CÔNG VĂN SỐ 4347/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC TRIỂN KHAI NGHỊ ĐỊNH SỐ 98/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUI ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC CHO DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, CƠ QUAN, TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI, TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ CÁ NHÂN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Kính gửi:

– Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để triển khai thực hiện Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 98/2009/NĐ-CP); Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện một số công việc sau:

1. Tổ chức phổ biến trực tiếp đến nhà đầu tư các quy định phải thực hiện tại Nghị định số 98/2009/NĐ-CP; phối hợp với Liên đoàn Lao động địa phương đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện ở các doanh nghiệp trên địa bàn.

2. Tuyên truyền, giải thích trên các phương tiện thông tin truyền thông (đài truyền hình, đài phát thanh, các báo) về nội dung của Nghị định số 98/2009/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan quy định về quyền, lợi ích đối với người lao động mà người sử dụng lao động phải thực hiện.

3. Khi triển khai thực hiện cần nắm vững và giải thích thống nhất cho doanh nghiệp một số nội dung sau:

a) Người lao động hưởng mức lương tối thiểu theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP là người lao động làm công việc giản đơn nhất không phải qua học nghề trong điều kiện lao động bình thường.

b) Người lao động đã qua học nghề hưởng lương theo quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP bao gồm:

– Những người đã qua học nghề và được cấp chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học nghề theo quy định tại Nghị định số 90/CP ngày 24 tháng 11 năm 1993 quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng, chứng chỉ về giáo dục và đào tạo;

– Những người đã qua học nghề và được cấp chứng chỉ nghề, bằng nghề theo quy định tại Luật Giáo dục năm 1998 và Luật Giáo dục năm 2005;

– Những người đã qua học nghề và được cấp chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề quy định tại Luật Dạy nghề;

– Những người đã qua học nghề và được cấp văn bằng, chứng chỉ nghề của nước ngoài;

– Những người làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề và được doanh nghiệp tổ chức đào tạo nghề hoặc tự học nghề được doanh nghiệp kiểm tra phù hợp với yêu cầu công việc.

c) Đối với các doanh nghiệp đang trả lương cho người lao động làm công việc giản đơn nhất không phải qua học nghề trong điều kiện lao động bình thường thấp hơn mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 1 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP thì phải điều chỉnh lại cho bằng mức lương tối thiểu vùng quy định.

d) Đối với các doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn có sự dịch chuyển vùng quy định tại Nghị định số 98/2009/NĐ-CP so với Nghị định số 111/2008/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ thì phải thực hiện theo mức lương tối thiểu vùng mới quy định tại Nghị định số 98/2009/NĐ-CP.

đ) Doanh nghiệp có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn đó.

e) Việc áp dụng mức lương đối với lao động đã qua đào tạo nghề cụ thể như sau:

– Đối với người lao động đã qua học nghề mà người sử dụng lao động đang trả lương theo quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 111/2008/NĐ-CP hoặc đang trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP hoặc người lao động sau khi thử việc đã được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 01 năm 2010 thì kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 trở đi phải điều chỉnh theo quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP (trả cao hơn 7% so với mức lương tối thiểu quy định tại Điều 1 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP).

– Đối với người lao động đã qua học nghề được tuyển dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 trở đi thì sau khi thử việc theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Lao động và Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động phải trả cao hơn 7% so với mức lương tối thiểu quy định tại Điều 1 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP.

g) Khi áp dụng các quy định tại Nghị định số 98/2009/NĐ-CP nêu trên thì người sử dụng lao động không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ đã được pháp luật lao động quy định như: tiền lương trả khi làm thêm giờ; tiền lương làm việc vào ban đêm; tiền lương hoặc phụ cấp làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại; chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại.

Đối với các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.

h) Đối với các mức lương được thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc trong thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng theo quy định tại Điều 57 Bộ luật Lao động và Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương thì mức điều chỉnh cụ thể do người sử dụng lao động và người lao động hoặc tổ chức công đoàn đại diện cho người lao động trong doanh nghiệp thỏa thuận căn cứ vào mặt bằng tiền công trên thị trường, giá cả sinh hoạt và phải bảo đảm quan hệ hợp lý giữa người mới được tuyển dụng và người có thâm niên làm việc tại doanh nghiệp.

4. Để bảo đảm quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật lao động, yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương phải giám sát, kiểm tra, đôn đốc doanh nghiệp xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, phụ cấp lương và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương; thực hiện ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, xây dựng định mức lao động, thực hiện chế độ trả lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ nâng bậc lương, chế độ tiền thưởng, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật lao động.

5. Đầu quý II năm 2010, đề nghị tổng hợp, báo cáo tình hình triển khai thực hiện các công việc trên về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong quá trình thực hiện quy định tại các Nghị định nếu phát sinh vướng mắc mà Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không giải quyết được thì báo cáo ngay để Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xử lý kịp thời./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Minh Huân

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: