Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NHỮNG THỜI KỲ BIẾN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHO TƯƠNG LAI

PHẠM MINH CHÍNH (Bộ Công an) – TS. VƯƠNG QUAN HOÀNG (Đại học Tổng hợp Bruxelles) – THS. TRẦN TRÍ DŨNG (Chuyên gia Hệ thống dữ liệu và phân tích tài chính)

Cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 của thế kỷ XX đã góp thêm động lực cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, được khởi xướng từ mốc thời gian 1986 bằng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Từ đó đến nay, nhìn chung nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng cũng có những đợt suy giảm gợi lên tính chất chu kỳ kinh tế (xem sơ đồ 1).

Sơ đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế Việt Nam từ 1984 đến 2008

Chính những đợt suy giảm đó đã làm xuất hiện nhiều lo ngại, thậm chí có ý kiến cực đoan đã liên tưởng tới khả năng một kịch bản tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997 sẽ lặp lại với Việt Nam trong tương lai gần. Đồng thời, đã xuất hiện một số quan ngại về kết cục tương đồng của các biến động kinh tế, đặc biệt là giữa hai thời kỳ suy giảm tốc độ tăng trưởng 1997 – 1998 và 2007 – 2008.

Để tìm câu trả lời, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích cụ thể, như sau: Một số khía cạnh so sánh cơ bản, và Luận điểm cốt lõi và mấy vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

1.1. Bối cảnh của những biến động kinh tế

Những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề vĩ mô hàng đầu của Việt Nam là xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp cận với dòng chảy của khu vực và quốc tế. Các biến động kinh tế tại Việt Nam thời kỳ 1997 – 1998 chịu ảnh hưởng lan truyền từ khủng hoảng tài chính-tiền tệ của khu vực Đông Á, với tư cách là một thành viên của kinh tế khu vực.

Nhưng một thập niên sau, 2007 – 2008, lạm phát tăng và sự suy giảm tăng trưởng diễn ra hầu như cùng lúc với khủng hoảng tín dụng toàn cầu, bắt nguồn từ “vấn nạn” nợ dưới chuẩn nhà ở tại Hoa Kỳ và nhanh chóng tác động tiêu cực lên các hệ thống tài chính quốc tế, trong đó có Việt Nam.

1.2. Tăng trưởng và lạm phát

Đầu thập kỷ 1990, mức lạm phát cao được các nhà kinh tế chấp nhận như một hệ quả tất yếu của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Mặc dù lạm phát thời kỳ này cũng ở mức hai con số, nhưng những biện pháp chống lạm phát hiệu quả đã kéo chỉ số giá tiêu dùng từ 67,5% (năm 1991) xuống còn 17,6% (năm 1992).

Trong hai năm 1997 – 1998, mức tăng lên hàng năm của chỉ số giá tiêu dùng không vượt quá một con số. Chênh lệch giá tiêu dùng giữa các tháng trong năm không nhiều, có tháng lên tháng xuống. Sau Tết, chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm xuống, vào tháng ba của các năm 1996 và 1997 đều giảm so với tháng trước, lần lượt là 2,3% và 3% (1).

Trong giai đoạn 1992-1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao – bình quân gần 9% mỗi năm. Động lực tăng trưởng trước tiên gắn liền với mức đầu tư và tăng trưởng công nghiệp cao, được hỗ trợ mạnh mẽ từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tới 2 tỉ USD mỗi năm, đã đóng góp từ 5-10% GDP hàng năm.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 2 tỉ USD năm 1991 lên gấp hơn 4 lần sau 6 năm. Tuy vậy, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á cũng làm tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại. Tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người 6% – 7% trong những năm 1990 – 1997 đã không thể tiếp tục duy trì và giảm xuống còn 4% vào giai đoạn 1998 – 1999 (2). Khó khăn tài chính của khu vực làm giảm lượng vốn FDI từ các nhà đầu tư láng giềng và khiến nhiều dự án lâm vào trạng thái dở dang. Trị giá xuất khẩu năm 1998 đạt 9,3 tỉ USD (năm 1997 là gần 9,2 tỉ USD), tăng không đáng kể so với năm trước.

Sơ đồ 2: Giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam: 1986-2008

Kể từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ổn định ở mức 7%-8%/năm, nhưng từ năm đó lạm phát cũng liên tục tăng lên. Cuối năm 2007, lạm phát hai con số (12,6%) đã trở lại. Chỉ số giá tiêu dùng của 6 tháng đầu năm 2008 đã tăng 20% so với cùng kỳ năm 2007(3), chỉ số PCI lũy kế tăng trên 20%.

Điều đó khiến các lựa chọn chính sách trở nên khó khăn hơn trong điều kiện ràng buộc giữa ổn định tốc độ tăng trưởng kinh tế với nhiều thay đổi căn bản của hệ thống kinh tế vĩ mô.

Sơ đồ 3: Tăng trưởng GDP thực tế và Lạm phát 1990-2008 (đơn vị: phần trăm)

Lạm phát ở Việt Nam hiện nay, khác với trước đây, có cả yếu tố tăng trưởng cung tiền, có cả biến động giá ngoại sinh cùng đóng góp đáng kể vào mức giá tăng cao. Do đó, tách biệt phần ảnh hưởng của các hiệu ứng mở rộng tiền tệ ở mặt cầu và cú sốc giá ngoại sinh ở mặt cung sẽ rất hữu ích trong việc xác định cụ thể nguyên nhân và giải pháp xử lý lạm phát. Những thành quả phát triển và những khó khăn của nền kinh tế hiện nay đang đặt nhiệm vụ điều hành vĩ mô Việt Nam trong một tình thế phức tạp hơn rất nhiều so với kinh nghiệm giải quyết lạm phát trong quá khứ. Khó khăn chủ yếu của cách tiếp cận này nằm ở việc tập hợp đầy đủ các số liệu thống kê tin cậy ở mức cần thiết.

1.3. Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) ra đời hình thành một kênh huy động nguồn lực mới trong nền kinh tế. Tính đến tháng 6 năm 2008, sau 8 năm hoạt động, quy mô thị trường mở rộng với 299 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ giao dịch trên cả hai sàn giao dịch, 87 công ty chứng khoán, 30 công ty quản lý quỹ và xấp xỉ 300.000 tài khoản đầu tư (trong đó, trên 7.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài).

Những biến động trên TTCK không chỉ tác động giới hạn trong phạm vi các giao dịch tài sản tài chính, mà lan tỏa nhanh chóng, mạnh mẽ sang các thị trường bất động sản và tín dụng. Tâm lý lạc quan vào triển vọng phát triển kinh tế còn cho phép các chủ đầu tư huy động vốn cổ phần và tìm kiếm thặng dư vốn trên cả những dự án mới. Từng làn sóng đầu tư mới dồn về TTCK, nhưng ở giai đoạn sau nguy cơ rủi ro cao hơn do tỷ trọng giao dịch cổ phần trên thị trường phi tập trung (còn gọi là OTC) tăng lên. Đây cũng là đặc điểm rất khác với hoàn cảnh kinh tế của các giai đoạn trước.

1.4. Lãi suất

Trước vận động bất lợi của TTCK và lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008, Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Từ giữa tháng 1-2008, dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Tới giữa năm 2008, NHNN tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm.
Với quy chế điều hành hiện tại, thì trần lãi sut cho vay có thể lên tới 21%/năm. Đặc điểm đáng chú ý của thời gian này là, lãi suất huy động ngắn hạn bằng, thậm chí, cao hơn lãi suất huy động dài hạn. Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ, và không tạo nhiều tác động tới lãi suất. Hiệu lực không thật rõ của các nghiệp vụ thị trường mở vào thời kỳ lạm phát gia tăng cho phép đặt ra giả thiết tồn tại “bẫy thanh khoản” trong hệ thống tín dụng. Nếu đúng vậy, việc điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại kết quả bình ổn thị trường tiền tệ.

Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực, chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm, từ 1997 – 1999. So với giai đoạn này, chính sách tiền tệ trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ với cường độ điều chỉnh mạnh hơn. Mức lãi suất thực dương cho thấy các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác dụng ổn định kinh tế. Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2008. Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao, hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại cũng đang gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản. Điều này có thể là kết quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước, với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính.

1.5. Tỷ giá hối đoái

Trong hai năm 2006 – 2007, tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng đều đặn. Trong vòng 24 tháng, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng từ gần 15.900 VND/USD lên xấp xỉ 16.200 VND/USD, tương đương 1,9% – mức thuận lợi cho môi trường kinh tế vĩ mô. Bốn tháng đầu năm 2008, tỷ giá sụt giảm trên 150 VND/USD, từ 16.100 trong tháng 1-2008 xuống 15.959 vào tháng 4-2008. Đảo chiều bất ngờ của tỷ giá trong hai tháng tiếp theo gây nhiều náo loạn trên thị trường ngoại hối. Trở lại mức 16.000 VND/USD trong tháng 5-2008, tỷ giá tăng thêm 300 VND/USD ở tháng kế tiếp. Như vậy, tốc độ tăng gần tới 2% trong một tháng.

Sơ đồ 4: Biến động tỷ giá: 2006-2008

Thời kỳ 1997 – 1998 cũng ghi nhận ba lần điều chỉnh tỷ giá vào tháng 7-1997 (bình quân 11.690 VND/USD), tháng 2-1998 (bình quân 12.664 VND/USD) và tháng 8-1998 (bình quân 13.715 VND/USD) với kết quả tỷ giá VND/USD giảm khoảng 17%. Mặc dù cùng làm giảm giá đồng Việt Nam nhưng về bản chất, mục tiêu của các lần điều chỉnh này hoàn toàn khác biệt. Giảm giá đồng Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á hướng tới việc tăng cường năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trước các đối thủ cạnh tranh trong khu vực (Phi-lip-pin, Thái Lan, Ma-lay-xi-a, hay Hàn Quốc – đã gần như phá giá động nội tệ của họ). Các động thái về tỷ giá của năm 2008 ưu tiên việc củng cố sự tin tưởng của cộng đồng doanh nghiệp cũng như đa số người dân vào mức độ bền vững của hệ thống tín dụng, ngân hàng và giải quyết nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ của nền kinh tế.

1.6. Dòng vốn nước ngoài

Nỗ lực mở cửa nền kinh tế đã mang lại những kết quả đáng khích lệ trong hoạt động ngoại thương với kim ngạch xuất, nhập khẩu liên tục tăng cao. Năm 2006 đã có 9 mặt hàng đạt doanh thu xuất khẩu trên 1 tỉ USD. Tuy vậy, nhập khẩu luôn cao hơn xuất khẩu và xu hướng gia tăng nhập siêu chưa có dấu hiệu điều chỉnh. Nguồn hình thành dự trữ ngoại hối chủ đạo là các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp tăng mạnh trong vài ba năm trở lại đây. Đóng góp từ nguồn kiều hối vào dự trữ ngoại tệ quốc gia cũng đang tăng lên với trung bình 4 tỉ USD/năm.

Bảng 1: Cán cân thanh toán của Việt Nam: 2004-2007 (đơn vị: tỉ USD)

Trong năm 2007, thâm hụt thương mại tăng gấp 3 lần so với năm trước, tương đương gần 13% GDP. Và khoảng 40% dòng vốn tài chính đổ vào Việt Nam (hơn 21% GDP) đã được sử dụng để bù đắp phần thâm hụt trên tài khoản vãng lai. Trong năm tháng đầu năm 2008, giá trị hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam tăng cao, trên 67% so với cùng kỳ năm 2007. Dù xuất khẩu cũng tăng 27% so với cùng kỳ năm trước và đạt giá trị 23,4 tỉ USD, nhưng mức thâm hụt thương mại của nửa đầu 2008 vẫn là con số lớn: 14,4 tỉ USD( ). Đây là con số phần nào phản ánh về mức cầu ngoại hối.

Sơ đồ 5: Biến động vốn FDI và số dự án đầu tư qua các năm

Xét về mặt cung ngoại hối, các hình thức FDI, ODA, vốn đầu tư gián tiếp vào các thị trường tài sản cùng nhau hình thành dòng vốn nước ngoài chảy vào Việt Nam. Tuy vậy, các loại hình này có sự khác nhau cơ bản về mức độ rủi ro.

Các nguồn vốn FDI và ODA có rất ít khả năng đột ngột đổi hướng. Trong những năm gần đây, vốn FDI ròng của Việt Nam dao động quanh mức 2 tỉ USD. Năm 2007 ghi nhận mức tăng đột biến lượng vốn đầu tư trực tiếp, có lẽ đây là một phản ứng tích cực của việc gia nhập WTO vào đầu năm. Và chỉ trong 7 tháng đầu năm 2008, tổng vốn FDI vào Việt Nam đã đạt 45,28 tỉ USD, vượt xa con số 21,3 tỉ USD của cả năm 2007. Nguồn ODA tương đối ổn định ở mức 1,3 tỉ USD mỗi năm. Vốn đầu tư gián tiếp (FPI) vào các thị trường cổ phần và nợ thì ngược lại, rất dễ thay đổi. Ngay từ nửa cuối 2006, nguồn FPI đã được khuyến khích chuyển vào TTCK Việt Nam khi chỉ số thị trường tăng lên gấp đôi. Trong năm 2007, có tới 10 tỉ USD FPI vào Việt Nam, tương đương 15% GDP.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục xu thế gia tăng và sự hiện diện mạnh mẽ của các khoản đầu tư tài chính gián tiếp là điểm khác biệt nổi trội giữa các giai đoạn 2007-2008 và 1997-1998, 1991-1992. Trong những năm đầu của thập kỷ 1990, qui mô FDI vào Việt Nam ở quanh mức 2 tỉ USD/năm, thấp hơn lượng vốn đăng ký FDI của những năm 1999-2003, sau khủng hoảng tài chính châu Á. Khủng hoảng khu vực năm 1997 ngay lập tức tấn công vào hệ thống tín dụng-ngân hàng và tạo thành làn sóng rút vốn đầu tư ra khỏi châu Á. Những nhà đầu tư lớn vào Việt Nam đến từ các quốc gia láng giềng trong khu vực cũng tức thì lâm vào trạng thái thiếu tiền mặt. Một vài nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn xuất hiện và đã vận hành khá tốt tại Việt Nam. Tuy nhiên, những rào cản hạn chế khả năng chuyển đổi từ tiền đồng sang ngoại tệ và cơ chế hành chính cồng kềnh tại Việt Nam đã tạo lợi thế cạnh tranh cho các nền kinh tế Thái Lan và Hàn Quốc. Số lượng dự án đăng ký mới giảm sút từ 349 năm 1997 xuống còn 285 và 327 trong các năm 1998 và 1999. Nhưng quy mô vốn đầu tư mới thực sự là yếu tố suy giảm mạnh. Năm 1997 có 5,6 tỉ USD FDI đăng ký vào Việt Nam. Con số này chỉ còn 5 tỉ USD trong năm 1998. Và trong hai năm tiếp theo, lượng vốn đăng ký chỉ còn khoảng 50% của năm 1997. Số vốn thực hiện trong ba năm liên tiếp từ 1998 – 2000 dừng ở mức trên 2,3 tỉ USD mỗi năm.

II. Luận điểm cốt lõi và mấy vấn đề cần tiếp tục làm rõ

Biến động kinh tế của những năm 1997 – 1998 và 2007 – 2008 cùng được ghi nhận với các tín hiệu suy giảm tăng trưởng kinh tế, đầu tư và tiêu dùng thu hẹp, kinh doanh khó khăn, tốc độ chậm, cơ hội việc làm sụt giảm, đời sống người dân khó khăn… Tuy vậy, xem xét các vấn đề nền tảng kinh tế vĩ mô cho thấy có những khác biệt về nguồn gốc, mức độ phức tạp và tác động của các giải pháp vĩ mô giữa hai giai đoạn.

Khủng hoảng tài chính-tiền tệ Đông Á năm 1997 là nguyên nhân trực tiếp khiến các đối tác đến từ những quốc gia trong khu vực từ bỏ hoặc tạm dừng triển khai hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Mất đi nguồn lực đóng góp 5% – 10% GDP, nền kinh tế khó tránh khỏi tình trạng suy thoái. Giai đoạn 2007-2008, với nhiều vấn đề nảy sinh đồng thời như sự sụt giảm trên TTCK, năng lực thanh khoản kém của hệ thống ngân hàng thương mại, tiền đồng Việt Nam mất giá nhanh trên thị trường ngoại hối, và mức giá cả tăng cao… rất khó xác định đâu là nguyên nhân căn bản của những khó khăn kinh tế của thời kỳ này.

2.1. Khác biệt đặc trưng

Từng giai đoạn phát triển kinh tế có các đặc trưng riêng. Liệu pháp vĩ mô được triển khai để khắc phục khủng hoảng và phục hồi tăng trưởng bởi vậy có nhiều khác biệt. Giai đoạn 1992-1997, tình trạng giảm phát và mức lãi suất dương trong 5 năm liên tiếp tạo điều kiện để Chính phủ mở rộng chính sách tiền tệ. Lãi suất được cắt giảm nhằm khuyến khích đầu tư và tiêu dùng. Tiền Đồng được giảm giá đều đặn tới 17% trong 12 tháng nhằm hỗ trợ xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh cho hàng hóa nội địa và tính hấp dẫn của các cơ hội kinh doanh tại Việt Nam.

Giai đoạn 1997-1998, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã gây gián đoạn dòng vốn đầu tư nước ngoài, hàng loạt dự án đầu tư chậm tiến độ, hoặc buộc phải dừng không thời hạn. Tuy vậy, phần đông đối tác Việt Nam tham gia các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đều đóng góp bằng đất đai, nhà xưởng, hay đội ngũ nhân lực. Do vậy, ngưng trệ các dự án đầu tư mới chỉ đồng nghĩa với việc các tài sản này chưa tham gia vào quá trình tạo ra giá trị mới chứ không tạo áp lực tài chính đáng kể nào lên cỗ máy sản xuất kinh doanh.

Ngược lại, giai đoạn 2007-2008, chỉ số giá tiêu dùng không ngừng tăng lên gây áp lực cho Ngân hàng nhà nước. Theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt, gần như toàn bộ công cụ điều chỉnh tiền tệ đã được huy động. Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cơ bản, biên độ lãi suất kinh doanh cùng được điều chỉnh tăng. Các nghiệp vụ thị trường mở cũng được áp dụng trong điều chỉnh cung tiền nhưng không mang lại kết quả như trông đợi.

Quy mô của doanh nghiệp tại một thập kỷ trước (1997-1998) cũng còn rất khiêm tốn, nhờ thế mà xoay xở nhanh nhẹn trước khó khăn. Kết quả khảo sát 12 doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị thế đứng đầu trong mỗi ngành cho thấy, nhu cầu vốn và quy mô tài sản dừng ở mức một vài triệu USD. Bình quân nhu cầu vốn là 1,3 triệu USD, quy mô tài sản là 2,1 triệu USD. Sau 10 năm, những doanh nghiệp có tài sản hàng trăm tỉ đồng, những dự án đầu tư nhiều triệu USD đã không còn là điều ngạc nghiên.

2.2. Biến động kinh tế 2007 – 2008 phức tạp hơn

Tính phức tạp của biến động kinh tế năm 2007 – 2008 càng tăng lên khi quy mô hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã tăng từ cấp khu vực lên toàn cầu. Khủng hoảng nợ dưới chuẩn bất động sản tại Hoa Kỳ chỉ mới gửi một tín hiệu từ xa tới Việt Nam, nhưng các cam kết tự do hóa hoạt động thương mại, dịch vụ, đầu tư thì rất cụ thể và trực tiếp. Không chỉ tăng lên về số lượng các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế Việt Nam, các tổ chức và nhóm cá nhân cũng có hình thức đa dạng và phương thức tương tác tinh vi hơn. Tính phức tạp cao cũng là một thách thức cho những nỗ lực đưa nền kinh tế trở lại chu kỳ ổn định và phát triển.

2.3. Quan sát cẩn trọng

Cỗ máy kinh tế thế giới đang chuyển động với vận tốc cao. Các tác nhân và chỉ số của hệ thống kinh tế Việt Nam cũng vận động liên tục. Quan sát cẩn trọng và tập trung vào những điểm cốt yếu của hệ thống kinh tế là việc làm cần thiết.

Giai đoạn 2005 – 2007, Trung Quốc cũng từng đối mặt với những vấn đề kinh tế vĩ mô như đồng nội tệ giảm giá, lạm phát tăng cao… nhưng đã xử lý được nhờ tiềm lực tài chính mạnh và các biện pháp cứng rắn của Chính phủ. Đặc biệt, kinh tế Trung Quốc đã vượt lên rất nhanh kể từ khi loại bớt những ngân hàng nhỏ hoạt động kém hiệu quả, từ bỏ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung và tiến đến phương thức điều hành vĩ mô của các nền kinh tế phát triển.

Trong thời gian tới, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đối diện với thực tế lãi suất tăng cao, chi phí đầu vào đắt đỏ, và với năng lực điều hành, quy hoạch và sử dụng nguồn lực còn hạn chế, chúng ta sẽ buc phải chấp nhận sự “biến mất” những đơn vị kinh doanh kém hiệu quả. Một bộ luật phá sản tốt phải vừa giúp đẩy nhanh quá trình thanh lọc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình bắt đầu một hoạt động kinh doanh mới. Định kiến xã hội với tầng lớp doanh nhân nói chung, và các doanh nhân gặp thất bại nói riêng, cần được xóa bỏ. Cộng đồng cổ vũ các ý tưởng kinh doanh đúng pháp luật, tạo ra giá trị cho xã hội và phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng.

2.4. Siêu quyền lực của hệ thống ngân hàng

Lịch sử kinh tế Việt Nam ghi nhận hệ thống ngân hàng luôn nắm giữ siêu quyền lực. Ngay cả khi TTCK đã ra đời và hoạt động sôi nổi, vị thế này vẫn không thay đổi. Nguồn tín dụng từ hệ thống ngân hàng là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của TTCK. Các chính sách thắt chặt nguồn tín dụng cho hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán luôn nhận được sự phản đối mạnh mẽ từ mọi thành phần của thị trường này. “Sức khỏe” của hệ thống ngân hàng, do vậy, càng trở nên quan trọng bởi nó tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của cộng đồng doanh nghiệp.

Việc giám sát chặt chẽ hoạt động và hiệu quả vận hành của hệ thống tín dụng-ngân hàng cần được ưu tiên hàng đầu. Tăng năng lực quản trị rủi ro, xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng, ứng dụng công nghệ thông tin cốt lõi tiên tiến… hướng tới vận hành tối ưu tại các ngân hàng là những khái niệm thường được cổ vũ. Tuy vậy, trong bối cảnh hiện tại, nhiệm vụ trước tiên và trên hết của các ngân hàng là tồn tại và vượt qua thời kỳ khó khăn tín dụng, thanh khoản. Theo dõi sát sao từ các cơ quan quản lý, các bên có quyền lợi liên quan giúp các ngân hàng kịp thời điều chỉnh, đồng thời, hạn chế khả năng lan truyền tác động khi buộc phải loại bỏ một mắt xích của dây chuyền.

2.5. Vai trò của thông tin và truyền thông

Hạ tầng công nghệ và truyền thông của năm 2007 – 2008 vượt xa thời kỳ 1997 – 1998. Nhu cầu hiểu biết của công chúng cũng tăng lên rõ rệt. Chất lượng thông tin càng được coi trọng khi lượng thông tin trở nên quá lớn. Ông Ri-đen (Riedel – Giáo sư của Trường ĐHTH Johns Hopkins) cho rằng, thiếu nghiên cứu và bất đối xứng thông tin là một thứ thuế có hại, người trả là phần lớn cư dân, nhưng người nhận không phải là ngân sách chính phủ mà là túi tiền nhà đầu cơ. Bảo đảm khả năng bình đẳng trong tiếp cận, tính đầy đủ và khoa học của thông tin là yêu cầu và nhiệm vụ của hệ thống truyền thông và giới báo chí.
Thông tin và hiểu biết tốt chỉ có thể được tạo ra từ năng lực nghiên cứu và dự báo các vấn đề kinh tế. Trong hệ thống kinh tế-xã hội Việt Nam, ý kiến phát ngôn từ những cơ quan quản lý đầu ngành luôn là tín hiệu quan trọng bậc nhất đối với thị trường. Tuy vậy, khả năng cung cấp các phân tích và nhận định thuyết phục, đảm bảo yếu tố khoa học ở những đầu mối này hiện nay còn yếu. Đây là vấn đề cần được khắc phục càng sớm càng tốt.

2.6. Xây dựng năng lực nghiên cứu và dự báo

Tại các nền kinh tế phát triển, những cơ quan quản lý cấp cao của thị trường như ngân hàng trung ương, ủy ban chứng khoán xác định ưu tiên cao nhất cho chức năng nghiên cứu và cung cấp thông tin. Đang trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế thị trường, cơ quan quản lý của Việt Nam vẫn đặt nặng nhiệm vụ tác nghiệp bằng mệnh lệnh và giám sát quá trình triển khai. Cách làm này tốn nhiều nguồn lực và không đem lại hiệu quả.
Trên thị trường, các tổ chức và nhóm dân cư tương tác với nhau qua cơ chế cung-cầu-giá. Chức năng của cơ quan quản lý là hỗ trợ tốt nhất quá trình tương tác này thông qua việc cung cấp thông tin có chất lượng (tin cậy, chuẩn xác và đầy đủ) và truyền thông kịp thời. Các tác nhân của thị trường, chịu sự điều khiển của động lực kinh tế, sẽ tự ra quyết định được coi là hợp lý nhất.

Có thể nói, những biến động kinh tế quy mô và tại thời điểm này còn đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức điều hành từ kiểm soát sang nghiên cứu-thông tin-thu hút lực lượng thị trường. Hệ thống nghiên cứu-truyền thông tốt sẽ giải quyết đáng kể các vấn đề và giảm thiểu những tác động tiêu cực, tránh được tình trạng bị động trong thông tin, hạn chế tối đa ảnh hưởng của các tin đồn.

2.7. Nhìn về cuối năm 2008

Với những điểm rút ra ở trên, trong thời gian tới Việt Nam vẫn có thể là điểm đầu tư thu hút sự quan tâm của cộng đồng tài chính quốc tế, với một số căn cứ quan trọng sau đây: Dòng vốn FDI tiếp tục tăng, không có hiện tượng dòng chảy FPI xáo trộn lớn; Chính sách thắt chặt tiền tệ tiếp tục được đồng thuận, duy trì và bắt đầu có hiệu quả; Các phương pháp điều khiển tín hiệu rõ hơn với nền kinh tế, điều mà Việt Nam không làm được trong suốt thời kỳ biến động của nửa đầu năm 2008; Việc tăng cường kiểm soát hệ thống siêu quyền lực ngân hàng là bước đi hợp lý; Quá trình điều hành cơ chế tỷ giá hỗn hợp đang hình thành và hiệu chỉnh dần độ lệch trong ngắn hạn, phần lớn gây ra bởi tâm lý đầu cơ và bất an. Sự nới lỏng kiểm soát sẽ giúp hệ thống dự trữ quốc gia bền vững hơn.

Với khả năng duy trì các chính sách nhất quán, và điều chỉnh ngắn hạn sát theo tín hiệu thị trường, mục tiêu lạm phát của cả năm 2008 ở dưới mức 30% với sốc tắt dần trong chu kỳ 18 tháng tiếp theo, kèm theo sự duy trì tốc độ tăng trưởng GDP từ 7%, theo chúng tôi là khả thi.

_________________________________________________

(1) Tính toán từ số liệu chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong giai đoạn 1995-2006, Tổng cục Thống kê.
(2) David O. Dapice, 2001. An overview of the Vietnamese economy after the Asian crisis., John F. Kennedy School of Government, Harvard University.
(3) Thống kê 6 tháng đầu năm của Tổng cục Thống kê

SOURCE: WWW.ASSET.VN

Trích dẫn từ:

http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Thi-truong-360/Thi-truong/bien_dong_nen_kte_VN_Ban_chat_va_giai_phap/

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: