinh viên, Anh là 380 sinh viên, Úc là 504 sinh viên, Hàn Quốc là 674 sinh viên, Hung-ga-ri là 432 sinh viên, Mỹ là 576 sinh viên;

Theo số liệu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Hà Nội, năm 2005 số lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên của Việt Nam chiếm 6,3% số lao động đang làm việc, trong khi đó tỷ lệ này của Ma-lay-si-a là 20,1%, Thái Lan là 14,2%, của Hàn Quốc là 33,6%, của In-đô-nê-xi-a là 6,5%.

[10] Tỷ lệ 1 giảng viên đảm nhận tối đa số sinh viên khối kỹ thuật – công nghệ là 20, khối kinh tế – quản trị kinh doanh là 25, khối ngành Nghệ thuật, Thể dục Thể thao là 15…

[11] Số lượng xã có quy hoạch điểm dân cư nông thôn mới chiếm khoảng 23% tổng số xã.

[12] So với năm 2008, năm 2009 giảm 37,7% về số vụ ngộ độc thực phẩm, giảm 34,4% số người bị ngộ độc, giảm 42,6% số người bị tử vong; số vụ ngộ độc lớn giảm 15,5%.

[13] 9 tháng đầu năm 2009, cả nước đã phát hiện 30.996 vụ vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, giảm 7,3% so cùng kỳ năm 2008; trong đó 3.951 vụ phá rừng trái pháp luật, làm mất 1.813 ha; 20.621 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác, vận chuyển, chế biến gỗ và lâm sản; 383 vụ vi phạm về phòng cháy chữa cháy rừng, làm thiệt hại 1.538 ha; 34 vụ chống người thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng…

[14] Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy trình vận hành đối với các hồ chứa thuỷ điện có tầm quan trọng đặc biệt. Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan thẩm định và phê duyệt Quy trình vận hành đối với các hồ chứa thuỷ điện có quy mô dung tích 1 triệu m3 trở lên. Ủy ban nhân dân tỉnh thẩm định, phê duyệt Quy trình vận hành đối với các hồ chứa thuỷ điện trên địa bàn có dung tích nhỏ hơn 1 triệu m3.

[15] Tính đến ngày 10/11/2009, thiên tai làm 453 người chết và mất tích, tổng thiệt hại khoảng 23 nghìn tỷ đồng.

[16] Chính phủ đã phê chuẩn Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (11/1994 – Công ước Khí hậu) và Nghị định thư Kyoto (9/2002) của Công ước và đã chỉ đạo các Bộ ngành liên quan triển khai thực hiện Công ước Khí hậu và Nghị đinh thư Kyoto.

[17] Theo kịch bản, khí hậu trên tất cả các vùng của Việt Nam sẽ có nhiều biến đổi. Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta tăng khoảng 2,3 độ C; tổng lượng mưa năm và lượng mưa vào mùa mưa tăng trong khi lượng mưa mùa khô lại bị giảm. Mực nước biển dâng khoảng 0,75 – 1,0 m so với mực nước trung bình thời kỳ 1980 – 1999. Kịch bản này vẫn tiếp tục được cập nhật hoàn chỉnh.

Theo kịch bản 0,75m thì đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập 19% diện tích, thành phố Hồ Chí Minh ngập 10% diện tích, các khu vực khác như: dải ven biển miền Trung ngập 0,83% diện tích; đồng bằng Sông Hồng và tỉnh Quảng Ninh ngập 1,85% diện tích. Theo kịch bản 1,0 m thì đồng bằng sông Cửu Long ngập 38% diện tích, thành phố Hồ Chí Minh ngập 23% diện tích, các khu vực khác như: dải ven biển miền Trung ngập 1,04% diện tích; đồng bằng Sông Hồng và tỉnh Quảng Ninh ngập 7,18% diện tích.

[18] Cần giảm ít nhất 40% lượng khí nhà kính phát thải so với mức năm 1990 vào năm 2020 và giảm hơn 80% vào năm 2050.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ QUỐC HỘI NƯƠC CHXHCN VIỆT NAM

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: