KỶ YẾU HỘI THẢO VỀ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức tại Hà Nội các ngày 24, 25/09/2009

(Kỷ yếu này chỉ ghi lại những nội dung trao đổi chính tại Hội thảo)

Thuyết trình viên :

– Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp

– Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

– TS. Nguyễn Minh Chí, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

PHẦN I

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ

I. KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ (Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp)

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.

Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.

Về nguyên tắc thứ nhất (tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế), nguyên tắc này ngày nay đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận. Dự Luật của Việt Nam dĩ nhiên là giữ lại nguyên tắc này. Ở Pháp, nguyên tắc này được thiết lập từ một quyết định của Tòa Phá án (Tòa án Tư pháp tối cao) năm 1963. Tại quyết định này, Tòa Phá án tuyên bố nguyên tắc theo đó điều khoản trọng tài quốc tế có tính độc lập so với hợp đồng chính. Từ nguyên tắc đó, vào năm 1999, Tòa Phá án đã suy ra nguyên tắc về tính hiệu lực điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản hợp đồng có một chế độ pháp lý riêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực. Giải pháp táo bạo này đã bị chỉ trích rất nhiều do có những ý kiến cho rằng thỏa thuận hợp đồng không thể tồn tại mà không có luật điều chỉnh. Hiệu lực của hợp đồng luôn phải phù hợp với quy định của một đạo luật hoặc một văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định. Theo giáo sư Fouchard, đây không phải là trường hợp hợp đồng có xung đột pháp luật vì người ta không tìm được luật áp dụng đối với thỏa thuận này. Theo tôi, luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài đơn giản chỉ là thỏa thuận giữa các bên – kể từ khi các bên đã quyết định về thỏa thuận trọng tài, quyết định này có hiệu lực bắt buộc và trở thành luật của các bên.

Nguyên tắc tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế có 3 tác dụng chính và cũng có một vài hệ quả cơ bản. Ba tác dụng chính là: tác dụng thứ nhất – tính miễn dịch của điều khoản; thứ hai – tác dụng giải phóng điều khoản khỏi bất cứ pháp luật quốc gia nào; thứ ba – tác dụng huy động hoặc tác dụng thu hút của điều khoản, cho phép mở rộng điều khoản này đối với các bên liên quan đến hợp đồng.

Trong các tác dụng trên, tác dụng thứ nhất được Dự Luật của Việt Nam giữ lại. Tính độc lập của điều khoản trọng tài nghĩa là điều khoản trọng tài có chế độ pháp lý riêng, độc lập với hợp đồng chính; hệ quả là điều khoản này không bị ảnh hưởng khi hợp đồng chính bị vô hiệu hoặc không được áp dụng. Tác dụng thứ hai – tác dụng giải phóng, thường được thể hiện nhiều hơn trong luật của Pháp nhưng ít được giữ lại trong luật so sánh, nghĩa là điều khoản trọng tài tách rời khỏi mọi hệ thống pháp luật mang tính nhà nước. Chính theo nghĩa này mà giáo sư Fouchard đã nói rằng đó là một hợp đồng không có xung đột pháp luật bởi vì người ta sẽ không tìm kiếm luật áp dụng cho hợp đồng đặc biệt này. Đây là nguyên tắc đặc biệt mà Tòa án Pháp đã đưa ra bởi lẽ thông thường, tư pháp quốc tế gắn với luật của quốc gia. Điều đó không đúng đối với điều khoản trọng tài, nguyên nhân đơn giản là do người ta muốn tránh các tranh chấp hết sức phức tạp về luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài. Mặt khác, phải nói rằng với 25 năm kinh nghiệm của bản thân, tôi chưa từng gặp một điều khoản trọng tài nào mà các bên nói là được điều chỉnh bởi luật này hay luật kia, chưa từng có khái niệm về luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài. Không có lý do để nghĩ rằng luật áp dụng đối với hợp đồng chính nhất thiết phải áp dụng cho điều khoản trọng tài, do điều khoản trọng tài là độc lập, là một hợp đồng thủ tục được nhập vào trong một hợp đồng nội dung. Điều này cho phép Trọng tài và Tòa án xác định tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài trong khi không tham chiếu vào luật pháp của quốc gia nào mà duy nhất dựa trên bằng chứng và ý chí của các bên ký kết hợp đồng.

Về tác dụng thứ ba (hoàn toàn đặc biệt trong luật pháp của Pháp) – tác dụng huy động hoặc thu hút, nghĩa là điều khoản trọng tài có quyền áp dụng đối với mọi hợp đồng khi các hợp đồng này được lập để thực hiện duy nhất một hoạt động kinh tế, kể cả khi trong số các hợp đồng đó, có hợp đồng không có điều khoản trọng tài; mặt khác, điều khoản trọng tài cũng được áp dụng đối với mọi bên đã tham gia vào hợp đồng chứa đựng điều khoản trọng tài và cả những bên không ký kết điều khoản đó, với điều kiện là các bên đó phải được biết trước về điều khoản trọng tài. Trong các hợp đồng quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ các hoạt động đầu tư, thường có nhiều bên có liên quan, ví dụ nhiều doanh nghiệp châu Âu hoặc châu Mỹ cùng tham gia xây dựng một con đường ở Việt Nam. Sẽ có một hợp đồng chính, quy định về việc xây dựng con đường, được lập và ký kết bởi được một vài doanh nghiệp, các doanh nghiêp này đề nghị các doanh nghiệp khác tham gia thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp này có thể sẽ không ký hợp đồng chính nhưng đã phải biết về điều khoản trọng tài và đã ngầm chấp nhận điều khoản trọng tài. Xuất phát từ đó, thẩm phán Pháp quyết định rằng điều khoản trọng tài áp dụng cho tất cả các bên liên quan. Điều này là một một thuận lợi rõ rệt bởi lẽ mọi tranh chấp liên quan đến cùng hoạt động kinh tế được tập trung giải quyết bởi một trọng tài viên, tại cùng một địa điểm, tránh được nguy cơ vụ việc được các bên khác nhau khởi kiện tại các địa điểm khác nhau như Hà Nội, Los Angeles, Singapore hay nơi khác. Tác dụng của điều khoản trọng tài cũng được mở rộng theo hướng là điều khoản trọng tài được chuyển giao cùng với hợp đồng chính. Tòa án Pháp cho rằng điều khoản trọng tài nhất thiết phải được chuyển giao cùng với hợp đồng; điều này không mâu thuẫn với tính độc lập của điều khoản trọng tài, do tính độc lập của điều khoản chỉ có nghĩa là điều khoản trọng tài có chế độ pháp lý đặc biệt, nhưng điều khoản này vẫn là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính, là một bộ phận phụ của hợp đồng chính về mặt pháp lý, do vậy, điều khoản này sẽ được chuyển cho tất cả những người thế quyền của các bên ký kết hợp đồng ban đầu. Do vậy, bằng tác dụng thu hút này, chúng ta có thể tập trung mọi tranh chấp liên quan đến một hoạt động kinh tế cho một Hội đồng Trọng tài giải quyết; đây rõ ràng là một giải pháp hết sức thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả của thỏa thuận trọng tài. Mặt khác, toàn bộ pháp luật của Pháp về trọng tài có tác dụng và có mục đích đảm bảo tính hiệu quả của thỏa thuận trọng tài.

Về các hệ quả quan trọng của tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, hệ quả quan trọng thứ nhất là nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền”, được thừa nhận trong Dự Luật của Việt Nam. Đây là một nguyên tắc cơ bản về trọng tài theo đó, Trọng tài có thẩm quyền xem xét, quyết định về thẩm quyền của chính mình. Xuất phát từ nguyên tắc này, Trọng tài có thẩm quyền tuyên bố mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bởi lẽ điều khoản trọng tài là độc lập và có hiệu lực. Đây là một nguyên tắc chung, không riêng gì pháp luật Việt Nam quy định như vậy. Tại Pháp, Tòa án cũng rút ra hệ quả từ nguyên tắc này. Khi quyết định rằng Trọng tài có quyền ưu tiên tuyệt đối trong việc xem xét, quyết định về thẩm quyền của chính mình, Tòa án phải từ chối thụ lý vụ kiện. Các bạn sẽ thấy rằng sau đó, có vẫn còn khả năng khởi kiện ra Tòa án, nhưng không phải ở giai đoạn này – đây là tác dụng phủ định của nguyên tắc “thẩm quyền về thầm quyền”, khi Tòa án loại bỏ thẩm quyền của Trọng tài. Điều này chỉ có thể thực hiện trong những trường hợp hết sức ngoại lệ, khi Tòa án thấy rằng điều khoản trọng tài rõ ràng vô hiệu hoặc rõ ràng không thể áp dụng. Ví dụ, trong luật Pháp (có lẽ luật Việt Nam cũng quy định tương tự), điều khoản trọng tài về ly hôn. Tòa án sẽ quyết định thụ lý vụ việc vì đây không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Ví dụ thứ hai là trường hợp hai bên đã ký kết hai hợp đồng tách biệt đối với một dự án kinh tế, trong đó một hợp đồng quy định tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài trong khi hợp đồng kia lại dự kiến khả năng lựa chọn Tòa án. Do sự mâu thuẫn này của các điều khoản thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp, khi có bên khởi kiện căn cứ vào hợp đồng có điều khoản lựa chọn Tòa án, Tòa án đã quyết định rằng điều khoản lựa chọn trọng tài là không thể áp dụng. Trong trường hợp này, điều khoản trọng tài rõ ràng không được áp dụng do việc áp dụng bị hạn chế bởi một hợp đồng khác.

Một hệ quả khác là nguyên tắc liên quan đến khả năng đưa ra giải quyết trước trọng tài các tranh chấp liên quan đến các cơ quan, tổ chức công, như Nhà nước hoặc các công ty quốc doanh. Nguyên tắc này đã được Tòa Phá án đưa ra trong một quyết định năm 1966. Tòa Phá án khẳng định rằng không thể áp dụng nguyên tắc cấm giải quyết bằng trọng tài đối với các tranh chấp liên quan đến các cơ quan nhà nước. Theo Tòa án, khi Nhà nước tham gia vào hoạt động ngoại thương, Nhà nước xử sự với tư cách một chủ thể của quan hệ ngoại thương và nguyên tắc ngoại thương, do vậy có thể đưa vụ tranh chấp liên quan đến Nhà nước ra trọng tài giải quyết. Trên thực tế, nhiều quốc gia không muốn chấp nhận thẩm quyền trọng tài sau khi đã ký kết điều khoản trọng tài. Họ lập luận rằng Hiến pháp của các quốc gia đó cấm việc ký kết điều khoản trọng tài. Tuy nhiên, Tòa án Pháp quyết định rằng đó là một nguyên tắc quan trọng và luật trọng tài quốc tế buộc quốc gia đã ký kết điều khoản trọng tài phải tuân thủ điều khoản đó.

Về nguyên tắc chủ đạo thứ hai – đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công minh và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Thuật ngữ “phiên xét xử công minh” có xuất xứ từ Công ước Châu Âu và đây cũng là thuật ngữ hết sức phổ biến. Nguyên tắc này có nghĩa là phải đảm bảo một phiên tòa đúng đắn, tại đó các bên đều được đối xử bình đẳng, quyền bào chữa được tuân thủ, thẩm phán phải độc lập, vô tư, khách quan trong xét xử. Các tiêu chí này cũng được áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, lý do rất đơn giản là nếu công lý trọng tài là công lý tư thì đó vẫn là công lý và mọi công lý phải đáp ứng được các tiêu chí nêu trên.

Về sự can thiệp của Tòa án, hệ thống Trọng tài của Pháp hạn chế một cách rất chặt chẽ sự can thiệp của Tòa án, xuất phát từ một lý do khá đơn giản và hiển nhiên, đó là lựa chọn trọng tài là để tránh hoặc loại trừ sự can thiệp của Tòa án. Do vậy, Tòa án chỉ can thiệp trong 2 trường hợp. Trường hợp thứ nhất là hỗ trợ cho Trọng tài – khi Tòa án được đề nghị hỗ trợ trọng tài, chẳng hạn: chỉ định trọng tài viên, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Phương thức can thiệp thứ hai của Tòa án là sự can thiệp với tư cách kiểm tra phán quyết trọng tài – can thiệp sau khi Trọng tài đã tiến hành giải quyết vụ tranh chấp, nếu Tòa án được yêu cầu kiểm tra tính hợp thức của phán quyết Trọng tài (tuy nhiên, thẩm phán không có thẩm quyền sửa đổi phán quyết về mặt nội dung; điều này thuộc thẩm quyền của Trọng tài), trong trường hợp có yêu cầu hủy phán quyết do không tuân thủ các quy định pháp luật hình thức. Tôi cho rằng pháp luật Việt Nam cũng quy định như vậy. Tòa án sẽ xem xét thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không, Hội đồng trọng tài có được thành lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định hay không, Trọng tài viên có độc lập hay không, quyền bào chữa có được tuân thủ không, trật tự công quốc tế có bị vi phạm không, v.v… Đây là sự kiểm tra rất hạn chế vì toàn bộ thẩm quyền còn lại thuộc Trọng tài. Tòa án Pháp rất nghiêm khắc trong việc kiểm tra, giám sát tuân thủ nguyên tắc này – việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét nội dung của phán quyết trọng tài không thể được chấp nhận.

Nguyên tắc chủ đạo cuối cùng là thiết lập chế độ pháp lý đặc biệt cho phán quyết trọng tài quốc tế. Nguyên tắc này đã được áp dụng trong một vụ việc đặc biệt; trong vụ việc này, phán quyết được đưa ra ở nước ngoài và bị hủy ở nước gốc của phán quyết đó. Đó là vụ việc rất nổi tiếng I-lờ Mác-tơn năm 1994. Phán quyết được đưa ra tại Thụy Sĩ, rồi bị hủy ở Thụy Sĩ, và một trong các bên tranh chấp đã yêu cầu thi hành phán quyết ở Pháp. Tòa án Pháp đã chấp nhận thi hành phán quyết này ở Pháp với lý do đơn giản là phán quyết đã bị hủy ở nước ngoài không phải là căn cứ để hủy phán quyết đó ở Pháp. Vụ việc này đã gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí đến nay vẫn tục được nói đến. Một vụ việc khác cũng diễn ra trong bối cảnh tương tự vào năm 2007. Một phán quyết được đưa ra ở Luân Đôn và bị huỷ sau đó ở Luân Đôn: một bên khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài do về nhầm lẫn về luật, Tòa án có thẩm quyền của Luân Đôn tiến hành xét xử lại và tuyên bố rằng có sự nhầm lẫn về luật và hủy phán quyết trọng tài. Cùng lúc đó, một bên yêu cầu thi hành phán quyết tại Pháp và Tòa án Pháp cũng đã chấp nhận cho thi hành phán quyết với cùng lý do như với vụ việc trước, bởi vì luật pháp của Pháp, trái với Công ước New York, không thừa nhận việc phán quyết trọng tài đã bị hủy ở nước ngoài như là một trường hợp phải từ chối thi hành phán quyết tại Pháp. Quyết định này của Tòa án Pháp cũng gây ra rất nhiều tranh cãi, chỉ trích. Rõ ràng là vấn đề này gắn liền với các căn cứ hủy phán quyết trọng tài ở nước ngoài bởi lẽ nếu phán quyết trọng tài bị hủy ở nước ngoài do vi phạm quyền bào chữa chẳng hạn thì đương nhiên phán quyết đó sẽ không được thi hành ở Pháp cũng như ở các nước khác. Tuy vậy, không nên hiểu rằng quyết định này của thẩm phán Pháp một lần nữa tạo điều kiện cho Pháp trở thành nơi trú ẩn của tất cả các phán quyết trọng tài đã bị hủy trên toàn thế giới hay nói cách khác là các phán quyết tồi. Thực tế không phải như vậy, lý do đơn giản là phẩm phán Pháp cho rằng – tôi xin trích dẫn bản án 2007 – phán quyết trọng tài quốc tế tách rời khỏi mọi trật tự quốc gia và là một quyết định mang tính công lý quốc tế. Do đó, phán quyết trọng tài quốc tế không gắn với nước gốc bởi lẽ mối liên hệ giữa phán quyết với nước gốc rất yếu ớt; ngoài thủ tục yêu cầu hủy phán quyết theo quy định pháp luật của nước nơi ra phán quyết, phán quyết không có mối liên hệ nào khác với với hệ thống pháp luật của nước này. Do vậy, phán quyết trọng tài được coi là là một quyết định thực sự mang tính quốc tế. Quan điểm này của Tòa án Pháp có xu hướng thừa nhận một trật tự pháp lý quốc tế, và gây ra không ít tranh cãi giữa những người làm công tác pháp luật, nhiều người tán thành và cũng không ít người phản đối.

II. GIỚI THIỆU CÁC HOẠT ĐỘNG HIỆN NAY VỀ LĨNH VỰC TRỌNG TÀI CỦA ỦY BAN CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

Trước hết, tôi xin cám ơn Nhà Pháp luật Việt Pháp đã có sáng kiến tổ chức cuộc gặp này. Tôi cũng xin cám ơn các cơ quan có thẩm quyền tham gia vào việc sửa đổi Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 của Việt Nam đã tham khảo ý kiến của cộng đồng trọng tài quốc tế cũng như các nước đối tác của Việt Nam trong quá trình sửa đổi Pháp lệnh. Chính những nhà đầu tư của các nước này cùng với các nhà đầu tư Việt Nam là những người đầu tiên sử dụng Luật này. Do vậy, cần thu thập ý kiến của họ ngay từ đầu và đưa họ tham gia vào quá trình này.

Ban thư ký của Uỷ ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp quốc được đề nghị tham gia công việc tương tự trong khuôn khổ sửa đổi Pháp lệnh Trọng tài năm 2003. Chúng tôi đã cộng tác với những người tham gia các cuộc họp do UNDP tổ chức để đưa ra những nhận xét của mình. Chúng tôi cho rằng trong quá trình cải cách này, việc tham khảo ý kiến của các luật gia thuộc truyền thống Dân luật cũng như Tiền lệ pháp là rất hữu ích. Do vậy, chúng tôi rất vui mừng được tham dự Hội thảo này, nhờ đó chúng tôi hiểu được bối cảnh của việc sửa đổi pháp luật này cũng như các vấn đề đặc biệt đặt ra trong bối cảnh chung của pháp luật Việt Nam.

Tôi làm việc ở Phòng Pháp chế của Ủy ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp quốc (UNCITRAL). Hiện tại, tôi là thư ký của nhóm làm việc của UNCITRAL về trọng tài.

UNCITRAL là một ủy ban của Liên Hợp quốc về thương mại quốc tế, là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình của Liên Hợp quốc về hài hòa hóa và hiện đại hóa luật thương mại quốc tế. Các quốc gia thành viên cũng như các quốc gia không phải là thành viên của UNCITRAL tiến hành họp hàng năm nếu muốn, mỗi lần họp kéo dài khoảng 3 tuần, để thông qua các văn bản, văn kiện quốc tế và xác định chương trình làm việc trong lĩnh vực luật thương mại quốc tế. Chương trình làm việc này sau đó được thực hiện trong khuôn khổ nhóm công tác được lập ra vì mục đích đó. Nhóm công tác này họp một năm 2 lần, các thành viên của nhóm là các chuyên gia do Chính phủ các nước cử. UNCITRAL được thành lập vào năm 1965, bằng một Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc. Vào thời điểm đó, Đại hội đồng cho rằng cần thiết phải tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại quốc tế vì lợi ích của các dân tộc. Đại hội đồng tin rằng những sự khác biệt trong luật pháp của các quốc gia cản trở sự phát triển của thương mại thế giới và do vậy, Đại hội đồng đã xác định rằng Liên hiệp Quốc cần phải hoạt động tích cực hơn để giảm bớt hoặc xóa bỏ các trở ngại pháp lý tạo nên rào cản đối với thương mại quốc tế. Chúng ta cần nhớ rằng các văn bản pháp lý của UNCITRAL được soạn thảo trong khuôn khổ các cuộc đàm phán quốc tế tại đó, tất cả các nước không phân biệt truyền thống pháp lý và trình độ phát triển, được tham gia một cách bình đẳng. Các văn bản của UNCITRAL như Luật mẫu về trọng tài, được soạn bằng các ngôn ngữ: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ả Rập, Tây Ban Nha, Nga. Tôi hy vọng sắp tới Việt Nam sẽ có đại diện tham gia vào các công việc của UNCITRAL, đặc biệt là nhóm công tác của UNCITRAL về trọng tài vào cuối năm 2010 để bắt đầu các công việc quan trọng trong các lĩnh vực trọng tài liên quan đến Nhà nước. Tham gia vào các cuộc họp của UNCITRAL có các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ và nhiều trung tâm trọng tài.

Các lĩnh vực hoạt động của UNCITRAL, trong đó có soạn thảo văn bản, bao gồm giải quyết tranh chấp, trọng tài, hòa giải, thực tiễn về hợp đồng thương mại quốc tế, vận chuyển, khả năng thanh toán, thương mại điện tử, thanh toán quốc tế, hoạt động bảo lãnh, hợp đồng công chính, thương mại điện tử, mua bán hàng hóa. Trong số các văn bản của UNCITRAL đã được Việt Nam tham gia, có Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử và chữ ký điện tử. Trong các hoạt động của UNCITRAL trong tương lai, có hoạt động về tài chính vi mô.

Về trọng tài và hòa giải, có 3 văn bản quan trọng. Văn bản thứ nhất là Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài năm 1958. Công ước này đã được soạn thảo trước khi UNCITRAL được thành lập, nhưng UNCITRAL đảm bảo việc triển khai thực hiện công ước này. Đó là một công ước gần như mang tính toàn cầu. Việt Nam tham gia Công ước này năm 1995. Cách đây khoảng 20 năm, các nước thành viên thấy rằng cần phải tiến hành điều tra xem các quốc gia áp dụng công ước này như thế nào. Một bảng câu hỏi đã được gửi tới tất cả các quốc gia thành viên của Công ước, trong đó có Việt Nam (Việt Nam cũng đã trả lời Bảng câu hỏi). Câu hỏi cần trả lời là:

– Công ước này đã được đưa vào như thế nào trong hệ thống pháp luật của các nước thành viên để đảm bảo các quy định của Công ước có hiệu lực ngang luật?

– Khi áp dụng Công ước, các nước có thêm các quy định vào chế độ thống nhất của Công ước hay không?

– Nếu có bảo lưu, số lượng bảo lưu đưa ra có nhiều hơn số lượng bảo lưu được Công ước cho phép không, có quy mô rộng hơn hay không?

– Trong quá trình áp dụng Công ước, liên quan đến việc công nhận và thi hành phán quyết, các nước có quy định thời hiệu bổ sung vốn không được quy định trong Công ước hay không?

Các câu trả lời cho thấy việc áp dụng và giải thích Công ước New York hết sức đa dạng, nhiều quy định mà các quốc gia đưa ra rõ ràng trái với tinh thần của Công ước. Trước những khác biệt lớn này, Ủy ban đã quyết định rằng một văn bản hướng dẫn sẽ được ban hành để trao đổi các thực tiễn tốt nhất giữa các quốc gia liên quan nhằm thực hiện các thủ tục liên quan trong khuôn khổ Công ước New York. Ủy ban cũng quyết định công bố trên website của UNCITRAL các câu trả lời của các quốc gia, điều này cho phép so sánh thực tiễn áp dụng Công ước giữa các nước. Chúng tôi cũng đã thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho lãnh đạo của nhiều nước trên thế giới, như đào tạo thẩm phán tại các nước, trao đổi với các cơ quan liên quan về thực tiễn áp dụng Công ước.

Văn bản quan trọng thứ hai về trọng tài thương mại quốc tế là Quy tắc tố tụng Trọng tài của UNCITRAL được soạn thảo năm 1967. Hiện Quy tắc tố tụng trọng tài này đang được tổ công tác của UNCITRAL sửa đổi sao cho phù hợp với sự phát triển của tình tình trong hơn 30 năm qua. Chẳng hạn, vấn đề trọng tài nhiều bên, vào thời điểm cách đây 30, chưa đặt ra nhưng giờ đây ngày càng phát triển. Quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL được sử dụng rộng rãi bởi các trung tâm trọng tài như là mô hình mẫu cho quy tắc tố tụng trọng tài của các trung tâm đó. Các bên cũng sử dụng Quy tắc tố tụng trọng tài này. Đây là bộ quy tắc được sử dụng nhiều thứ hai sau Bộ quy tắc của CIRDI (ISCID) về trọng tài áp dụng cho quốc gia trong trường hợp trọng tài nhiều bên liên quan đến đầu tư quốc tế.

Văn bản thứ 3 về trọng tài thương mại quốc tế mà tôi muốn đề cập đến Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL. Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL cho tới nay được hơn 80 quốc gia thông qua. Mục đích của Luật mẫu là hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia về trọng tài. Luật mẫu này được thông qua (vào năm 1985) để khắc phục những sự khác biệt rất lớn trong luật pháp quốc gia về trọng tài, khẳng định sự cần thiết phải cải thiện và hài hòa hóa pháp luật quốc gia khi chúng ta nhận thấy rằng pháp luật quốc gia thường không thích hợp với lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, và pháp luật quốc gia thường có những quy định đồng hóa tố tụng trọng tài với tố tụng tòa án, cũng như các quy định rải rác không điều chỉnh việc xử lý các tình huống cụ thể một cách thích hợp, trong khi đó Luật mẫu có thuận lợi là được biết đến rộng rãi, được bình luận rộng rãi trên bình diện quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của trọng tài quốc tế, cũng như được nhiều nước chấp nhận. Sự liên quan chặt chẽ của một đạo luật với các văn bản pháp luật khác đang tồn tại của một nước như Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Hàng hải hay các bộ luật khác mà chúng ta đã đề cập đến buổi sáng nay, là vấn đề gây tranh cãi đối với rất nhều quốc gia trên thế giới, không phải là vấn đề riêng của Việt Nam. Có nhiều giải pháp để xử lý vấn đề này, chúng ta sẽ đề cập đến sâu hơn chiều nay. Trong khu vực châu Á, có nhiều nước đã thông qua Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế như Singapore, Malaisia, Thái Lan, Nhật Bản. Ở các này, đã phát triển các trung tâm trọng tài có quy mô khu vực. Luật mẫu của UNCITRAL đã được nhiều khu vực thông qua, rất nhiều quốc gia thông qua Luật mẫu đã thành công. Các nguyên tắc lớn mà Luật mẫu đặt ra như sau: tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, sự kiểm tra và hỗ trợ rất hạn chế của tòa án – dù sự phối hợp giữa các tòa án và trọng tài là cần thiết đối với một số chủ thể nhưng sự phối hợp đó phải rất hạn chế – thể hiện ở chỗ nếu các bên đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì có nghĩa là họ không muốn tranh chấp sau đó sẽ được đưa ra tòa án giải quyết, không muốn tòa án can thiệp vào quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nguyên tắc thứ hai là quyền của các bên được đối xử bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nguyên tắc tiếp theo là sự thống nhất của hợp đồng chính không làm thỏa thuận trọng tài của hợp đồng đó vô hiệu. Cuối cùng là nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền” mà ông ANCEL đã trình bày. Các nguyên tắc này cũng đã được thể hiện trong dự thảo Luật Trọng tài của Việt Nam. Luật mẫu của UNCITRAL đã được sửa đổi vào năm 2006 về hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là về thỏa thuận trọng tài, đặc biệt về hình thức của thỏa thuận trọng tài – Luật mẫu, phỏng theo Công ước New York, quy định rằng thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản. Định nghĩa này được coi là phù hợp hơn với các thực tiễn thương mại quốc tế và sự tiến bộ về công nghệ. Nội dung thứ hai được sửa đổi liên quan đến các biện pháp khẩn cấp tạm thời do các biện pháp này được áp dụng ngày càng nhiều trong thực tiễn thương mại quốc tế. Toàn bộ các văn bản của UNCITRAL về trọng tài gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi một quốc gia thông qua Luật mẫu về trọng tài thì sự gắn bó chặt chẽ của luật này với Công ước New York là một vấn đề cốt yếu cần tính đến. Tôi nhận thấy rằng dự thảo Luật Trọng tài có một phần về hòa giải. UNCITRAL cũng có một Luật mẫu về hòa giải, được thông qua năm 2002, rất ngắn gọn, chỉ gồm 14 điều, hầu hết các điều này được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết và mục đích chủ yếu của hòa giải là tránh cho thông tin tiết lộ trong quá trình hòa giải sẽ được sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc tòa án. Tôi thấy rằng vấn đề này đã được quy định trong khuôn khổ dự thảo Luật Trọng tài. Tôi đã lập một bảng so sánh dự thảo Luật Trọng tài với các luật mẫu của UNCITRAL và chúng ta sẽ thảo luận về vấn đề này chiều nay.

PHẦN II. THẢO LUẬN VỀ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

Bà Montineri:

Vấn đề đầu tiên là tên gọi của Luật, nên đặt tên là Luật Trọng tài hay Luật Trọng tài thương mại. Về phía Ban thư ký của UNCITRAL, tôi không thể đưa ra quan điểm. Tên gọi của Luật do nội dung của Luật, phạm vi áp dụng của Luật quyết định. Cần lưu ý rằng trong thương mại quốc tế, không thể loại trừ một số chủ thể nhất định, cho dù khái niệm “thương mại” có thể được định nghĩa một cách hạn chế trong luật Việt Nam (Luật Thương mại và các văn bản khác có liên quan).

Ông Ancel:

Vấn đề tên gọi của Luật đặt ra là: nếu đặt tên Luật là Luật Trọng tài thương mại thì có thể hiểu rằng Luật này chỉ áp dụng đối với các tranh chấp trong lĩnh vực thương mại hay không. Tôi không rõ là trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật dân sự và luật thương mại được phân biệt với nhau như thế nào. Tôi có thể hiểu rằng sự phân biệt này cũng giống chút ít với luật của Pháp. Như vậy, khó khăn là ở chỗ nếu đặt tên Luật là Luật Trọng tài thương mại thì trong một số tranh chấp mà các bên có thỏa thuận giải quyết bằng Trọng tài, một trong các bên có thể phản đối tính thương mại của vụ tranh chấp hoặc tính thương nhân của chủ thể tham gia giao dịch. Hiện nay, vấn đề xác định tính thương mại của tranh chấp có vẻ đã lỗi thời. Luật mẫu của UNCITRAL vẫn giữ từ “thương mại” nhưng chúng ta biết rằng thuật ngữ này được giải thích hết sức rộng rãi. Do vậy, có thể áp dụng pháp luật về trọng tài thương mại quốc tế mà không gặp khó khăn nếu Tòa án Việt Nam sẵn sàng giải thích khái niệm “thương mại” theo nghĩa rộng, nếu không có nguy cơ là sẽ phát sinh rất nhiều vụ kiện cần phải xác định tranh chấp có do Luật này điều chỉnh hay không, mặc dù các bên đã có thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết. Pháp luật của nhiều nước không quy định tính thương mại của tranh chấp, nhất là Thuỵ Sĩ. Pháp luật Pháp đã từ bỏ tiêu chí này từ rất lâu rồi. Do vậy, vấn đề đặt ra là giữ lại khái niệm “thương mại” này có hợp thời hay không? Dĩ nhiên, không có khó khăn gì trong việc xóa bỏ từ này nhưng việc đó hoàn toàn thuộc quyền quyết định của Việt Nam.

Mặc khác, có thể nhận thấy rằng Dự thảo Luật không phân biệt giữa trọng tài quốc nội và trọng tài quốc tế. Đây không phải là trở ngại. Tôi nhận thấy rằng nhiều quy định của Dự thảo liên quan đến trọng tài quốc tế, nhất là quy định về tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Như vậy, có thể hiểu rằng Luật này quy định cả hai hình thức trọng tài – quốc nội và quốc tế. Vấn đề còn lại là xét xem liệu các quy định áp dụng cho trọng tài quốc tế đã đầy đủ và cụ thể chưa.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Chúng ta đã nghe ý kiến của các chuyên gia là tên gọi của Luật thực ra không quan trọng. Ở Pháp cũng như các nước khác, người ta coi quan hệ dân sự và quan hệ thương mại không có sự khác biệt lớn lắm. Có lẽ sự cách biệt chỉ liên quan đến vấn đề nhân thân phi tài sản thì Trọng tài không xử lý.

Đại biểu:

Về tên gọi của Luật, giới lập pháp hiểu là nếu tên gọi là Luật Trọng tài thương mại thì toàn bộ nội dung của Luật chỉ quy định các vấn đề liên quan đến thương mại, chủ thể là chủ thể kinh doanh, khu vực là khu vực tìm kiếm lợi nhuận. Điều này có bất cập là hiện nay, do quan hệ hàng hóa, quan hệ dân sự ngày càng mở rộng, nếu ta chỉ biệt lập trong khu vực tìm kiếm lợi nhuận thì tranh chấp giữa một bên là có đăng ký kinh doanh và một bên không kinh doanh thì xử lý ở đâu? Tòa Dân sự chỉ xử những vấn đề dân sự, nhưng vấn đề dân sự hết sức rộng, bao gồm cả thương mại trong đó. Với tư duy tương tự như thế, năm 2005 Việt Nam thực hiện sửa đổi Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Mọi người cho rằng hợp đồng thương mại phải được dành một chương trong Luật Thương mại để điều chỉnh, còn Bộ luật Dân sự quy định về hợp đồng dân sự nên có rất nhiều quy định về hợp đồng dân sự. Quan điểm ở đây là hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự khác nhau nên phải có các quy định riêng. Cách hiểu như vậy làm tôi rất e ngại bởi vì mỗi ngành khi xây dựng quy định chỉ biết đến ngành của mình nên có thể dẫn đến sự chia cắt về tư duy.

Tôi nhất trí với quan điểm là tên gọi không quan trọng, với quan điểm cho rằng nếu chúng ta gọi Luật là Luật Thương mại thì trong đó chỉ bao gồm những vấn đề thuộc về thương mại. Tuy nhiên, có vấn đề thực tế là khi đưa ra Quốc hội xem xét thì chắc chắn các đại biểu Quốc hội sẽ cho rằng luật đó chỉ liên quan đến khu vực tìm kiếm lợi nhuận, các chủ thể kinh doanh và các quan hệ tranh chấp về kinh doanh. Vậy nên làm cách nào đó để tránh được tư duy ấy? Người ta tránh bằng cách bỏ chữ “thương mại”. Nếu có ý kiến cho rằng bỏ từ “thương mại” thì có thể sẽ có người hiểu là gồm cả những Trọng tài khác nữa. Theo tôi, điều này không đáng ngại vì nếu là Trọng tài khác thì sẽ phải sử dụng thêm từ để làm rõ, ví dụ “Trọng tài bóng đá”. Như vậy, quan điểm của tôi là bỏ chữ “thương mại” vì giới hạn phạm vi trọng tài trong lĩnh vực thương mại là tư duy cũ và quá hẹp. Vấn đề là phải thuyết phục các đại biểu Quốc hội và các cơ quan thẩm tra. Về điểm này, Tờ trình cần phải được tiếp tục hoàn thiện hơn nữa.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Tờ trình này đã được viết đi viết lại đến 4 lần và tính thuyết phục của nó theo tôi đã là cao nhất có thể về việc giữ tên là “Luật Trọng tài”.

Về vấn đề thứ hai chị nêu, BLDS 2005 cũng có định nghĩa về các quan hệ dân sự, gồm các quan hệ về nhân thân, về tài sản, quan hệ mang tính thương mại, đầu tư vv… Như vậy, định nghĩa về quan hệ dân sự đã có sự pha tạp.

Đề nghị các chuyên gia cho biết trong hai phương án nêu tại Điều 2 Dự thảo phương án nào là thích hợp và tại sao?

Ông Ancel:

Vấn đề tên gọi của Luật liên quan đến việc soạn thảo Điều 2, với hai phương án đặt ra: Phương án 1 quy định các tranh chấp do Luật điều chỉnh phải có tính chất thương mại; Phương án 2 quy định phạm vi rộng hơn nhiều.

Bản thân tôi nghiêng về Phương án 2 do Phương án này không hạn chế việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trong lĩnh vực thương mại. Không nên quên rằng có rất nhiều vụ kiện về tài sản, về hợp đồng không có tính chất thương mại. Trong pháp luật của Pháp, các quy định mới sửa đổi đã mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài đối với các hợp đồng được ký kết cho một hoạt động nghề nghiệp. Do đó, các vụ tranh chấp liên quan đến hoạt động nghề nghiệp này có thể giải quyết bằng Trọng tài, không nhất thiết phải trong lĩnh vực thương mại. Ví dụ, hợp đồng ký kết giữa các nhà chuyên nghiệp, luật sư, bác sĩ, giữa bác sĩ với một bệnh viện tư, là những hợp đồng có giá trị lớn nên sẽ rất đáng tiếc khi loại trừ chúng ra khỏi thẩm quyền của Trọng tài với lý do đó không phải là hợp đồng thương mại. Do đó, tôi nghiêng về Phương án 2, phương án này không giới hạn thẩm quyền của trọng tài trong lĩnh vực hợp đồng mà còn mở rộng ra lĩnh vực ngoài hợp đồng.

Bà Montineri:

Trong khuôn khổ các hoạt động của UNCITRAL, chúng tôi nhận thấy rằng trên thế giới hiện nay, Phương án 1 hiếm khi được áp dng vì tính hạn chế của nó. Trong khi đó, Phương án 2 – tức là đưa tất cả các vụ tranh chấp ra trước Trọng tài giải quyết và chỉ loại trừ một số ít trường hợp – được đa số các nước lựa chọn. Điều này thực sự phù hợp trên phương diện quốc tế.

Đại biểu:

Về tên gọi của Luật, theo tôi cả 2 phương án của Điều 2 đều thể hiện là thẩm quyền của Trọng tài đã được mở rộng hơn phạm vi thương mại rồi nên chúng ta cũng không nên quá câu nệ là phải gắn chữ “Trọng tài thương mại” nữa. Chúng ta cứ để nguyên cả 2 phương án, mỗi phương án đều có độ hẹp và độ rộng của nó. Khi đọc Tờ trình trước Quốc hội, chúng ta sẽ thể hiện quan điểm của chúng ta rõ hơn bối cảnh của Việt Nam hiện nay. Nếu chúng ta thuyết minh được thật rộng thì sẽ là phương án 2, còn nếu chúng ta thuyết minh mà chưa đủ sức thuyết phục thì giữ phương án 1, phương án này cũng đã tương đối rộng trên cơ sở kế thừa phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Trọng tài thương mại.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Phương án 1 quy định thẩm quyền của Trọng tài thương mại là giải quyết các vụ tranh chấp thương mại nhưng về mặt nội dung, có những tranh chấp bán thương mại và không thương mại (khoản 2 và khoản 3). Phương án 2 quy định “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại” trong đó có khoản 1 quy định “Tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng có thể được giải quyết bằng Trọng tài”. Như vậy, phương án này cũng hàm chứa rất nhiều yếu tố không thương mại, ví dụ ngoài hợp đồng, tranh chấp giữa các bên không hoạt động thương mại với nhau… Điều đó có phù hợp với tên gọi của điều luật hay không?

Ông Ancel:

Theo tôi, có lẽ phương án 2 phù hợp với tên gọi “Luật Trọng tài” (không có chữ “thương mại”), bởi vì Luật này muốn điều chỉnh cả các vấn đề thuộc lĩnh vực hợp đồng và ngoài hợp đồng, do vậy rộng hơn rất nhiều so với lĩnh vực “thương mại”. Tôi thấy sẽ khó khăn nếu đưa vào Phương án 2 khái niệm thương mại vì điều đó không phù hợp với nội dung của điều luật. Ở đây, Luật mở ra khả năng giải quyết bằng Trọng tài các tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng nói chung mà không phân biệt các bên có phải là thương nhân hay nghĩa vụ tranh chấp có tính thương mại hay không.

Bà Montineri:

Tôi thấy rằng không cần thiết phải thêm từ “Thương mại” vào Phương án 2. Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế (Điều 7) quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng có thể được đưa ra giải quyết trước Trọng tài. Luật mẫu không dẫn chiếu đến khái niệm “thương mại” và thuật ngữ “thương mại” dù được đưa vào Luật nhưng phải được hiểu theo nghĩa rất rộng vì UNCITRAL là cơ quan phụ trách lĩnh vực thương mại quốc tế. Nhiều nước đã thông qua Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL mà không sử dụng thuật ngữ “thương mại” để tránh những giải thích rất hạn chế của các tòa án. Tôi nghĩ rằng quy định của Phương án 2 của Dự thảo là rất tốt vì nó cho phép thẩm quyền của trọng tài bao trùm lên cả các nghĩa vụ hợp đồng và ngoài hợp đồng và loại trừ một cách rõ ràng những tranh chấp không thể đưa ra trọng tài giải quyết. Phương án này hoàn toàn rõ ràng nên không thể bị hiểu sai.

Ông Ancel:

Tôi xin bình luận thêm 2 ý.

Thứ nhất, nếu các bạn bổ sung tính từ “thương mại” vào Phương án 2 thì sẽ làm cho việc loại trừ quy định tại phương án này trở nên kỳ cục. Tại sao lại loại trừ những tranh chấp liên quan tới tài sản, gia đình, thừa kế… nếu không có một định nghĩa rõ ràng về lĩnh vực thương mại.

Thứ hai, Tờ trình dự thảo Luật là bản báo cáo thuyết minh làm rõ Luật. Ở Pháp, người ta thường đưa vào Tờ trình những nội dung khó thể hiện trong chính văn bản luật. Theo tôi, đây không phải là giải pháp thực sự tốt vì hai lý do sau: Hiệu lực bắt buộc thi hành của Tờ trình vẫn là một vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tờ trình không có hiệu lực bắt buộc như chính văn bản luật được thuyết minh trong Tờ trình. Mặt khác, Tờ trình không có cùng độ dài như văn bản luật. Tờ trình được biết đến vào thời điểm văn bản luật được soạn thảo, là một phần của văn bản luật nhưng dần dần, tài liệu đó sẽ bị quên lãng. Do vậy, đó, sẽ là nguy hiểm nếu cho rằng chúng ta có thể làm rõ một văn bản Luật bằng loại tài liệu đó. Vì thế, nếu lựa chọn phương án nào thì cần thể hiện chắc chắn phương án đó trong chính văn bản luật.

Đại biểu:

Khái niệm “thương mại” trong pháp luật Việt Nam hoàn toàn không phù hợp với thông lệ quốc tế. Do đó, nếu chuyên gia áp dụng khái niệm “thương mại” theo luật của Pháp hay Luật mẫu của UNCITRAL để hiểu Điều 1 Dự thảo là hoàn toàn không phù hợp. Ở Việt Nam, khái niệm “thương mại” được phân ra làm 3 loại khác nhau. Theo BLTTDS hiện nay, thương mại được hiểu là quan hệ kinh doanh (riêng), quan hệ thương mại (riêng), quan hệ lao động (riêng). Do đó, trong BLTTDS của Việt Nam, chức năng, thẩm quyền của Tòa kinh tế và Tòa lao động bao trùm đầy đủ các lĩnh vực được liệt kê trong khái niệm “hành vi thương mại” theo Luật mẫu của UNCITRAL. Khi trao đổi với các thành viên khác trong Tổ biên tập, chúng tôi không đồng ý với Phương án 1 ở khoản 1 và khoản 2 vì các khoản này giới hạn hành vi thương mại theo nghĩa hẹp chứ không phải là hành vi thương mại theo nghĩa rộng mà Luật mẫu UNCITRAL đã khuyến nghị. Hiện chúng tôi đang cố gắng thuyết phục sử dụng khái niệm hành vi thương mại theo Luật mẫu của UNCITRAL, bổ sung thêm những hành vi khác mà luật Việt Nam coi rằng đó là quan hệ kinh doanh hay quan hệ lao động vào cùng khái niệm này cho hoàn chỉnh. Như vậy sẽ kế thừa được khuyến nghị trong Luật mẫu của UNCITRAL nhưng phù hợp với tất cả các luật khác của Việt Nam hiện nay là BLTTDS Việt Nam.

Giả thiết là chúng ta chấp nhận Phương án 1 thì hậu quả pháp lý là gì? Khi Việt Nam tham gia Công ước New York năm 1958, có một bảo lưu là bảo lưu thế nào là hành vi thương mại. Chúng tôi đã có một vụ kiện liên quan đến một phán quyết trọng tài được ra ở Ô-xtrây-lia. Trong vụ kiện này, bên nước ngoài xin công nhận và cưỡng chế thi hành tại Việt Nam nhưng tòa Việt Nam tuyên hủy với lý do tranh chấp phát sinh từ hoạt động xây dựng không được hiểu là hành vi thương mại. Nhiều trường hợp tương tự xảy ra theo hướng hành vi thương mại được định nghĩa hẹp đi. Mặt khác, theo quy định của BLTTDS Việt Nam, Tòa án Việt Nam được phép công nhận và cưỡng chế thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại và lao động. Nếu vậy thì tại sao Luật Trọng tài của Việt Nam điều chỉnh Trọng tài trong nước lại giới hạn các tổ chức Trọng tài Việt Nam và các bên tranh chấp trong phạm vi các hoạt động thương mại? Điều đó mâu thuẫn với Luật mẫu UNCITRAL, mâu thuẫn với luật nội địa của Việt Nam.

Về Phương án 2, chúng tôi cũng thấy có điểm cần cân nhắc lại. Phương pháp loại trừ là đúng để tránh chuyện định nghĩa sai, nhưng trong phương án này, có loại trừ không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như luật nội địa của Việt Nam – tranh chấp về bất động sản. Căn cứ vào Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản, điều khoản này là không phù hợp.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Về Phương án 1, chúng tôi đã cố gắng mở rộng tối đa phạm vi của Phương án này, nhưng vẫn chưa hàm chứa được hết những trường hợp cần đưa vào. Việc soạn thảo Luật này phải dựa trên cơ sở các Luật khác để xem Trọng tài có thẩm quyền không. Chẳng hạn, trong những quan hệ dân sự thông thường hay những tranh chấp ngoài hợp đồng (đang ngày càng tăng lên với sự phát triển kinh tế), nếu đương sự muốn giải quyết bằng Trọng tài cho nhanh gọn thì tại sao lại bắt buộc họ phải kiện ra Tòa án?

Đại biểu:

Tôi xin bổ sung ý kiến về điểm c Điều 2. Điều không ổn là người ta không thuyết minh được là tại sao pháp luật Việt Nam lại không cho phép Trọng tài Việt Nam giải quyết những vụ tranh chấp về bất động sản. Là luật gia trong nước, tôi có thể hiểu rằng đó là do quan ngại về bất động sản liên quan đến chủ thể pháp nhân công – cơ quan quản lý nhà nước hay Nhà nước. Nếu là quan ngại đó thì chỉ nên thu hẹp phạm vi loại trừ này chứ không thể loại trừ hết mọi tranh chấp về bất động sản. Theo tôi, chỉ nên giới hạn điểm c đối với các tranh chấp trong đó một bên là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ra quyết định về đất đai.

Ông Ancel:

Về tranh chấp liên quan đến các pháp nhân công, luật của Thuỵ sĩ, Luật Trọng tài của OHADA (Tổ chức hài hòa hóa pháp luật kinh doanh của châu Phi, tập hợp 15 nước nói tiếng Pháp của châu Phi) cũng như án lệ của Pháp quy định rằng Nhà nước có thể là một bên trong tranh chấp được giải quyết tại trọng tài, nhưng các hệ thống pháp luật này quy định quyền riêng cho cơ quan nhà nước được phản đối thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài hoặc hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Đây là vấn đề rất quan trọng nhưng tôi thấy chưa được đề cập đến trong Dự thảo Luật của Việt Nam.

Bà Montineri:

Tôi cho rằng việc loại trừ tranh chấp giữa các quốc gia khỏi phạm vi thẩm quyền của trọng tài có lẽ là trái với Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam. Hơn nữa, hầu hết các điều ước song phương và đa phương về đầu tư đều có quy định về giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Do vậy trên phương diện quốc tế, việc loại trừ này có thể có bất cập. Tôi tự hỏi không biết có phải là do Luật này chủ yếu điều chỉnh trọng tài quốc nội hay không.

Đại biểu:

Về tranh chấp liên quan đến cơ quan nhà nước, theo quy định của dự thảo Luật, Trọng tài trong nước không có thẩm quyền giải quyết liên quan tới các tranh chấp giữa hai Chính phủ. Tuy nhiên, có những công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia trong đó có thỏa thuận cho phép giải quyết bằng Trọng tài, nên chúng tôi đã đưa vào một ngoại lệ là “trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành có quy định khác”.

Đối với cơ quan nhà nước, khoản 3 phương án 1 cho phép cơ quan nhà nước là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật Trọng tài. Do đó, tranh chấp giữa các nhà đầu tư với Chính phủ theo Luật Đầu tư sẽ được hiểu và giải thích theo khoản 3 của Phương án 1 này. Điều đó có nghĩa là nếu Luật Đầu tư đã cho phép thì Luật Trọng tài tiếp tục công nhận sự tồn tại đó. Tuy nhiên, ngoài các quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư, nếu Chính phủ Việt Nam và cơ quan nhà nước của Việt Nam tham gia một quan hệ pháp luật thì có thể được coi là một bên trong vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài, với điều kiện nội dung của tranh chấp đó phải được hiểu là tranh chấp trong hoạt động thương mại. Như vậy, có một số trường hợp như mua bán công sở, đấu thầu xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước cần phải được xác định là hoạt động thương mại hay không phải hoạt động thương mại. Nếu không thì sẽ loại trừ tranh chấp ra khỏi thẩm quyền của trọng tài. Tuy nhiên, quan điểm hiện nay vẫn còn chưa ngã ngũ về vấn đề này.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Nếu theo Phương án 1 thì có một loại tranh chấp có thể giải quyết bởi Trọng tài mà Trọng tài lại không có thẩm quyền, đó là tranh chấp giữa thành viên trong công ty, tranh chấp giữa ban lãnh đạo của công ty với thành viên khác của công ty. Một số loại quan hệ dân sự thông thường, quan hệ ngoài hợp đồng cũng bị loại ra. Chính vì vậy, Ban soạn thảo và Tổ biên tập cho rằng Phương án 2 là tối ưu.

Bà Montineri:

Tôi xin bổ sung ý cuối cùng về phạm vi điều chỉnh (Điều 1). Tôi hiểu Dự thảo quy định Luật này áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các luật trọng tài trên thế giới đều nêu rõ rằng luật trọng tài cũng áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài tiến hành ở nước ngoài, ví dụ trong trường hợp tòa án Việt Nam quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của trọng tài nước ngoài. Ngoài ra, theo quy định về hủy phán quyết trọng tài, phán quyết đưa ra bởi trọng tài ở Việt Nam hoặc Trọng tài ở nước ngoài có thể được xem xét hủy tại Việt Nam. Do vậy, tôi thấy rằng cần phải quy định rõ phạm vi điều chỉnh theo lãnh thổ của Luật trọng tài. Có thể quy định “Luật này áp dụng đối với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tiến hành ở Việt Nam và trong một số trường hợp, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tiến hành ở nước ngoài”.

Điều 3 khoản 4 định nghĩa khái niệm “tranh chấp có yếu tố nước ngoài”. Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tôi tự hỏi rằng liệu quy định này đã đủ rõ ràng đối với nhà đầu tư nước ngoài chưa, liệu Luật có thể quy định rõ hơn khái niệm này không. Việc dẫn chiếu đến Bộ luật Dân sự ở đây quá chung chung, vì nhà đầu tư nước ngoài sẽ không biết Bộ luật Dân sự quy định như thế nào về vấn đề này.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Về vấn đề này, BLDS chủ yếu lấy lại những quy định của điều ước quốc tế, chẳng hạn về chủ thể tranh chấp, luật pháp áp dụng để giải quyết tranh chấp… Vậy nên dẫn chiếu đến BLDS không có nghĩa là dẫn chiếu đến đạo luật thuần túy của Việt Nam và định nghĩa “yếu tố nước ngoài” trong BLDS hoàn toàn đồng nhất với “yếu tố nước ngoài” mà UNCITRAL hoặc một số điều ước quốc tế đã có quy định.

Xin nói thêm, chúng tôi đã cố gắng không phân biệt trọng tài nước ngoài với trọng tài trong nước. Chỉ phân biệt ở một số điểm: thứ nhất, nếu có yếu tố nước ngoài thì việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp do các bên tự thỏa thuận; thứ hai, các bên được tự do lựa chọn ngôn ngữ sử dụng; thứ ba, địa điểm cũng do các bên lựa chọn.

Bà Montineri:

Chúng tôi đồng ý là Luật này áp dụng thống nhất cho các hình thức trọng tài khác nhau, không nhất thiết phải phân biệt. Nỗi bận tâm của tôi thực ra là ở chỗ phải quy định như thế nào đó để nhà đầu tư nước ngoài không hiểu rằng tranh chấp giữa một công ty Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài sẽ hoàn toàn do pháp luật Việt Nam điều chỉnh. Nói đơn giản hơn, khái niệm “yếu tố nước ngoài” cần phải được định nghĩa rõ ràng để làm cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm trong việc đưa tranh chấp ra Trọng tài Việt Nam giải quyết. So sánh với Luật mẫu, Luật mẫu cho phép các bên thỏa thuận rằng Trọng tài giải quyết tranh chấp là Trọng tài quốc tế, do vậy việc giải quyết tranh chấp sẽ do pháp luật về Trọng tài quốc tế điều chỉnh, hoặc đối với Việt Nam là Luật trọng tài điều chỉnh vì luật này áp dụng chung cho cả trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế nước ngoài. Lựa chọn trọng tài cũng chính là lựa chọn luật áp dụng. Đây là vấn đề rất nhạy cảm đối với các nhà đầu tư nước ngoài nên khái niệm “yếu tố nước ngoài” cần phải được định nghĩa rõ ràng hơn.

Ông Nguyễn Minh Chí:

Vấn đề bà nêu ra đã được giải quyết trong pháp luật Việt Nam. Cụ thể là hiện nay có nhiều vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng không xét xử tại một Trung tâm trọng tài của Việt Nam mà tại nơi khác như SIAC hoặc ICC, chuyện này đã diễn ra chục năm nay. Về luật áp dụng, Dự thảo đã quy định là cứ có yếu tố nước ngoài thì các bên được tự do lựa chọn luật áp dụng. Về địa điểm, các bên cũng tự thỏa thuận. Ngoài ra, còn quy định trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận trong trường hợpTrung tâm trọng tài không có Quy tắc bắt buộc phải áp dụng (đối với Trọng tài quy chế), hoặc trong trường hợp Trọng tài vụ việc.

Đại biểu:

Về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu liệt kê tại Điều 14, tôi lấy một ví dụ. Theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, cũng như một số Luật khác, nếu có một bên nước ngoài (Luật Hàng hải không dùng “yếu tố nước ngoài” mà dùng “tổ chức, cá nhân ở nước ngoài”) thì có thể đưa vụ việc ra Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoài giải quyết. Như vậy, tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân hoàn toàn Việt Nam thì phải đưa ra giải quyết tại Việt Nam. Tuy nhiên, có một số hợp đồng do không hiểu biết các bên lại thỏa thuận là khi có tranh chấp thì sẽ giải quyết tại Trọng tài Hồng Kông và theo luật Hồng Kông. Như vậy đối chiếu theo Bộ luật Hàng hải thì thỏa thuận đó vô hiệu. Tôi không rõ Dự thảo Luật này có đề cập vấn đề đó không.

Câu hỏi thứ hai: Nếu Trọng tài Pháp tiếp nhận đơn khởi kiện khi thỏa thuận trọng tài bị xác định là vô hiệu rồi thì Trọng tài Pháp có thụ lý không hay sẽ bác đơn khởi kiện?

Ông Ancel

Đối với câu hỏi thứ hai, trọng tài có thẩm quyền xác định thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay vô hiệu. Nếu trọng tài xác định thỏa thuận có hiệu lực thì sẽ thụ lý đơn kiện. Đây là nhiệm vụ thông thường của trọng tài. Nếu trọng tài xác định thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì ngay lập tức trọng tài tuyên bố không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp và không thụ lý đơn kiện.

Về câu hỏi thứ nhất, tôi cho rằng các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu cần phải được quy định một cách hạn chế nhưng cũng không thể dự kiến được mọi trường hợp. Cá nhân tôi không thấy những trường hợp khác ngoài những trường hợp quy định tại Điều 14. Các trường hợp này theo tôi đã là hợp lý rồi.

Tuy nhiên, chúng tôi đã gặp một trường hợp hủy phán quyết của trọng tài quốc nội vì trọng tài viên đã đã vi phạm các nguyên tắc mang tính trật tự công. Tôi liên hệ với trường hợp mà chị nêu ra là các bên tranh chấp đã không biết rằng pháp luật Việt Nam quy định cơ quan giải quyết tranh chấp phải là cơ quan Việt Nam và tôi tự hiểu liệu đây có phải là một quy định mang tính trật tự công hay không. Trường hợp này chưa được đề cập trong dự thảo. Tuy nhiên, theo tôi, trong trường hợp chị nêu, trọng tài Hồng Kông giải quyết tranh chấp trong khi luật Việt Nam quy định tranh chấp phải do trọng tài Việt Nam giải quyết, vấn đề đặt ra không phải là thỏa thuận trọng tài vô hiệu mà là phán quyết trọng tài vô hiệu.

Đại biểu

Tôi hiểu rằng khi Trọng tài Hồng Kông nhân được Đơn khởi kiện, nếu người ta chứng minh được rằng theo luật Việt Nam, điều khoản trọng tài đã bị vô hiệu thì Trọng tài sẽ không thụ lý vụ tranh chấp.

Ông Nguyễn Minh Chí

Cần phân biệt 2 khái niệm: chủ thể tranh chấp và nội dung tranh chấp. Có thể chủ thể tranh chấp đều là 2 pháp nhân Việt Nam nhưng nội dung tranh chấp trong nhiều trường hợp lại mang yếu tố nước ngoài, ví dụ VINASHIN với PETRO VIETNAM ký hợp đồng mua bán xăng dầu nhưng hàng lại do một nước khác cung cấp, giao hàng tại một cảng ở nước khác v.v… Chính vì thể, chủ thể đều là Việt Nam nhưng do tính chất của hoạt động mua bán, cung ứng dịch vụ như vậy, luật pháp các nước vẫn cho phép lựa chọn luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp về mặt nội dung, và khi đã chọn luật nước ngoài làm luật nội dung để giải quyết tranh chấp, có thể sẽ có hệ quả là một Trung tâm nước ngoài được lựa chọn để giải quyết tranh chấp.

Mặt khác, nếu quy định ở Điều 2 là Trọng tài chỉ có thẩm quyền như theo quy định của Luật Thương mại và một số luật khác (trong khi một số quan hệ dân sự không được quy định tại các luật này), thì xảy ra trường hợp là khi giải quyết tranh chấp liên quan đến một quan hệ dân sự như vậy, Trọng tài nước ngoài ra phán quyết (vì theo pháp luật của nước đó, quan hệ dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài nước ngoài), bên thua kiện (bên Việt Nam) không chịu thi hành phán quyết và Trọng tài nước ngoài yêu cầu thi hành án tại Việt Nam theo Công ước New York. Tuy nhiên, khi Tòa án Việt Nam xem xét phán quyết thì nhận thấy tranh chấp không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Trọng tài nên Tòa án có thể bác đơn yêu cầu cưỡng chế thi hành. Đây là vấn đề rất đáng lo ngại.

Đại biểu

Trường hợp mà bà Mai nêu ra rất xác đáng, hiện chưa được giải quyết tại Dự thảo. Nếu tranh chấp hoàn toàn liên quan đến nước ngoài nhưng các bên lựa chọn Việt Nam là nơi tiến giải quyết tranh chấp thì Luật này có áp dụng đối với việc giải quyết tranh chấp đó hay không. Điểm này hiện nay chưa rõ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì Dự thảo đầu tiên có điều khoản quy định nếu Trọng tài nước ngoài vào Việt Nam để giải quyết tranh chấp thì phải tuân theo những quy định bắt buộc của Luật Trọng tài này – là những quy định mang tính chất thủ tục để phù hợp với các quy định tương ứng của quốc tế. Tuy nhiên, quy định này sau đó đã bị bác vì sự phân biệt giữa luật nội dung và luật hình thức ở Việt Nam chưa thật sự rõ ràng, ý kiến phản biện nói rằng nếu các bên đã chọn luật nước ngoài thì kể cả khi sang Việt Nam để giải quyết tranh chấp cũng không chịu sự điều chỉnh của Luật Trọng tài này. Hơn nữa, cũng không có bất kỳ quy định nào trong hệ thống pháp luật ViệtNam yêu cầu rằng các doanh nghiệp Việt Nam có tranh chấp hoàn toàn thuần túy Việt Nam thì phải đưa ra giải quyết bởi Tòa án hoặc Trọng tài của Việt Nam. Do đó, nếu 2 công ty thuần túy Việt Nam chọn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài ở Hồng Kông thì khó có thể nói sự lựa chọn đó vi phạm những nguyên tắc cơ bản của Việt Nam. Theo quan điểm của chúng tôi, với những tranh chấp thuần túy hoàn toàn Việt Nam, không có yếu tố nước ngoài, theo như định nghĩa của luật dân sự thì thẩm quyền phải thuộc Tòa án, Trọng tài Việt Nam vì đây là nguyên tắc chủ quyền tài phán theo lãnh thổ. Nhưng chúng tôi thấy rằng trong Luật này phải đưa vào điều khoản về phạm vi áp dụng của Luật trong những trường hợp này.

Đại biểu

Dự Luật này chưa xử lý được các vấn đề đó vì Luật Trọng tài vừa giải quyết luật nội dung vừa giải quyết luật hình thức. Tuy nhiên, các nhà lập pháp của Việt Nam thường thiên về định chế nội dung hơn và thường có thói quen quên hình thức. Thủ tục cần phải minh bạch nên Luật này cần quy định rõ những trường hợp nào sẽ giải quyết bởi Trọng tài trong nước, những trường hợp này sẽ giải quyết theo Trọng tài nước ngoài.

Ông Nguyễn Minh Chí

Cần phân biệt địa điểm giải quyết tranh chấp và luật áp dụng là 02 khái niệm, phạm trù hoàn toàn khác nhau. Có rất nhiều trường hợp doanh nghiệp Việt Nam khi ký hợp đồng với công ty nước ngoài chọn luật để giải quyết tranh chấp là luật của nước người bán, quy tắc là quy tắc tố tụng của ICC nhưng chọn địa điểm giải quyết tranh chấp là một nơi của Việt Nam. Thỏa thuận như vậy không sai nhưng vấn đề đặt ra là: Do chọn quy tắc tố tụng của ICC, người ta sang Việt Nam để tổ chức xét xử tại Việt Nam, vậy những quy định của luật tố tụng trọng tài Việt Nam họ có bắt buộc phải tuân theo hay không, có phải từ bỏ quy tắc tố tụng của ICC để theo quy tắc của Việt Nam hay không? Cho nên, tôi thấy rằng ngôn ngữ xét xử, địa điểm xét xử không quan trọng, luật áp dụng mới là cái cơ bản.

Đại biểu

Theo tôi, đã là Luật Trọng tài thì chúng ta phải tôn trọng ý kiến của các bên, vì nếu chúng ta càng chi tiết hóa yêu cầu về hình thức, về địa điểm thì không khéo chúng ta phải yêu cầu về lựa chọn ngôn ngữ nữa. Theo tôi, khoản 1 Điều 4 Dự thảo đã quy định thỏa đáng: “Khi xét xử tranh chấp trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật”.

Đại biểu

Dự thảo, tại Điều 16, có quy định về quyền khước từ Trọng tài của người tiêu dùng. Hiện Chính phủ cũng đang soạn thảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng, trong đó cũng đưa ra nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng như thế khi tham gia hợp đồng theo mẫu và hợp đồng thương mại chung. Ý tưởng tương tự như điều 16 của dự thảo Luật này nhưng cách viết thì khác vì trong Điều 16 Dự thảo này có nêu rằng thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lực với điều kiện nhà cung cấp thông báo trước và được người tiêu dùng chấp nhận bằng văn bản riêng. Nhiều doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng quy định như vậy sẽ gây ra một sự tốn kém về thủ tục. Câu hỏi của tôi xin nêu ra là: Có nên để Điều 16 trong dự thảo Luật này không hay là để trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng? Bởi vì 02 luật có cùng ý tưởng nhưng nếu cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau thì sẽ rất nguy hiểm.

Ông Nguyễn Minh Chí

Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bà Mai và phải xin lỗi khi đánh máy, người ta đã ghép không đúng những từ ngữ mà chúng tôi đã sửa. Tiêu đề của điều này là “Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng” chứ không phải là “Quyền khước từ Trọng tài của người tiêu dùng”. Chúng ta đang cố tạo ra một Luật Trọng tài đầy hấp dẫn, thu hút, vậy mà đưa Điều 16 này vào lại thành đẩy người ta ra.

Về mặt nội dung, có hợp đồng mẫu, trong đó có điều khoản về trọng tài, giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp. Về nguyên tắc, nhà cung cấp phải thông báo cho người tiêu dùng là nếu có tranh chấp thì tranh chấp sẽ giải quyết bằng Trọng tài mà không phải bằng Tòa án. Nhưng vấn đề là đã có hợp đồng mẫu rồi, nhà cung cấp đã thông báo và bây giờ nhà tiêu dùng lại phải chấp nhận bằng văn bản nữa thì thành ra lại đưa người tiêu dùng vào một trạng thái rắc rối.

Điều 16 cũng sẽ được sửa đổi theo hướng thiết kế chỉ dẫn chiếu sang Luật bảo vệ người tiêu dùng.

Bà Montineri

Điều 6 Dự thảo quy định Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp vụ việc có thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, điều gì xảy ra khi các bên đã ký thỏa thuận trọng tài nhưng sau đó lại không muốn ra trước Trọng tài để giải quyết vụ tranh chấp mà đưa vụ tranh chấp ra trước Tòa án. Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài có thể tiếp tục thủ tục tố tụng trọng tài hay không (đây là giải pháp được khuyến cáo), hay phải chờ xem Tòa án quyết định như thế nào. Tôi không rõ là vấn đề này có được xử lý trong Dự thảo Luật hoặc văn bản nào khác không. Câu hỏi của tôi là: Trong thời gian Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài có thể tiếp tục quá trình tố tụng trọng tài hay phải tạm dừng để chờ đợi quyết định của Tòa án.

Ông Nguyễn Minh Chí

Tôi phải khẳng định là việc Tòa án xác định là thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không có khả năng thực hiện đã được đề cập ở những phần dưới, còn đây là quy định nguyên tắc chung là khi hai bên đã ký thỏa thuận trọng tài rồi nhưng một bên khi có tranh chấp lại cứ ra Tòa án, thì tòa án khi nhìn thấy hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng tài và các bên không có khiếu nại gì hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thì nhìn chung, Tòa án phải từ chối, trừ trường hợp Tòa án xác định thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không có khả năng thực hiện. Nếu sau này, các bên khiếu nại lên Tòa về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì lúc đó, Chánh án Tòa án cấp tỉnh giao cho một thẩm phán xem xét việc này.

Tuy nhiên, nếu hai bên đã ký thỏa thuận trọng tài nhưng sau đó, một bên cứ kiện ra Tòa án và bên kia chấp nhận bằng văn bản việc kiện ra tòa án, thì có nghĩa là hai bên đã tự nguyện thỏa thuận xóa bỏ điều khoản trọng tài và giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho Tòa án. Chỉ lúc này Tòa án mới được thụ lý giải quyết. Còn nếu bên kia không đồng ý bằng văn bản thì Tòa án không có thẩm quyền.

Ông Ancel

Điều 4, khoản 3 quy định việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải đảm bảo bí mật cho các bên tranh chấp. Tôi cho rằng nguyên tắc bảo mật này phải được áp dụng chung, nên có lẽ chỉ cần quy định “Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải đảm bảo bí mật” là đủ.

Về nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền” của trọng tài, luật pháp của Pháp nghiêm cấm thẩm phán xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trước khi Hội đồng trọng tài xem xét vấn đề đó. Tuy nhiên, Dự thảo Luật của Việt Nam quy định có thể yêu cầu Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ngay từ đầu. Tôi không có bình luận đặc biệt nếu đó là một sự lựa chọn của người soạn thảo Luật và tôi nghĩ rằng quy định như vậy có thể không bị phản đối nếu việc khởi kiện sơ bộ này trước tòa án diễn ra trong thời gian rất ngắn, để tránh nguy cơ một vụ kiện trước (nghĩa là kiện trước khi kiện về nội dung), đặc biệt là khi một bên không muốn vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nên cố tình trì hoãn quá trình tố tụng bằng việc khiếu nại ra tòa án về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Về vấn đề quan hệ giữa Tòa án và Hội đồng trọng tài, dự thảo mới đã bỏ nội dung này. Dự thảo trước đã quy định cụ thể nhiệm vụ hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài. Tôi thấy rằng điều này là hữu ích bởi nó chỉ ra rằng Tòa án can thiệp với tư cách hỗ trợ cho trọng tài.

Ông Nguyễn Minh Chí

Điều 7 xác định Tòa án nào có thẩm quyền hỗ trợ đối với Trọng tài, còn Điều 8 trước kia quy định cụ thể những lĩnh vực Tòa án hỗ trợ Trọng tài. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này đã được quy định rải rác trong toàn bộ Dự thảo rồi nên nếu để thành một điều riêng sẽ dễ làm cho người đọc lẫn lộn.

Bà Montineri

Về Điều 8 “trọng tài và thương lượng, hòa giải”, tôi cho rằng cần bổ sung vào khoản 3 là: “không một thông tin nào được trao đổi có thể được viện dẫn như bằng chứng trước trọng tài và trước tòa án”. Đây là vấn đề tế nhị đối với các bên bởi các bên đã đưa ra các bằng chứng trung thực để cố gắng hòa giải thành nhưng lại lo so rằng các bằng chứng này có thể được sử dụng để chống lại mình trước tòa án. Tôi cho rằng điều này phải được áp dụng đối với cả trọng tài và tòa án giống như quy định của Luật mẫu của UNCICTRAL.

Đại biểu

Pháp luật Việt Nam có quy định phương thức trung gian không (khác với hòa giải)?

Đại biểu

Pháp luật Việt Nam không chấp nhận trung giam mà chỉ chấp nhận hòa giải trong tố tụng Tòa án hoặc hòa giải trong tố tụng trọng tài, còn hòa giải trong thương mại thì không có. Còn có một loại hình hòa giải khác nữa, gọi là hòa giải cộng đồng.

Bà Montineri

Về Điều 9, trong cuộc họp mới đây của nhóm làm việc về trọng tài của UNCITRAL, các chuyên gia đã lưu ý chúng tôi là trong các tranh chấp quốc tế (liên quan đến khoản 2 Điều 9 dự thảo Luật), cần nêu rõ ngôn ngữ hoặc “các” ngôn ngữ được sử dụng trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Ông Nguyễn Minh Chí

Ý kiến của Bà theo tôi là đúng vì các tranh chấp quốc tế liên quan đến nhiều bên thuộc các quốc tịch khác nhau (Anh, Pháp, Ả Rập, Ấn độ…). Trên thực thế, chúng tôi đã xử lý là người nào sử dụng tiếng nước của người đó thì phải thuê phiên dịch để dịch cho mình ra ngôn ngữ đã thỏa thuận. Vấn đề này chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm để quy định rõ hơn, phân biệt rõ giữa ngôn ngữ từng bên sử dụng với ngôn ngữ các bên sử dụng trong tố tụng.

Bà Montineri

Về Điều 11 khoản 3, đoạn cuối của khoản này quy định rằng “nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tôi nghĩ rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ khó chấp nhận quy định này vì họ không biết được rõ “các nguyên tắc cơ bản” này là gì.

Ông Nguyễn Minh Chí

Đúng là khái niệm “những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” chưa cụ thể. Tuy nhiên, khái niệm này được nêu trong rất nhiều văn bản luật của Việt Nam. Vừa rồi chúng tôi đưa ra khái niệm phổ biến đối với các nước là “public policy” – “trật tự công”, “chính sách công” và giải thích đây là những chủ trương, chính sách mà Nhà nước áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của đất nước và an sinh xã hội. Tuy nhiên, các đại biểu nói rằng từ xưa đến nay không có khái niệm như vậy, nên chúng tôi đã rút ra.

Đại biểu

Về ý kiến của ông Chí, không riêng gì khối lập pháp mà ngay cả khối Chính phủ cũng không đồng ý với cụm từ ông vừa nêu vì cụm này chỉ là du nhập trong nghiên cứu.

Về khái niệm “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật”, có thể lý giải như sau. Việt Nam coi rằng tất cả các nguyên tắc cơ bản được chứa đựng trong Hiến pháp. Các nguyên tắc cơ bản cũng được chứa đựng trong các luật chính, ví dụ Điều 5 của BLDS và Điều 4 của Luật Hôn nhân và gia đình – đều giống nhau về nguyên tắc cơ bản, liên quan đến quyền và lợi ích của dân tộc thiểu số, theo đó họ được phép áp dụng những tập quán, những truyền thống luật của họ nếu những tập quán, truyền thống đó không trái với đạo đức xã hội và không trái với Hiến pháp.

Ông Ancel

Về vấn đề này, luật pháp của Pháp sử dụng khái niệm “trật tự công quốc tế”. Chắc là khái niệm này chưa tồn tại trong pháp luật Việt Nam.

M. Chí

Vì Việt Nam chưa có khái niệm này nên chúng tôi đã phải rút ra khỏi dự thảo Luật. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng những luật sau phải tiến bộ hơn những luật trước và phải đưa ra những khái niệm khoa học, thích hợp với sự phát triển kinh tế, thương mại.

Đại biểu

Nếu không quy định về nguyên tắc trật tự công hoặc trật tự công quốc tế trong dự thảo Luật này thì có ảnh hưởng gì tới việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài không, đặc biệt khi Việt Nam thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Ông Ancel

Khái niệm “trật tự công quốc tế” là một khái niệm được chấp nhận bởi phần lớn pháp luật các nước. Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam lại không sử dụng khái niệm này, một khái niệm đã được nhiều nước biết đến, được thừa nhận bởi đa số các nước trong các lĩnh vực quốc tế. Nếu các bạn sử dụng khái niệm “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thì có thể hiểu rằng khái niệm này nhằm vào trật tự công của luật nội địa, nghĩa là pháp luật Việt Nam có vị trí có vị trí cao hơn trật tự công quốc tế. Quan niệm này khó có thể được các nước khác chấp nhận. Tôi cho rằng lý lẽ đưa ra ở đây là khái niệm “trật tự công quốc tế” đã được thừa nhận trong hệ thống pháp luật nhiều nước trên thế giới và sẽ đáng tiếc nếu Việt Nam không thừa nhận khái niệm này. Mặt khác, nó cũng đảm bảo cho các tòa án Việt Nam có thể từ chối công nhận một phán quyết trọng tài nước ngoài trái với trật tự công quốc tế, nghĩa là trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật được thừa nhận trên toàn thế giới.

Bà Montineri

Tôi xin bổ sung thêm là khái niệm “nguyên tắc chung của pháp luật” phải được hiểu rất rộng, rộng hơn khái niệm “trật tự công” rất nhiều. Chúng tôi được biết là các nước đều không phân biệt giữa “trật tự công quốc gia” và “trật tự công quốc tế”. Khái niệm “trật tự công” tồn tại trong các hệ thống pháp luật, dù thuộc bất kỳ truyền thống pháp lý nào. Đó là “public policy” trong tiếng Anh hay “ordre public” trong tiếng Pháp. Chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp cho các bạn, thông qua Nhà Pháp luật, những tài liệu về trật tự công, trật tự công quốc tế, sự khác nhau giữa các khái niệm này với khái niệm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật.

Ông Ancel

Chúng ta tiếp tục nghiên cứu Chương II – Thỏa thuận trọng tài.

Về Điều 14 – Các hình thức thỏa thuận trọng tài, tôi thấy quy định của Dự Luật đã rõ ràng, đầy đủ và đã đưa vào những hình thức mới của thỏa thuận trọng tài. Tôi cũng cho rằng quy định về thỏa thuận trọng tài ngầm, nghĩa là xuất phát từ trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên, rất tốt. Với quy định này, các bên không thể phản đối sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài. Tòa án có thể áp đặt Thỏa thuận trọng tài đối với bên phủ nhận Thỏa thuận trọng tài khi bên này đã chấp nhận thỏa thuận đó trong quá trình trao đổi thông tin bằng văn bản với bên kia.

Về vấn đề Thỏa thuận trọng tài vô hiệu, tôi lo ngại một chút về trường hợp các bên có thể khiếu nại trước về vấn đề này. Quy định này có bất cập là có thể làm chậm chễ việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, điều đó mâu thuẫn với chính bản chất của Thỏa thuận trọng tài và tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài được quy định tại điều tiếp theo. Tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài gắn liền với tính hiệu quả của Thỏa thuận trọng tài, nghĩa là Thỏa thuận trọng tài phải được thực hiện, các bên phải đưa tranh chấp ra trước Trọng tài. Tôi hơi lo ngại là trước khi việc giải quyết bằng trọng tài được tiến hành, các bên lại kiện ra Tòa án để yêu cầu xem xét hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài. Do vậy, tôi đặt câu hỏi là liệu có nên giữ lại quy định về việc khởi kiện ra Tòa án trước khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra. Bởi lẽ sau này, khi đã có phán quyết trọng tài, Tòa án hoàn toàn có quyền kiểm tra tính hợp thức của phán quyết, trong đó bao gồm cả kiểm tra hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Bảo đảm này theo tôi đã là đủ đối với các bên.

Ông Nguyễn Minh Chí

Về vấn đề thứ nhất liên quan đến hình thức của Thỏa thuận trọng tài, thực ra dự thảo Luật lấy lại y nguyên quy định của UNCITRAL, kể cả trường hợp hai bên dẫn chiếu đến một hợp đồng mẫu, trường hợp hai bên dẫn chiếu đến những chứng từ liên quan tới hợp đồng, và trường hợp một bên kiện trọng tài bằng văn bản và bên kia cũng thể hiện ý chí của mình là không phủ nhận thì vẫn coi như Thỏa thuận trọng tài được thành lập.

Về vấn đề thứ hai mà ông nêu ra, quy trình như sau. Nếu một bên cho rằng Thỏa thuận trọng tài là vô hiệu hoặc không có khả năng thực hiện được thì Hội đồng trọng tài sẽ xem xét và ra quyết định về vấn đề này. Sau khi Hội đồng trọng tài đã ra quyết định mà nếu một trong các bên đương sự thấy cần phải khiếu nại tiếp thì sẽ đưa ra tòa để yêu cầu Tòa án xem xét lại thẩm quyền của Trọng tài, kể cả hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài. Điều đó có nghĩa là Tòa án không tự mình can thiệp ngay từ đầu để xem xét thẩm quyền của trọng tài cũng như hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Bà Montineri

Điều 14, khoản 3 quy định “người xác lập Thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự”. Quy định này được hiểu là đối với một người nước ngoài là một bên trong vụ tranh chấp giải quyết bởi Trọng tài, năng lực hành vi của người đó được xác định theo pháp luật Việt Nam. Tôi băn khoăn không biết quy định như vậy có chặt chẽ không vì năng lực hành vi của một người thường được xác định theo luật của nước mà người đó mang quốc tịch. Do đó, khoản 3 chỉ phù hợp với Trọng tài trong nước còn đối với Trọng tài quốc tế, khoản này sẽ làm hạn chế thẩm quyền của Trọng tài trong việc đánh giá năng lực hành vi của các bên.

Ông Ancel

Để khắc phục bất cập này, chỉ cần bỏ cụm từ “theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

Đại biểu

Về Thỏa thuận trọng tài, tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Ancel. Theo quy định của dự thảo Luật, vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có thể bị xem xét hai lần. Cơ chế này rất mất thời gian nên chỉ nên quy định là Tòa án sẽ xem xét vấn đề đó khi đã có phán quyết trọng tài và một bên không đồng ý với phán quyết và yêu cầu hủy phán quyết.

Ông Nguyễn Minh Chí

Vấn đề thời gian thực ra đã được xử lý trong dự thảo rồi vì dự thảo quy định trong thời gian Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài vẫn có thể tiến hành tố tụng một cách bình thường.

Về khoản 3 Điều 14, chúng tôi sẽ phải cân nhắc thêm để có quy định phù hợp. Bởi vì đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước khi ký hợp đồng với nhau, quốc tịch của họ đều là quốc tịch Việt Nam, nhưng đối với những hợp đồng kinh tế thương mại mang tính quốc tế, chắc chắn sẽ có một bên là cá nhân, tổ chức nước ngoài nên đặt ra vấn đề việc xem xét thẩm quyền ký kết hợp đồng của họ phải căn cứ vào luật nước họ hay luật Việt Nam. Việt Nam đang tiến hành hội nhập kinh tế, liệu chúng ta có thể bắt quốc tế và thế giới theo quy định của mình được hay chăng. Cách đây 2 năm ở Trung tâm Trọng tài Quốc tế, chúng tôi đã xử 1 vụ kiện như thế này. Ở Việt Nam, khi Phó Giám đốc hoặc Giám đốc chi nhánh đi ký hợp đồng bao giờ cũng phải có ủy quyền của pháp nhân đó thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, các tập đoàn của các nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức… khi thiết lập hoạt động tại các khu vực khác nhau (Châu Á – Thái Bình Dương, Châu Âu, Châu Phi, v.v…), bao giờ cũng có một General Manager phụ trách khu vực đó. Điều lệ của Tập đoàn quy định người này có quyền thay mặt Tập đoàn ký kết hợp đồng mà không cần bất cứ sự ủy quyền nào. Đó là quy định của nước ngoài, vậy chúng ta có buộc phải tôn trọng không? Bởi lẽ nếu áp dụng luật Việt Nam thì Chủ tịch hoặc Tổng Giám đốc của tập đoàn đó chỉ có mỗi một việc là ký các giấy ủy quyền chưa chắc đã đủ thời gian khi mà tập đoàn có hàng nghìn hợp đồng ký kết. Do vậy, theo tôi trong trường hợp này chúng ta cần xác lập địa vị pháp lý của một pháp nhân hay cá nhân căn cứ vào pháp luật mà họ mang quốc tịch thì sẽ chuẩn hơn. Chúng tôi sẽ nghiên cứu xem có nên bỏ đoạn “theo quy định của BLDS Việt Nam” hay không.

Đại biểu

Tôi nhất trí với ý kiến của ông Ancel về việc xác định năng lực hành vi của những người được ký Thỏa thuận trọng tài, bởi vì trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và bản thân tôi đang làm nhiệm vụ, đặt ra vấn đề xác định năng lực hành vi của các đối tác nước ngoài – chính là công ty GLIT. Công ty này do 3 người cùng một lúc đại diện nhưng khi cả 3 người này đã giao cho một người thứ tư đứng ra ký kết hợp đồng cũng như Thỏa thuận trọng tài, có giấy ủy quyền của cả 3 người về việc này, thì chúng tôi thấy trường hợp này chấp nhận được dù pháp luật Việt Nam có thể quy định khác.

Chúng tôi cũng đã gặp những trường hợp như ông Chí nêu. Nếu chúng ta chỉ chấp nhận những người như Tổng Giám đốc hay Chủ tịch ký kết hợp đồng mà không chấp nhận đối với Giám đốc Khu vực thì rõ ràng là chúng ta tự đưa mình vào một thế bí, thậm chí theo thông lệ chúng tôi phải làm nhiều thủ tục rất thừa là làm công văn dịch ra tiếng nước kia hỏi ông Chủ tịch tập đoàn xem có đồng ý cho Giám đốc Khu vực ký kết hợp đồng không… Nếu Điều lệ công ty đã quy định thì chúng ta nên chấp nhận mà không nên quá câu nệ việc đó.

Ngoài quy định của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, Nghị quyết của Tòa án Tối cao có quy định rằng, trước khi gửi đơn đề nghị Trọng tài giải quyết, các đương sự nếu có tranh chấp về hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài thì có quyền gửi đơn ra Tòa án để Tòa án xem xét trước việc đó. Nếu Tòa án thấy có đủ cơ sở hoặc thậm chí, trước đó các bên có việc ủy quyền chưa hợp pháp nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết, người đứng đầu pháp nhân Công ty xác nhận đồng ý với thỏa thuận trọng tài thì Tòa án vẫn công nhận Thỏa thuận trọng tài hợp pháp.

Trở lại Dự thảo Luật, các đương sự có quyền khiếu nại về việc Thỏa thuận trọng tài có hợp pháp hay không. Hội đồng trọng tài có quyền giải quyết khiếu nại đó trước nhưng nếu đương sự không đồng ý thì có quyền gửi đơn ra tòa. Trong khi Tòa án giải quyết, Hội đồng Trọng tài vẫn được tiếp tục làm việc. Tuy nhiên, trên thực tế, Hội đồng trọng tài vẫn phải đợi xem tòa án quyết định như thế nào bởi vì phán quyết có thể bị hủy, có thể được công nhận phụ thuộc vào quyết định đó của tòa án. Do vậy, theo tôi quy định nêu trên chỉ mang tính hình thức.

Ông Nguyễn Minh Chí

Tôi đồng ý là trọng tài viên có băn khoăn, nhưng không thể biến băn khoăn thành quy định của pháp luật. Một điều nữa rất quan trọng là có khá nhiều vụ việc được đưa đến VIAC là một anh bị kiện và cũng biết rằng khả năng là mình thua kiện nên tìm mọi cách để khiếu nại trọng tài vượt quá thẩm quyền, Thỏa thuận trọng tài mặc dù đã ký nhưng giờ phát hiện là thỏa thuận vô hiệu hoặc mập mờ không rõ ràng, mục đích là kéo dài việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài để họ tránh phán quyết của trọng tài. Do đó, nếu chúng ta không có những quy định cứng rắn thì không cẩn thận chúng ta rơi vào tình trạng để cho bên thiếu thiện ý lợi dụng quy định để thoát trách nhiệm.

Đại biểu

Tòa án sẽ phải xem xét 2 lần hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Trong khi đó, tư tưởng của Ủy ban Quốc hội bây giờ là muốn giảm bớt gánh nặng của Tòa án. Vậy, tôi muốn hỏi chuyên gia là nếu chúng ta bỏ hẳn đoạn đầu đi – tòa án phải xem xét quyết định trọng tài về thỏa thuân trọng tài có vô hiệu không – thì có được không? UNCITRAL có quy định nhưng Việt Nam không quy định thì có được không? Hội đồng trọng tài giải quyết và ra quyết định trọng tài, sau đó nếu không đồng ý thì đương sự yêu cầu Tòa án xem xét hủy quyết định trọng tài. Như vậy, Tòa án sẽ chỉ xem xét một lần thôi, điều đó sẽ giảm bớt sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài.

Về điều 14 khoản 2 “người xác lập Thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Vậy thì theo quy định của pháp luật nào, pháp luật quốc tế hay pháp luật Việt Nam. Chúng tôi hiểu là pháp luật Việt Nam, nhưng như thế thì người ký thỏa thuận trong tài phải là người đứng đầu pháp nhân theo pháp luật hoặc là người được ủy quyền. Do vậy, tôi nghĩ quy định này chưa chặt chẽ.

Bà Montineri

Bản thân tôi không cho rằng Luật mẫu khuyến khích việc khởi kiện trước Tòa án để quyết định về tính có hiệu lực của quyết định trọng tài. Tuyệt nhiên không phải là như vậy mà ngược lại. Điều duy nhất trong Luật mẫu quy định về vấn đề này là Điều 8 – quy định rằng nếu vụ việc được đưa ra trước Tòa án khi có Thỏa thuận trọng tài giữa các bên thì Tòa án phải chuyển vụ việc sang cho Trọng tài giải quyết, trừ trường hợp Thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Đó là lời văn của Công ước New York. Dự thảo Luật của các bạn cũng có quy định tương tự. Tuy nhiên, Luật mẫu không có quy định tương đương với Điều 14 của dự thảo Luật.

Về vấn đề thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài của các bên được xác định theo quy định của pháp luật, theo tôi, pháp luật ở đây được hiểu theo nghĩa rộng – là pháp luật trọng tài – pháp luật về trọng tài quy định rằng khi có bên nước ngoài thì Trọng tài sẽ xác định áp dụng pháp luật phù hợp, thông thường là pháp luật của nước mà các bên mang quốc tịch.

Ông Ancel

Về thẩm quyền của người đại diện công ty, thực tiễn xét xử của Pháp đã có nhiều thay đổi. Nhiều công ty nghĩ rằng sẽ bị thua kiện khi vụ tranh chấp được đưa ra Trọng tài giải quyết nên lấy lý do rằng thỏa thuận trọng tài đã được ký kết bởi người không có thẩm quyền. Đây chỉ là cái cớ của các công ty vì trên thực tế, họ thường cử những người hoàn toàn có thẩm quyền ký kết hợp đồng và Thỏa thuận trọng tài. Để làm thất bại ý định này, Tòa Phá án Pháp vào tháng 7 vừa rồi đã ra một bản án, theo đó trong trường hợp như vậy, người ký kết hợp đồng được suy đoán là có thẩm quyền ký kết trừ trường hợp doanh nghiệp chứng minh được người đó không có thẩm quyền. Tòa phá án cho rằng đây là một nguyên tắc của luật quốc tế, do đó không cần phải tìm luật quốc gia là Pháp hay Việt Nam để áp dụng, chỉ cần căn cứ vào nguyên tắc đó để xác định người ký kết hợp đồng là có thẩm quyền.

Ông Nguyễn Minh Chí

Luật mẫu của UNCITRAL có quy định về việc đưa vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ra Tòa án xem xét. Chúng ta biết rằng khi một Thỏa thuận trọng tài thực sự vô hiệu mà tòa án và tất cả các bên cứ để Trọng tài giải quyết trên cơ sở Thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì sẽ rất bất cập vì quá trình tố tụng kéo dài nhiều tháng, rồi đến khi có một bên khiến nại thì Tòa án mới ra quyết định (còn phải lập Hội đồng thẩm phán) tuyên bố Thỏa thuận trọng tài vô hiệu, nên phán quyết trọng tài bị hủy bỏ. Như vậy vô hình chung chúng ta đã tạo ra quá trình tố tụng vô ích của Hội đồng trọng tài, hao người tốn của. Vì thế, nên chặn ngay từ đầu nguy cơ này bằng việc đưa vào Luật và quy định rằng việc quyết định Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không được giao cho một thẩm quán, quyết định của thẩm phán là quyết định cuối cùng. Làm như vậy đơn giản hơn. Tôi cho rằng UNCITRAL khi đưa ra Luật mẫu đã tính đến các trường hợp này chứ không đơn giản là vì chúng ta sợ Tòa án phải can thiệp hai lần nên cứ để Trọng tài xử.

Đại biểu

Y kiến của tôi là Điều 14 khoản 2 và khoản 3 không có vấn đề gì. Vì BLDS Việt Nam không những bao gồm luật nội dung mà còn cả xung đột luật. Điều 762 BLDS quy định năng lực hành vi của người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước người đó là công dân. Do sự dẫn chiếu này của BLDS đến pháp luật nước ngoài như vậy nên quy định của Việt Nam không trái với thông lệ quốc tế.

Về khoản 2, tôi cũng đồng ý với ông Tuấn Anh rằng nên làm rõ ra là theo quy định của BLDS hay theo quy phạm xung đột luật của BLDS.

Riêng về sự can thiệp của Tòa án, tôi có ý kiến khác như sau: Tòa án Việt Nam không chỉ tuyên 2 lần mà là 3 lần. Điều 6 quy định rằng khi các bên đưa tranh chấp ra Tòa án thì Tòa án phải từ chối trừ trường hợp Tòa thấy rằng Thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ quy tắc Luật mẫu của UNCITRAL nhưng phần Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được – tiếng Anh là “inoperative” và “incapable of performance” thì trong tiếng Việt, không thể dùng hai cụm từ khác nhau được nên khi dịch ra tiếng Việt, chúng tôi chỉ dùng được 1 cụm từ thôi vì theo tiếng Việt hai cụm từ này là một. Đó là lý do tại sao bản tiếng Việt lại hơi khác với bản tiếng Anh.

Điều quan trọng là ở Việt Nam, khái niệm về tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài được hiểu rất đơn giản là nếu hợp đồng chính bị vô hiệu thì Thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực. Theo ông ancel, luật điều chỉnh Thỏa thuận trọng tài không chắc là luật điều chỉnh hợp đồng. Nhưng ở Việt Nam, người ta hiểu rằng nếu luật điều chỉnh hợp đồng đã chọn rồi thì đương nhiên sẽ điều chỉnh Thỏa thuận trọng tài. Thông thường, chúng tôi chỉ viện dẫn luật trọng tài để xem xét giá trị pháp lý của Thỏa thuận trọng tài, nhưng theo quan điểm cá nhân tôi, Thỏa thuận trọng tài cũng là một hợp đồng dân sự và theo quy định của pháp luật Việt Nam, thỏa thuận đó phải do luật hợp đồng dân sự của Việt Nam điều chỉnh, bởi lẽ pháp luật về trọng tài không quy định về vô hiệu từng phần của Thỏa thuận trọng tài và cũng không quy định nếu vi phạm nguyên tắc cơ bản của Việt Nam thì Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không. Có ý kiến nói rằng phán quyết của trọng tài không phải là chung thẩm và có thể bị kháng cáo, đó là trái với nguyên tắc của luật trọng tài, nhưng nó có bị vô hiệu không? Theo luật trọng tài là không, nhưng theo quan đểm cá nhân tôi, để xác định luật điều chỉnh cho Thỏa thuận trọng tài thì không chỉ căn cứ vào luật trọng tài này mà phải căn cứ vào luật gốc là luật hợp đồng của Việt Nam nếu như chọn luật Việt Nam để xác định Thỏa thuận trọng tài có giá trị pháp lý hay không. Vấn đề là ở chỗ như sau: nếu các bên đưa Thỏa thuận trọng tài ra Tòa án xem xét thì đầu tiên Tòa án phải xác định Thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay không theo Điều 6, nhưng luật hợp đồng của Việt Nam quy định trong trường hợp hợp đồng dân sự bị coi là vô hiệu thì trong một thời hạn nhất định, các bên có quyền đệ đơn yêu cầu tuyên hợp đồng dân sự vô hiệu và như vậy, nếu xét theo luật hợp đồng của Việt Nam quá thời hạn trên, các bên không còn quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu nữa.

Về Điều 45 khoản và 69 khoản 1, tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến ông Chí là trong trường hợp các bên phản đối về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài (ngoài căn cứ Thỏa thuận trọng tài vô hiệu còn có rất nhiều trường hợp khác nữa) thì Tòa án phải can thiệp để ngăn chặn ngay từ đầu, tránh những hậu quả như ông chí đã nêu. Như vậy các quy định này hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật mẫu UNCITRAL.

Về mặt thực tế, tôi cũng đồng ý với quan điểm với ông Cường là khi một bên nộp đơn ra Tòa án trước khi Trọng tài ra phán quyết, thông thường Hội đồng trọng tài cũng dừng việc giải quyết để chờ quyết định của Tòa án về thẩm quyền của Trọng tài khi nhận thấy sau khi xem xét sơ bộ là Tòa án có thể tuyên Thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Ông Nguyễn Minh Chí

Về ý kiến cuối cùng của ông Dũng, Dự thảo sử dụng từ “có thể” , tức là Hội đồng trọng tài có thể tiếp tục giải quyết, có thể không tùy theo cảm nhận của bản thân về việc Tòa án sẽ tuyên về hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài như thế nào.

Thứ hai về tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài đối với hợp đồng, cần phân biệt 2 trường hợp: Một là hợp đồng vô hiệu kéo theo Thỏa thuận trọng tài vô hiệu (ví dụ: người ký kết hợp đồng không có thẩm quyền, người ký kết hợp đồng không có năng lực hành vi). Trường hợp 2 chẳng hạn như đối tượng của hợp đồng là hàng cấm, hoặc phải là kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng được điều kiện thì Thỏa thuận trọng tài được ký kết để giải quyết những thiệt hại phát sinh trong quan hệ giữa 2 bên thì Thỏa thuận trọng tài này vẫn có hiệu lực. Do đó, cần có sự phân tích rạch ròi các trường hợp để có thể hiểu đúng tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài.

Đại biểu

Những trường hợp hợp đồng ký vi phạm liên quan đến hàng cấm hoặc hợp đồng không được phép ký mà vẫn ký như ông Chí vừa nêu chưa được quy định tại Điều 14. Hoặc có những vụ án mà hai bên thỏa thuận với nhau bằng tiếng Anh nhưng Hội đồng trọng tài xét xử bằng tiếng Việt Nam thì có một bên khiếu nại. Tòa Hà Nội đã chấp nhận quyết định của Hội đồng trọng tài nhưng lên Tòa án Tối cao lại bị hủy. Như vậy, chúng tôi sẽ căn cứ vào đâu để tuyên hợp đồng vô hiệu? Điều 14 cần được sửa đổi lại để bao hàm tất cả các trường hợp có thể xảy ra, vì hiện tại điều này mới chỉ quy định những trường hợp vô hiệu về hình thức mà không có những trường hợp vô hiệu về mặt nội dung.

Bà Montineri

Về khả năng vô hiệu của Thỏa thuận trọng tài, Luật mẫu chỉ nêu những trường hợp chính vì không thể liệt kê tất cả các trường hợp. Tôi nghĩ là Điều 14 là để giúp đỡ, hướng dẫn cho các trọng tài viên, không thể bao gồm được tất cả các trường hợp Thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Ngoài ra, tôi không chắc rằng khi đọc khoản 3, người nước ngoài sẽ hiểu quy định này dẫn chiếu đến các quy phạm xung đột pháp luật của BLDS.

Ông Ancel

Nên sửa lại thành “luật áp dụng” thì hợp lý hơn.

Về Chương “Trọng tài viên”, Dự Luật quy định thẩm phán không được làm trọng tài viên. Đó là quy định có trong luật pháp của Pháp từ năm 1999. Tôi đặt ra câu hỏi: Liệu chúng ta có không chấp nhận một thẩm phán làm trọng tài viên trong lĩnh vực quốc tế nếu thẩm phán Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, ví dụ một công ty Mỹ cung cấp vật liệu đường sắt tại Singapore và việc giải quyết tranh chấp thực hiện ở Hà Nội? Trong trường hợp này, thẩm quyền của thẩm phán Việt Nam không có liên quan. Vậy, có thể chấp nhận cho thẩm phán làm trọng tài viên quốc tế được không? Ở Pháp là không thể.

Bà Montineri

Điều 18 khoản 1 điểm b quy định trọng tài viên có quyền độc lập trong việc giải quyết vụ tranh chấp. Tôi nghĩ rằng đây là một nghĩa vụ, không phải quyền, nên chuyển xuống khoản dưới.

Ông Ancel

Nghĩa vụ tuân thủ đạo đức nghề nghiệp rất quan trọng. Các bạn đã có văn bản nào quy định về đạo đức nghề nghiệp của trọng tài viên chưa?

Ông Nguyễn Minh Chí

Về việc thẩm phán có thể trở thành trọng tài viên trong những vụ tranh chấp quốc tế không, Dự Luật (Điều 17) quy định chủ yếu về các trọng tài viên thuộc các trung tâm trọng tài, có tính chất nội địa, còn điều mà Ông Ancel nêu liên quan đến trọng tài vụ việc, có thể chỉ định thẩm phán làm trọng tài viên để xét xử tranh chấp nào đó ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều này chúng tôi chưa tính tới. Hơn nữa, ở Việt Nam nếu chuyện này xảy ra chắc cũng phải khoảng 10 năm nữa.

Về tính độc lập như bà chuyên gia nêu, tính độc lập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ. tùy theo từng trường hợp. Đặt vào chỗ nào tôi thấy không quan trọng lắm.

Đại biểu

Về vấn đề thẩm phán Việt Nam có thể làm trọng tài viên trong lĩnh vực quốc tế hay không, đọc Dự luật, tôi hiểu là quy định ở đây áp dụng cho cả trọng tài vụ việc chứ không phải là chỉ với các trung tâm trọng tài. Nên quy định rõ trong Dự Luật là áp dụng hoặc không áp dụng để cấm luôn.

Ông Nguyễn Minh Chí

Như vậy, đề nghị các chuyên gia giải đáp trường hợp sau, liên quan đến trọng tài quy chế: Một vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên tranh chấp có quyền lựa chọn trọng tài viên, nếu vụ tranh chấp đưa lên VIAC, một bên chọn một trọng tài viên của VIAC, bên kia chọn một trọng tài viên nước ngoài nhưng đồng thời là thẩm phán ở nước ngoài đó. Việc Hội đồng trọng tài được thành lập như vậy có hợp pháp theo quy định của pháp luật về trọng tài không?

Bà Montineri

Tôi có một câu hỏi như sau: Việc giải quyết bằng Trọng tài diễn ra ở Việt Nam đối với một vụ tranh chấp trong đó một bên là Việt Nam, một bên là nước ngoài (đây là trường hợp trọng tài quy chế) thì được coi là Trọng tài quốc tế hay Trọng tài Việt Nam? Vấn đề này có tác động đối với nhà đầu tư nước ngoài. Luật mẫu có sự phân biệt: nếu là Trọng tài quốc tế thì các bên nước ngoài được hưởng Công ước New York, chẳng hạn, trong việc thi hành và thực hiện phán quyết trọng tài do các trung tâm của Việt Nam đưa ra.

Ông Nguyễn Minh Chí

Nếu vụ việc được đưa ra Trọng tài quy chế, ví dụ VIAC, thì dù là một thậm chí 2 trọng tài viên là người nước ngoài, việc xét xử sẽ do một trung tâm đứng ra tổ chức của Việt Nam. Nhưng vì có yếu tố nước ngoài nên các bên tranh chấp mới được quyền chọn trọng tài viên, kể cả trọng tài viên của nước ngoài, tức là việc xét xử phải theo pháp luật Việt nam nhưng pháp luật Việt Nam quy định nên các bên mới được phép chọn trọng tài viên nước ngoài.

Vấn đề tôi đã nêu là giả sử một thẩm phán đến một trong các trung tâm trọng tài, liệu bên thua kiện khi khiếu nại lên Tòa án là Hội đồng trọng tài thành lập trái với quy định về Trọng tài thì Tòa án có huỷ phán quyết Trọng tài hay không?

Đại biểu

Theo tôi hiểu, tất cả thành viên trong Tổ biên tập đều thống nhất là áp dụng cho tất cả các trọng tài viên quốc tế hay trọng tài viên trong nước, Trọng tài quy chế hay Trọng tài vụ việc mà không có phân biệt. Tuy vậy, có khoản 4 là vì chúng tôi phải thiết kế để phù hợp với luật nội địa của Việt Nam – Pháp lệnh về thẩm phán, Pháp lệnh về công chức, trong đó cấm thẩm phán hoặc công chức Nhà nước liên quan đến vụ việc tư.

Về Điều 17, nhiều cán bộ trong ngành Tư pháp có ý kiến rằng Luật mẫu của UNCITRAL cũng như luật pháp nhiều nước không hề đặt ra tiêu chuẩn đối với trọng tài viên. Đặt tiêu chuẩn trọng tài viên trong Luật sẽ hạn chế Trọng tài vụ việc và không phù hợp với thông lệ quốc tế và có một số ý kiến rằng tiêu chuẩn trọng tài viên này chỉ nên áp dụng đối với Trọng tài quy chế ở trong nước thôi chứ không áp dụng với Trọng tài vụ việc và Trọng tài quốc tế. Đề nghị các chuyên gia cho rằng nếu có quy định như vậy thì quy định này có thể bị coi là phân biệt đối xử giữa trọng tài viên Việt Nam và trọng tài viên nước ngoài hay không và quy định tại Điều 17 này có được coi là ngăn chặn, cản trở việc quốc tế hóa đội ngũ trọng tài viên của Việt Nam hay không trong việc mời trọng tài viên quốc tế giải quyết tranh chấp tại Việt Nam?

Về Điều 18 khoản 1 điểm b về tính độc lập, tôi đồng ý với ý kiến của ông Chí rằng đây có thể là quyền, có thể là nghĩa vụ. Tuy nhiên khi soạn thảo điều này chúng tôi đặt trong ngữ cảnh của Việt Nam, chúng tôi muốn thể hiện với các cơ quan hữu quan hoặc các bên liên quan rằng đó là quyền của trọng tài viên cần được tôn trọng, và như vậy trọng tài viên cũng yên tâm hơn khi giải quyết tranh chấp.

Về khoản d, tôi xin trả lời: Hiện nay chưa có quy tắc đạo đức nghề nghiệp nào cho trọng tài viên cả, nhưng trong Dự Luật này chúng tôi có thiết kế là thành lập một hiệp hội trọng tài giống như Viện Trọng tài Luân Đôn. Hiệp hội này bao gồm các trung tâm trọng tài và các trọng tài viên, sẽ ban hành một quy tắc đạo đức chung áp dụng cho các trọng tài viên, nhưng trước mắt các trung tâm trọng tài sẽ xây dựng các quy tắc đạo đức nghề nghiệp riêng cho trung tâm mình.

Đại biểu

Về tiêu chuẩn trọng tài viên – khoản 4 Điều 17, nếu một bên nước ngoài lấy một người thẩm phán làm thành viên Hội đồng trọng tài và khi Hội đồng trọng tài ra pháp quyết, có khiếu nại rằng phán quyết không có hiệu lực do Hội đồng trọng tài có thành phần không hợp lệ, thì theo quan điểm của chúng tôi, cũng như ông Dũng đã nói, khoản 4 áp dụng cho tất cả các loại trọng tài. Trong trường hợp này có vi phạm điều cấm của pháp luật nên phán quyết không thể có hiệu lực được.

Đại biểu

Pháp lệnh thẩm phán cũng như Pháp lệnh về kiểm sát viên của Việt Nam nghiêm cấm thẩm phán và kiểm sát viên được làm việc khác ngoài việc mà Nhà nước giao để tránh tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Tư trưởng này được Ban soạn thảo đưa vào để ngăn chặn tình trạng như vậy để tránh việc thẩm phán đã tham gia giải quyết với tư cách trọng tài viên sau đó khi có khiếu nại lại giải quyết với tư cách thẩm phán, như vậy không đảm bảo tính độc lập, khách quan.

Ông Nguyễn Minh Chí

Luật của các nước có rất nhiều điểm tương đồng nhưng không có nghĩa là phải giống nhau, các nước có chủ quyền riêng, cho nên luật về trọng tài thương mại của Việt Nam quy định thẩm phán không được làm trọng tài viên, dù là với Trọng tài vụ việc hay là Trọng tài quy chế, điều đó là bình thường. Hơn nữa, điều phổ biến là các nước đều không thừa nhận việc một người vừa làm thẩm phán vừa làm trọng tài viên.

Quy tắc của VIAC cũng nêu theo hướng này: luật sư có thể trở thành trọng tài viên của VIAC. Hiện VIAC có 123 trọng tài viên, trong đó 6 trọng tài viên là người nước ngoài, số lượng các luật sư lên đến gần 15 người. Nhưng chúng tôi lại quy định như thế này: luật sư khi đã làm trọng tài viên hoàn toàn có tư cách xét xử như trọng tài viên đối với những vụ kiện được đưa đến VIAC nhưng không được làm luật sư bào chữa cho các bên tranh chấp đối với một vụ kiện được giải quyết tại trung tâm, còn đối với các nơi khác thì không bị không cấm. Quy định này để tránh hiện tượng như sau: hôm nay một người làm luật sư cho bên A kiện bên B, nhưng ngày mai lại có vụ kiện giữa anh B và anh C mà anh đó lại là trọng tài viên thì bản thân anh B sẽ có thể không có lòng tin vào tính vô tư, khách quan của người đó. Nếu không đồng ý với quy định nội bộ này, trọng tài viên có thể xin ra khỏi danh sách trọng tài viên của VIAC. Quy định đó để đảm bảo tính khách quan, vô tư, đảm bảo lòng tin của các bên tranh chấp đối với một tổ chức trọng tài.

Ông Dominique Ponsot

Về tính độc lập của trọng tài viên tại điều 18, tôi thấy rằng trong mọi trường hợp, trọng tài viên phải có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp một cách độc lập. Có thể bổ sung là trọng tài viên có quyền phản đối những sức ép từ bên ngoài, của cơ quan nhà nước hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Nếu chỉ quy định độc là quyền của trọng tài viên thì tôi e rằng người nước ngoài có thể hiểu rằng vì đó là quyền nên trọng tài viên cũng có thể không thực hiện quyền đó.

Đại biểu

Theo tôi, không nên tách quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên mà nên gộp vào thành quy định “trọng tài viên có quyền và nghĩa vụ sau…”.

Ông Nguyễn Minh Chí

Không phải lúc nào cũng gộp vào được. Nhưng tôi đồng ý với ông Phó Giám đốc Nhà Pháp luật rằng tính độc lập ở đây phải dựa trên sự tin cậy của các bên tranh chấp. Vậy, khi người ta đã tin cậy nhờ anh đứng ra giải quyết tranh chấp thì người ta cũng yêu cầu anh ngoài sự khách quan, vô tư còn phải độc lập và các nghĩa vụ chính là điều mà các bên quan tâm, còn quy định quyền của trọng tài viên là đứng từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

Bà Montineri

Quay trở lại vấn đề Luật mẫu đưa ra những tiêu chuẩn nào để phân biệt giải quyết bằng trọng tài trong nước và giải quyết bằng trọng tài quốc tế. Luật mẫu quy định rằng các tiêu chuẩn đó do thỏa thuận của các bên quyết định. Chẳng hạn, nếu các bên thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra VIAC giải quyết thì các tiêu chuẩn do VIAC quy định sẽ được áp dụng. Vấn đề này không do pháp luật điều chỉnh do không nhất thiết phải được điều chỉnh bằng luật.

Về vấn đề quốc tịch, Luật mẫu quy định khi Tòa án phải can thiệp trong trường hợp thay đổi trọng tài viên, Tòa án sẽ quyết định xem có nên chỉ định một người có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên.

Về việc có phân biệt đối xử hay không giữa Trọng tài quốc tế và Trọng tài trong nước nếu có quy định về hai loại Trọng tài này, tôi cho rằng việc nêu rõ trong Luật những quy định về tiêu chuẩn Trọng tài trong nước không áp dụng đối với Trọng tài quốc tế, không mang tính phân biệt đối xử.

Ông Nguyễn Minh Chí

Các nước khác không quy định về tiêu chuẩn trọng tài viên. Riêng Việt Nam thì quy định do chúng ta đang ở giai đoạn giao thời giữa tư duy cũ và tư duy mới nên có thể coi đây là phương án tạm thời chấp nhận được trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam.

Đại biểu

Về vấn đề thành lập các Trung tâm trọng tài, dự thảo Luật không đề cập gì đến quốc tịch nên có thể hiểu rằng người nước ngoài có thể thành lập các Trung tâm trọng tài ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Minh Chí

Vấn đề thứ nhất – tiêu chuẩn trọng tài viên, hiện nay các trung tâm trọng tài có cả người Việt Nam và người nước ngoài là trọng tài viên. Khi mời hoặc khi xét để mời các trọng tài viên nước ngoài làm trọng tài viên trung tâm mình, khi Luật Trọng tài ra đời, chúng tôi cũng phải dựa trên căn cứ không phân biệt quốc tịch.

Vấn đề thứ hai, trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như trong các quy định của WTO về việc thành lập văn phòng đại diện và chi nhánh của các tổ chức làm dịch vụ buôn bán, có thể coi trọng tài là hoạt động dịch vụ phi lợi nhuận nhưng việc mở cửa dịch vụ này phải theo lộ trình nên Dự Luật quy định việc thành lập văn phòng đại điện, chi nhánh các tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam do Chính phủ quy định.

Đại biểu

Khi đọc dự thảo Luật, có thể hiểu rằng người nước ngoài cũng được thành lập trung tâm trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

Đại biểu

Về tiêu chí đối với trọng tài viên nước ngoài, khi Ban soạn thảo gửi công văn lấy ý kiến của Bộ Tư pháp, chúng tôi cũng giữ quan điểm là cần làm rõ thêm khái niệm trọng tài viên theo Dự thảo Luật này – Điều 3, và các điều liên quan là Điều 17 và Điều 28. Ví dụ, nếu Chính phủ nếu muốn quy định về vấn đề thành lập các tổ chức đại diện của trọng tài nước ngoài thì cũng phải căn cứ vào Luật này và Luật này phải xác định các tiêu chí của họ một cách minh bạch. Xuất phát từ tiêu chí tại Điều 17 – nếu có tiêu chuẩn áp dụng cho người Việt Nam nhưng không có tiêu chuẩn cho người nước ngoài thì mình phải công nhận tư cách họ đã đạt được ở nước ngoài theo các tiêu chí quy định ở nước họ. Không nên áp dụng mặt bằng chung mà phân biệt đơn giản bằng cách: chỉ cần ghi rõ là những người đã trở thành trọng tài viên ở nước ngoài thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam chứ không cần quy định tiêu chuẩn gì áp dụng với họ. Đây là vấn đề mang tính kỹ thuật nhưng cũng là vấn đề quan điểm cần phải thể hiện rõ. Tôi không cho rằng ở đây có vấn đề phân biệt đối xử giữa trọng tài Việt Nam và trọng tài nước ngoài. Tôi chỉ muốn chúng ta đi theo thông lệ quốc tế, đây là căn cứ pháp lý chuẩn nhất để Chính phủ quy định về trọng tài nước ngoài ở Việt Nam và văn phòng đại diện của tổ chức trọng tài nước ngoài.

Ông Nguyễn Minh Chí

Khó khăn là ở nước ngoài không đề ra tiêu chí trọng tài viên, do đó nói là người nước ngoài làm trọng tài viên ở các trung tâm của chúng ta thì theo tiêu chí trung tâm, nhưng Trọng tài vụ việc không có tiêu chí gì, các bên đương sự có quyền lựa chọn trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, một số trung tâm trọng tài như SIAC hoặc Trung tâm trọng tài của Hồng Kông thiết lập một danh sách có tính chất tham khảo của các chuyên gia trong các lĩnh vực, khi các bên có tranh chấp muốn xét xử tại Singapore hoặc tại Hồng Kông thì tham khảo danh sách đó và lựa chọn, thanh viên của danh sách này không gọi là trọng tài viên mà gọi là chuyên gia.

Đại biểu

Trung tâm chúng tôi có 27 trọng tài viên Việt Nam và 17 trọng tài viên nước ngoài trong danh sách mà chúng tôi khuyến nghị cho các trọng tài vụ việc, tức là các vụ việc có yếu tố nước ngoài mà cần có các trọng tài viên nước ngoài theo luật của nước họ, vì theo Pháp lệnh Trọng tài hiện nay, chúng tôi không được phép kết nạp người nước ngoài làm trọng tài viên.

Về vấn đề này, chúng tôi có quy chế rất rõ ràng công khai trên mạng là bất kể người nào đã là trọng tài viên của một nước hoặc một trung tâm trọng tài quốc tế đương nhiên được kết nạp làm trọng tài viên của chúng tôi, không có tiêu chuẩn gì khác (trong danh sách khuyến nghị). Vấn đề quan trọng hơn là vì không có giới hạn nào về quốc tịch tại Điều 17 nên những người nước ngoài nào đáp ứng đủ tiêu chuẩn của Điều 17 hoàn toàn có thể thành lập một Trung tâm trọng tài của Việt Nam ở Việt Nam theo luật này. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ việc các Trung tâm trọng tài nước ngoài vào Việt Nam hoặc các Trung tâm trọng tài Việt Nam có các sáng lập viên là người nước ngoài vì:

– thứ nhất, cam kết của Việt Nam với WTO là rào cản đối với dịch vụ trọng tài sau 3 năm sẽ hết hạn, trước khi Luật này có hiệu lực năm 2010;

– thứ hai, sự tham gia của trọng tài viên quốc tế cũng như trung tâm trọng tài viên nước ngoài ở Việt Nam chỉ có lợi cho Việt Nam, nó thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các Trung tâm trọng tài Việt Nam và Trung tâm trọng tài nước ngoài để chúng tôi học hỏi và cải tiến kinh nghiệm.

Ông Nguyễn Minh Chí

Cần nêu rất rõ rằng các trọng tài viên ở nước ngoài đề cập đến ở đây không phải là những người đáp ứng các tiêu chuẩn của nước ngoài mà là những người trên thực tế đã từng tham gia giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài ở nước ngoài với tư cách trọng tài viên.

Bà Montineri

Liên quan đến Điều 30 – thời điểm được ghi nhận là bắt đầu tố tụng trọng tài. Đây là điều quan trọng vì quy định về thời điểm kể từ đó tố trụng trọng tài thực sự bắt đầu và thời hạn bắt đầu được tính. Khoản 1 rất rõ ràng. Khoản 2 quy định: “tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn”. Xem lại Điều 10 quy định về việc gửi thông báo thì không thấy có quy định về việc gửi thông báo trong trường hợp Trọng tài vụ việc, điều này quy định việc gửi thông báo cho Hội đồng trọng tài và cho các bên của trung tâm trọng tài. Do vậy không nêu rõ thời điểm bị đơn được coi là nhận được đơn kiện của nguyên đơn. Vậy làm thế nào để chứng minh thời điểm này? Điều gì xảy ra khi bị đơn chưa bao giờ xác nhận đã nhận đơn kiện nếu bị đơn thay đổi địa chỉ? Điều đó giải thích vì sao trong Luật mẫu và trong các văn bản pháp lý khác luôn có quy định về suy đoán là đã nhận được đơn kiện, bị đơn được coi là đã nhận được đơn kiện tại địa chỉ cuối cùng của mình, tại địa chỉ cơ quan thông thường… Điều này rất quan trọng bởi vì trên thực tế, có những trường hợp đương sự hoàn toàn bất lực trong việc khởi động quá trình giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, cũng không thể khởi kiện ra Tòa án do có Thỏa thuận trọng tài.

Ông Ancel

Dự luật cũng không quy định về thời hạn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Bà Montineri

Khoản 1 Điều 3 Luật mẫu của UNCITRAL quy định văn bản thông báo được coi là đã nhận được nếu đã đuợc trao cho người nhận hoặc cho cơ quan của người đó hoặc nơi thường trú của người đó. Nếu trong một khoảng thời gian hợp lý không thể xác định người đó đang ở đâu thì văn bản thông báo được coi như là đã nhận được nếu đã được gửi đến cho cơ quan của người đó hoặc nơi thường trú của người đó.

Ông Nguyễn Minh Chí

Vấn đề này đã được giải quyết tại điều 10 – cách thức gửi thông báo và trình tự gửi thông báo. Khoản 2 và khoản 3 quy định: “Các thông báo, tài liệu mà Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi cho các bên được gửi đến địa chỉ của các bên hoặc cho đại diện của các bên theo đúng địa chỉ do các bên thông báo. Khoản 3 quy định: “Các thông báo, tài liệu có thể được Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi bằng phương thức giao trực tiếp, thư đảm bảo, thư thường, fax, telex, telegram, thư điện tử hoặc bất kỳ phương thức nào khác có ghi nhận việc gửi này”. Còn về thời hạn, “Các thông báo, tài liệu do Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi được coi là đã nhận được vào ngày mà các bên hoặc đại diện của các bên đã nhận, hoặc được coi là đã nhận nếu thông báo, tài liệu đó đã được gửi phù hợp với quy định tại khoản 2 điều này”. Khoản 5 quy định: “Các thời hạn quy định trong Luật này bắt đầu được tính từ ngày tiếp theo ngày mà thông báo, tài liệu được coi là đã nhận được…”. Như vậy, dự thảo đã xử lý vấn đề thông báo được gửi như thế nào, lúc nào được coi là đã nhận.

Về vấn đề ông Ancel đã nêu, thời hạn để giải quyết vụ kiện đã được quy định rất rõ trong Dự Luật như sau. Nếu Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của một bên thì trước kia, theo quy định của Pháp lệnh là trong thời hạn 5 ngày, còn theo Dự thảo là 10 ngày, Trung tâm phải gửi cho bị đơn đơn kiện và các tài liệu kèm theo. Dự thảo cũng quy định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo, bên bị kiện phải làm bản tự bảo vệ và đồng thời phải chọn trọng tài viên hoặc yêu cầu Trung tâm đó chỉ định trọng tài viên, quá thời hạn đó thì Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định trọng tài viên. Đó là thời hạn để xử lý tranh chấp bằng trọng tài kể từ khi đơn kiện bắt đầu được đưa đến Trung tâm hoặc đến bên bị kiện nếu là Trọng tài vụ việc.

Thời hiệu khởi kiện ra tọng tài cũng được quy định. Thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm, giống như quy định của Luật Thương mại.

Mặt khác, rất khó quy định thời hạn kể từ khi thụ lý đơn kiện cho đến khi giải quyết xong vụ việc bởi vì điều này còn phụ thuộc vào tính phức tạp của vụ tranh chấp. Nếu để thời hạn này ngắn quá thì Hội đồng trọng tài sẽ vội vàng giải quyết các vấn đề mà chưa nghiên cứu thấu đáo, do đó có thể dẫn đến quyết định sai, còn nếu để dài quá thì Hội đồng trọng tài sẽ dây dưa, như vậy tính ưu việt của phương thức giải quyết bằng trọng tài sẽ mất đi. Do vậy, tôi thấy rằng sẽ là hợp lý khi chúng ta không quy định một thời hạn tối đa (limite) và khi đọc Luật mẫu của UNCITRAL, chúng ta cũng không thấy có quy định nào về việc này.

Đại biểu

Việc giải quyết bằng Trọng tài cũng tùy thuộc vào việc trọng tài viên ở đâu, có thể trọng tài viên nước ngoài có những buổi họp, trọng tài viên có thể sang Việt Nam thì thời gian có thể kéo dài. Chúng tôi cũng phải hỏi các chuyên gia các nước có quy định về thời hạn, thời hiệu tố tụng không, để tham khảo thêm thôi vì quan điểm của tôi cũng giống quan điểm ông Chí về vấn đề này.

Ông Ancel

Theo pháp luật của Pháp, có một thời hạn do các bên hoặc pháp luật xác định. Pháp luật quy định thời hạn là 6 tháng, nhưng thời hạn này có thể gia hạn thêm 6 tháng nữa theo yêu cầu của các bên hoặc của trọng tài viên. Nếu là theo yêu cầu của trọng tài viên thì Tòa án có thẩm quyền sẽ quyết định về việc kéo dài thời hạn. Trên thực tế, thông thường có ít nhất một lần gia hạn, có nghĩa là thủ tục trọng tài kéo dài khoảng 1 năm, đôi khi còn lâu hơn, dĩ nhiên là tùy thuộc vào độ phức tạp của vụ kiện. Nhưng câu hỏi của tôi là: Liệu có thể quy định thời hạn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong Luật không? Vì hoạt động của trọng tài mang tính tạm thời, các trọng tài viên không thể mất 4 hay 5 năm giải quyết vụ tranh chấp, nhất là đối với trọng tài quốc tế khi cần sự có mặt của các trọng tài viên quốc tịch khác nhau. Việc không quy định thời hạn sẽ gây khó khăn, do đó nên quy định thời hạn đồng thời quy định thêm khả năng Tòa án có thẩm quyền có thể gia hạn thời hạn đó.

Bà Montineri

UNCITRAL đã hỏi các nước thành viên về vấn đề này. Câu trả lời là có nước quy định thời hạn, có nước không. Tuy nhiên, đa số các nước đều đưa ra nguyên tắc trọng tài viên phải giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng.

Tôi thấy rằng điều 10 không bao gồm tất cả các trường hợp của điều 30. Sự suy đoán quy định tại khoản cuối điều 10 không áp dụng cho điều 30 vì điều 30 không dẫn chiếu đến việc suy đoán. Do đó, cần bổ sung quy định về việc gửi thông báo giữa các bên vào điều 10.

Đại biểu

Theo tôi, điều 10 được tiếp cận theo một tư duy cũ về tố tụng dân sự. Điểm mới của luật tố tụng dân sự là dựa trên thỏa thuận của hai bên; theo thông lệ thế giới, bên bị phải được trực tiếp trao đổi và được phép cầm đơn của bên nguyên, cũng như các thông tin, chứng cứ khác, chứ không thông qua người trung gian, trừ những trường hợp đặc biệt Tòa án mới cầm và Tòa án làm vai trò của người tống đạt. Tư tưởng đổi mới này đã được BLTTDS ghi nhận trong chừng mực nhất định, đã thể hiện được vai trò của hai bên trong vụ kiện dân sự, trong đó trách nhiệm của nguyên đơn rất quan trọng, đó là phải đưa đơn cho bị đơn. Khi quy định thủ tục tố tụng trọng tài, cũng phải theo pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế về thủ tục dân sự, như vậy việc giải quyết bằng Trọng tài mới có sức thuyết phục. Do đó, điều 10 chỉ nên được thiết kế rằng Hội đồng trọng tài có vai trò hỗ trợ thôi chứ không phải là đơn phải đưa đến Hội đồng trọng tài mà phải đưa cho bên bị.

Mặt khác, cũng nên thiết kế một điều riêng quy định trách nhiệm của bên nguyên đưa đơn trực tiếp cho bên bị và nếu không đưa được trực tiếp thì phải như thế nào.

Tiếp theo, về thời hiệu khởi kiện, tố tụng dân sự của Việt Nam chưa bảo vệ được tốt cho các đương sự. Các nước đều quy định thời hiệu dài hơn rất nhiều. Chúng ta nên xem lại thông lệ thế giới để đưa ra thời hiệu khởi kiện mới cho phù hợp hơn.

Ông Nguyễn Minh Chí

Điều 10 chúng tôi lấy nguyên từ các quy định của UNCITRAL. Luật mẫu của UNCITRAL chỉ đề cập cách thức gửi thông báo và trình tự gửi thông báo chứ chưa đề cập đến chuyện bảo vệ lợi ích bên nào.

Mặt khác, để bảo vệ lợi ích của bị đơn, dự thảo Luật này đã có quy định nếu giải quyết tranh chấp tại Trung tâm thì trong vòng 10 ngày, nguyên đơn phải gửi đến Trung tâm đơn kiện và hồ sơ kèm theo; nếu là Trọng tài vụ việc, bản thân nguyên đơn phải gửi đơn kiện và hồ sơ kèm theo cho đích thân bị đơn. Nếu giải quyết tranh chấp tại Trung tâm mà không gửi qua Trung tâm thì rủi ro mà bị đơn phải hứng chịu lớn hơn nhiều. Trước kia Trung tâm chúng tôi, sau khi thụ lý đơn kiện trong vòng 5 ngày phải gửi cho bị đơn bất kể tranh chấp có nội dung gì, đây là hình thức tránh rủi ro tốt nhất cho bị đơn.

Ông Ancel

Về việc gửi thông báo, cần phải tránh trường hợp là Hội đồng trọng tài chỉ gửi thông báo cho duy nhất một bên hoặc một bên chỉ gửi thông báo cho Hội đồng trọng tài mà bên kia không được biết. Luật mẫu, tại Điều 24 khoản 3, quy định là mọi tài liệu, văn bản mà một bên gửi cho Hội đồng trọng tài phải được gửi cho bên kia. Tất cả những thông tin, tài liệu có thể dùng làm chứng cứ cho việc đã gửi thông báo có thể được Tòa án xem xét để xác định việc đó. Nguyên tắc gửi thông báo này là một nguyên tắc cơ bản. Có thể vấn đề này đã được giải quyết tại Điều 10 nhưng chưa được thể hiện như một nguyên tắc mà mới chỉ là cách thức.

Điều 32 dẫn chiếu đến quy định của BLDS mới về thời hiệu. Quy định về thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời hiệu như vậy là tốt. Vấn đề là đối với một nhà đầu tư nước ngoài, họ sẽ phải tìm hiểu một văn bản pháp luật khác mà mình chưa biết rõ. Những dẫn chiếu trong Dự Luật về yếu tố nước ngoài, về thời hiệu… đều chưa được làm rõ. Theo tôi, nên đưa nội dung cụ thể vào Luật thay về dẫn chiếu đến các văn bản khác.

Điều 33, khoản 2 quy định rằng phí trọng tài do Trung tâm trọng tài ấn định, điều này không có vấn đề gì. Tuy nhiên, quy định rằng phí Trọng tài vụ việc do Hội đồng trọng tài ấn định hiện đang gây nhiều tranh cãi tại UNCITRAL. Trên thực tế 30 năm qua, các Hội đồng trọng tài ấn định vô tội vạ thù lao của họ. Do vậy trong khuôn khổ nhóm làm việc về Quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL, chúng tôi đang nghiên cứu đưa vào một vài quy định hạn chế việc trọng tài viên ấn định tùy tiện mức thù lao. Ở Việt Nam cũng có thể xảy ra những trường hợp như vậy – Hội đồng trọng tài tự do ấn định mức thù lao mà không có sự kiểm tra, hạn chế nào. Tôi đồng ý là Hội đồng trọng tài ấn định mức thù lao đối với trọng tài vụ việc nhưng do liên quan đến thỏa thuận giữa các bên nên Hội đồng trọng tài phải thông báo trước cho các bên cách thức tính thù lào của mình.

Về Điều 34 – địa điểm giải quyết bằng Trọng tài, địa điểm này phải được hiểu là địa điểm pháp lý. Theo tôi, các bạn bên bổ sung quy định là Hội đồng trọng tài có thể quyết định làm việc ở bất cứ nơi nào mà Hội đồng trọng tài thấy phù hợp, bất kể địa điểm nêu tại Thỏa thuận trọng tài là địa điểm nào. Pháp luật nhiều nước đều quy định như vậy, Luật mẫu của UNCITRAL cũng có quy định đó (Điều 20 khoản 2). Điều này có lẽ không quan trọng đối với Trọng tài trong nước nhưng là cốt yếu đối với Trọng tài quốc tế, đặc biệt để kiểm tra chứng cứ tại các địa điểm khác.

Ông Ancel

Về Điều 36 – Mất quyền khiếu nại, đây là một quy định hoàn hảo bởi nó tránh trường hợp là một bên không hành động nhưng sau đó khiếu nại ra Tòa án yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Quy định như vậy cũng có trong Luật mẫu (Điều 4). Tuy nhiên, dự Luật quy định “khi một bên không phản đối trong thời hạn quy định của Luật này”, vậy “thời hạn quy định tại Luật này” là như thế nào? Liệu có nên quy định một thời hạn cứng hay là để cho Tòa án có quyền xác định xem bên đó có phản đối trong thời hạn hợp lý hay không.

Bà Montineri

Tại Chương VI, Điều 39 – thành lập Hội đồng trọng tài, lo ngại của tôi là điều này chỉ đề cập đến trường hợp bị đơn không chỉ định trọng tài viên, trong khi đó cũng có thể xảy ra trường hợp nguyên đơn không chỉ định trọng tài viên. Các bạn nên cân nhắc đưa trường hợp này vào.

Ông Nguyễn Minh Chí

Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bà về vấn đề chọn trọng tài viên. Đúng là dự thảo có quy định thời hạn 30 ngày cho bị đơn là phải làm bản tự bảo vệ, chọn trọng tài viên hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm chỉ định trọng tài viên cho mình, nhưng lại không có quy định là nguyên đơn khi làm đơn kiện đồng thời kèm theo các chứng từ liên quan, phải chọn trọng tài viên hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm chỉ định trọng tài viên cho mình. Do vậy, cần đưa vào Dự luật.

Đại biểu

Trong Dự luật này, không có sự phân biệt giữa quy phạm bắt buộc và quy phạm tùy nghi. Theo Pháp lệnh, hầu hết các quy định trong Pháp lệnh là bắt buộc, hậu quả là có nhiều điều vô lý, vì vậy khi thiết kế quy định về thời hạn ở Chương 6 và các chương trong dự thảo Luật này, bao giờ cũng có một câu là “nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác”, tức là các Trung tâm trọng tài sẽ thiết kế ra các thời hạn phù hợp hơn chứ không phải là theo đúng quy định trong Luật này, các thời hạn quy định trong Luật chỉ mang tính hướng dẫn cho Trọng tài vụ việc, nếu họ không có quy định thủ tục riêng thì có thể áp dụng quy định của Luật. Chúng tôi không đưa vào quy định cứng nhắc về thời hạn do độ phức tạp của các vụ việc khác nhau, mà nếu các bên không tuân theo thì bị coi là vi phạm và có thể phán quyết trọng tài sẽ bị hủy.

Ông Nguyễn Minh Chí

Bản thân việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là một phương thức thân thiện, mềm dẻo và linh hoạt và ý chí của các bên được tôn trọng, cho nên đại bộ phận các quy phạm này đều là những quy phạm tùy nghi. Nhưng tính tùy nghi này là ở chỗ: cho phép có thỏa thuận khác nhưng nếu không có thỏa thuận khác thì buộc phải theo quy định của Luật này. Có lẽ điều khoản mang tính chất bắt buộc nhất là thời hiệu khởi kiện – thời hiệu khởi kiện phải do Luật quy định, các bên không thể lựa chọn.

Bà Montineri

Về Điều 40 – thay đổi trọng tài viên, khoản 2 quy định “Trọng tài viên phải thông báo bằng văn bản cho Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài và các bên về những tình tiết có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình”. Nên nhấn mạnh thêm là “…trong suốt quá trình tố tụng” và cũng nên bổ sung “tính độc lập” nữa vì điều này được quy định trong tất cả các luật trọng tài.

Ông Ancel

Cũng về điều 40, theo tôi nên bổ sung điểm d vào khoản 1 trường hợp “trọng tài viên vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp” thì trọng tài viên phải được thay thế.

Bà Montineri

Về điều 48 – áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, khái niệm “tạm thời” có phải là “khẩn cấp” không là vấn đề gây bàn luận rất nhiều từ 5 năm nay. Trong Luật mẫu các bạn không thấy từ “khẩn cấp”. Hội đồng trọng tài có thể áp dụng các biện pháp tạm thời không có tính chất khẩn cấp, ví dụ đơn giản là kê biên một tài sản… Do vậy, theo tôi nên bỏ từ “khẩn cấp” vì nếu không phạm vi của khái niệm này sẽ rất hạn chế.

Đại biểu

Nhiều người cho rằng các câu chữ của điều 17 Luật mẫu của UNCITRAL không tương thích với các quy phạm của BLTTDS của Việt Nam nên chúng tôi đã sửa lại Điều 48 để phù hợp hơn với BLTTDS và như vậy Luật mới có thể được hiểu, thông qua và sau này mới có thể thi hành được. Ngoài ra, điều này cũng không quy định về thủ tục thi hành vì thủ tục này sẽ tuân theo các quy định của BLTTDS hiện hành.

Ông Nguyễn Minh Chí

Trong BLTTDS có 14 biện pháp khẩn cấp tạm thời, chia làm hai loại: Loại thứ nhất là do Tòa án tự mình áp dụng không cần phải có yêu cầu của các bên; loại thứ hai là chỉ trên cơ sở yêu cầu của các bên Tòa án mới áp dụng. Tuy nhiên, việc Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ có thể trên cơ sở yêu cầu của một hoặc của các bên đương sự. Hơn nữa, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài không thể rộng như thẩm quyền của Tòa án – Hội đồng trọng tài không có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với người thứ ba như Tòa án. Ví dụ, khi một bên yêu cầu Hội đồng trọng tài phong tỏa tài khoản của bên kia, Hội đồng trọng tài không thể thực hiện việc này vì đó là áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với người thứ ba – ngân hàng, và ngân hàng cũng không thực hiện nếu có yêu cầu vì Luật Ngân hàng quy định chỉ có Tòa án mới có thể có thẩm quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản ngân hàng. Ví dụ khác về bắt giữ tàu – cũng tương tự như vậy, chỉ Tòa án có quyền yêu cầu bắt giữ tàu, còn nếu Hội đồng trọng tài yêu cầu sẽ là trái với luật pháp quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam.

Về việc dùng từ “biện pháp khẩn cấp tạm thời” hay “biện pháp tạm thời”, tôi thấy rằng đa số trường hợp là khẩn cấp. Dùng từ “khẩn cấp” nghe nặng nề nhưng lại bao hàm ý là vì khẩn cấp nên mới yêu cầu áp dụng.

Đại biểu

Về việc sử dụng từ “khẩn cấp”, tôi đồng ý với ý kiến của ông Chí. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 48 quy định “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tôi hơi băn khoăn một chút vì như ông vừa giải thích, có những văn bản khác quy định về bắt giữ tàu biển (không chỉ bắt giữ tiền xét xử mà còn bắt giữ để thi hành án…), sắp tới là về bắt giữ tàu bay. Liệu có nên loại trừ các luật này không?

Đại biểu

Về điểm này, các tổ chức quốc tế tài trợ cho Dự án này và các luật gia tham gia vào quá trình soạn thảo BLTTDS cũng nhận thấy là về biện pháp khẩn cấp tạm thời ở Việt Nam, pháp luật tố tụng chỉ cho phép một cơ quan duy nhất là Tòa án. Nhưng Luật Trọng tài này sẽ áp dụng thông lệ quốc tế ở chỗ thừa nhận rằng khi có đơn yêu cầu, Hội đồng trọng tài được phép ra quyết định áp dụng. Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài chỉ là người ra quyết định áp dụng mà thôi, việc thi hành các biện pháp đó hoàn toàn do Tòa án hỗ trợ làm. Thế giới đều làm như vậy. Tôi không hiểu tại sao Luật này lại đặt ra một số trường hợp Hội đồng trọng tài mới được quyền áp dụng.

Ông Nguyễn Minh Chí

Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, không phải Tòa án mà là cơ quan thi hành áp thực hiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Về vấn đề bắt giữ tàu bay hay tàu biển, đó là quyền của Tòa án, Trọng tài không có quyền này. Mặt khác, trọng tài chỉ có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong những trường hợp quy định tại Luật này, điều đó phù hợp với các hoạt động kinh tế – thương mại. Dự Luật quy định nếu không được yêu cầu thì Hội đồng trọng tài không tự động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Đại biểu

Liên quan đến Điều 52 của Dự Luật – Quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tại Pháp lệnh Bắt giữ tàu biển và sắp tới là Pháp lệnh Bắt giữ tàu bay, chúng tôi đã đưa sự kết nối giữa Trọng tài và Tòa án, nhưng cũng cần quy định rõ những truờng hợp nào chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định thì không áp dụng Luật này vì dự thảo Luật mới loại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận thôi.

Điểm tiếp theo, tại Điều 52, đoạn cuối quy định: “trong trường hợp này, việc quy định rằng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định của BLTTDS”. Quy định như vậy tôi thấy hơi bị bó vì BLTTDS Điều 102 lại giao cho UBTVQH quy định bằng Pháp lệnh Bắt giữ tàu bay, tàu biển với trình tự, thủ tục riêng. Do đó, quy định này của Điều 52 cần được chỉnh sửa.

Ông Nguyễn Minh Chí

Bằng việc thêm vào “và các quy định khác của pháp luật” đúng không?

Đại biểu

Đúng.

Bà Montineri

Trở lại Điều 40 – Thay đổi trọng tài viên, tôi xin bình luận về thủ tục trọng tài viên phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp., nhất là khoản 3 và khoản 4. Quy định tại đây không đề cập đến các bên. Có một số vấn đề cần xem xét. Thứ nhất, sự lựa chọn được thực hiện sau khi Hội đồng trọng tài được thành lập, việc thay đổi trọng tài viên do các thành viên khác cũng của Hội đồng trọng tài đó quyết định. Khi chúng tôi sửa đổi Quy tắc tố tụng trọng tài trong những năm gần đây, vấn đề đặt ra là có cần phải sửa đổi quy định về thay đổi trọng tài viên hay không để cho các bên và các thành viên khác của Hội đồng trọng tài có quyền thay đổi trọng tài viên. Các nước đều có ý kiến rằng quy định này có thể nguy hiểm, bởi vì đây không phải là trường hợp trọng tài viên duy nhất, và khi có 3 trọng tài viên và có sự liên kết gian lận giữa 2 trọng tài viên thì trọng tài viên còn lại rất dễ bị gạt ra. Do vậy, có lẽ sẽ không đơn giản khi quy định là 2 trọng tài viên có quyền quyết định giữ lại hay loại bỏ trọng tài viên thứ ba. Đó là một thủ tục rất quan trọng bởi vì nó động chạm đến quyền của các bên, quyền cơ bản là được chỉ định trọng tài viên. Theo tôi, không nên quy định việc thay đổi trọng tài viên do các trọng tài viên khác quyết định mà nên quy định việc này do Tòa án có thẩm quyền quyết định. Cần phân biệt với trường hợp khác là một bên chỉ định trọng tài viên và trọng tài viên này không có mặt trong quá trình giải quyết bằng Trọng tài, khi đó bên chỉ định sẽ cố gắng trì hoãn lâu nhất có thể tố tụng trọng tài hoặc làm cho tố tụng trọng tài không thực hiện được. Trong trường hợp này, không nên để cho bên đó khả năng chỉ định trọng tài viên mà cần quy định rằng Hội đồng trọng tài hoặc một cơ quan khác sẽ quyết định chỉ định trọng tài viên.

Ông Nguyễn Minh Chí

Ý kíến của chuyên gia chúng ta phải suy nghĩ, nhưng tôi thấy cũng có những điểm vướng. Ví dụ, trường hợp hai trọng tài viên đã được hai bên chọn, đã quyết định chọn người thứ ba làm trọng tài viên, người này là Chủ tịch Hội đồng trọng tài, trong trường hợp người này bị thay thế, vấn đề đặt ra là người thay thế – do hai trọng tài viên kia chọn – sẽ là Chủ tịch Hội đồng trọng tài hay là một trọng tài viên và 3 trọng tài viên sẽ cùng quyết định người nào là Chủ tịch Hội đồng trọng tài? Đây sẽ là vấn đề rắc rối. Mặt khác, liên quan đến thời hạn, việc chỉ định trọng tài viên bởi các bên có thể dẫn tới là hai bên sẽ làm việc này rất lâu vì không thống nhất được với nhau, sau đó lại đến Chủ tịch hoặc Tòa án để chỉ định trọng tài viên thứ ba, như vậy sẽ mất nhiều thời gian. Do vậy khi chúng ta thực hiện quy định này, không khéo sẽ thành phản tác dụng.

Bà Montineri

Điều 58 – khoản 1 quy định rằng “Hội đồng trọng tài sẽ đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp nếu nguyên đơn rút nguyên đơn kiện trừ trường hợp bị đơn yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp”. Nên bổ sung rằng “nếu Hội đồng trọng tài cho rằng việc tiếp tục giải quyết tranh chấp là hợp lý” vì tiếp tục giải quyết tranh chấp không phải là nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài mà Hội đồng trọng tài chỉ tiếp tục giải quyết tranh chấp khi thấy rằng việc đó là hợp lý. Đây là quy định có trong Luật mẫu và rất nhiều luật về trọng tài.

Ông Ancel

Về phán quyết trọng tài – Điều 59 và tiếp theo, dự thảo quy định phán quyết trọng tài theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài trong trường hợp không đạt được đa số. Pháp luật Pháp không có quy định này nhưng điều đó hoàn toàn có thể được. Tôi nhận thấy rằng so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo đã bỏ “ý kiến của thiểu số”.

Về nội dung phán quyết trọng tài, dự thảo quy định phán quyết trọng tài phải nêu căn cứ ra phán quyết trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Điều đó khiến tôi băn khoăn vì trong lĩnh vực trọng tài, tại sao lại không dự kiến rằng các bên có thể cho phép trọng tài viên tuyên mà không cần nêu lý do. Mặt khác, khi có trọng tài viên từ chối ký tên vào phán quyết trọng tài, điều này phải được ghi vào trong phán quyết và việc từ chối ký tên này không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của phán quyết, quy định như vậy là được. Tuy nhiên, quy định rằng Chủ tịch Hội đồng trọng tài phải nêu rõ lý do của việc không ký tên có lẽ không hợp lý lắm vì nhìn chung, trọng tài viên từ chối ký tên là do đồng ý với phán quyết trọng tài. Vì thế, có lẽ không cần phải nêu lý do từ chối ký vào trong phán quyết.

Bà Montineri

Tại Điều 63 – sửa chữa và giải thích phán quyết, tôi cũng có bình luận tương tự như bình luận tôi mới nêu. Hội đồng trọng tài tiến hành sửa chữa và giải thích phán quyết trọng tài khi Hội đồng trọng tài thấy cần thiết – Hội đồng trọng tài không tự động làm việc này mà chỉ khi có bên đề nghị sửa chữa phán quyết trọng tài thì Hội đồng trọng tài mới làm. Nên bổ sung ý “nếu Hội đồng trọng tài thấy cần thiết”.

Mặt khác tôi cũng không thấy trong Dự Luật quy định về phán quyết trọng tài bổ sung. Không hiếm trường hợp phán quyết do Hội đồng trọng tài đưa ra quyết định về nhiều yêu cầu khác nhau nhưng lại bỏ qua một vài vấn đề. Nên quy định là nếu Hội đồng trọng tài chưa quyết định đối với một vài yêu cầu của một bên thì bên đó có thể yêu cầu ra phán quyết bổ sung. Luật mẫu – Điều 33 về sửa chữa và giải thích phán quyết trọng tài cũng quy định rằng một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài (có thông báo cho bên kia) ra phán quyết bổ sung về những vấn đề đã được yêu cầu giải quyết nhưng không được nêu trong phán quyết trọng tài. Thủ tục này được tiến hành trong thời hạn quy định. Bên yêu cầu có 30 ngày để yêu cầu ra phán quyết bổ sung và nếu Hội đồng trọng tài thấy cần thiết thì sẽ ra phán quyết bổ sung trong vòng 60 ngày. Trường hợp này cũng thường xảy ra trong tố tụng trọng tài.

Ông Nguyễn Minh Chí

Về phán quyết trọng tài, có thể có những trường hợp một trọng tài viên không đồng tình với quyết định theo đa số nên không ký tên, cũng có thể có hai trọng tài viên không đồng tình nên không ký tên bởi vì trong những trường hợp 3 người có 3 ý kiến khác nhau thì theo quy định của pháp luật về tố tụng trọng tài, ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài là ý kiến cuối cùng. Vấn đề đặt ra là khi một trọng tài viên không ký phán quyết trọng tài, theo nguyên tắc đa số hoặc không theo đa số, Chủ tịch Hội đồng trọng tài đã có ý kiến thì phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực. Nhưng có vướng mắc là có 1 hoặc 2 trọng tài viên không ký tên, phải ghi việc này vào phán quyết, nhưng nêu rõ lý do thì tôi thấy là nếu như ghi rõ đầy đủ lý do thì cần giải quyết về mặt pháp lý xem cần ghi rõ như thế nào, bởi việc ghi lý do có thể rất dài, tránh làm nảy sinh tình trạng sau đó bên bị thua viện cớ rằng do có những lý do nêu trong phán quyết trọng tài không đúng tinh thần của Luật Trọng tài nên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Do vậy, chúng tôi mong muốn là việc nêu lý do chỉ mang tính chất gạch đầu dòng, không ghi dài.

Về việc công bố phán quyết trọng tài, trên thực tế chúng ta đang tránh hiện tượng Hội đồng trọng tài ra phán quyết đã được chuẩn bị trước, không chịu nghe các bên đương sự trình bày, không chịu nghe các luật sư, trong khi trên thế giới người ta rất coi trọng phiên “hearing” – “phiên họp giải quyết tranh chấp” để xác định sự thật của vụ án, vì nếu chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình thì không đủ, nhất là các bên chỉ đưa ra những tài liệu, chứng cứ có lợi cho mình. Nếu như trước phiên họp giải quyết tranh chấp các trọng tài viên đã thống nhất với nhau về các bên thắng, thua, tỷ lệ thắng, thua thì có thể công bố phán quyết trọng tài ngay được, còn những vụ khác mà Hội đồng trọng tài phải xem xét, giải quyết tranh luận giữa các bên thì, theo kinh nghiệm của chúng tôi, nếu công bố ngay phán quyết trọng tài thế nào cũng gặp phản ứng. Cho nên, pháp luật về Trọng tài có quy định về thời hạn công bố phán quyết trọng tài – theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại là 60 ngày kể từ phiên họp cuối cùng, nhưng 60 ngày là quá dài. Do vậy, Dự thảo quy định thời hạn là 30 ngày kể từ kể từ ngày kết thúc phiên họp giải quyết tranh chấp cuối cùng.

Đại biểu

Thứ nhất, về ý kiến thiểu số, trong tổ biên tập có hai quan điểm khác nhau: quan điểm của một số người ủng hộ việc ghi ý kiến vào phán quyết trọng tài – đây là thông lệ quốc tế, bảo vệ quyền lợi cho bên thua kiện; quan điểm thứ hai phản đối quan điểm thứ nhất, cho rằng làm như vậy là “vẽ đường cho hươu chạy”, chỉ ra căn cứ pháp lý cho bên thua yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài. Băn khoăn đó chi phối và đi đến thống nhất là không bắt buộc phải ghi ý kiến thiểu số vào phán quyết trọng tài, nhưng có ghi ý kiến thiểu số vào biên bản phiên họp giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, về căn cứ thi hành phán quyết, trong pháp luật Việt Nam có thủ tục hòa giải trong tố tụng trọng tài. Nếu trong quá trình trọng tài, các bên muốn hòa giải thì trọng tài viên vẫn có thể tiến hành hòa giải theo Luật này và nếu hòa giài thành thì Hội đồng trọng tài sẽ chỉ ra phán quyết phê chuẩn nội dung hòa giải thành mà sẽ không ghi căn cứ pháp pháp lý để ban hành phán quyết, chỉ đơn thuần ghi nhận hai bên đã đạt được giải pháp bằng phán quyết trọng tài. Đó là một ý nghĩa khác của cơ sở ra phán quyết – trường hợp này là trừ các bên có thỏa thuận khác đi, tức là hai bên đã hòa giải thành nên không yêu cầu phải ghi căn cứ mà ra phán quyết luôn để ghi nhận kết quả hòa giải thành.

Điểm thứ ba – về điều 63, ban đầu chúng tôi soạn thảo rất nhiều nội dung, trong đó có cả ý mà bà Montineri đã đề cập về phán quyết bổ sung. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng việc đó sẽ kéo dài thời hạn thẩm quyền của Trọng tài trái với thỏa thuận các bên và quan trọng hơn, điều khoản đó nếu không áp dụng chặt chẽ sẽ rất dễ bị lạm dụng, chẳng hạn khi Hội đồng trọng tài có thiếu sót trong việc đưa ra một phán quyết, lẽ ra có thể đưa ra Tòa án tuyên hủy rồi, nhưng lại cho phép Hội đồng trọng tài nhóm họp lại khắc phục quan điểm của họ, như vậy sẽ kéo dài tố tụng trọng tài, không phù hợp với thỏa thuận của các bên về thủ tục giải quyết tranh chấp.

Ông Nguyễn Minh Chí

Khi có trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài, có 2 cách như vừa được nêu ra: cách thứ nhất là ghi vào phán quyết trọng tài, cách thứ hai là không ghi vào phán quyết trọng tài nhưng ghi vào biên bản giải quyết tranh chấp. Trong Luật mẫu của UNCITRAL có đề cập đến việc phải ghi vào phán quyết trọng tài chứ không nêu phải ghi vào biên bản cuộc họp, biên bản đó là sự ghi chép của ban thư ký để biết được biễn biến của sự việc. Thế nhưng ở Việt Nam xảy ra trường hợp là có đến 2 trọng tài viên không ký phán quyết, như vậy xem chừng tính thuyết phục và tính hấp dẫn của phán quyết bị hạn chế. Cho nên có lẽ chúng ta xuất phát từ nguyên lý sau: một là theo đa số; hai là nếu không đảm bảo được đa số thì quyết định của Chủ tịch Hội đồng trọng tài là quyết định cuối cùng, và khi trọng tài viên chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp thì phải chấp nhận Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài và phải theo Luật này. Liệu có nên quy định là trọng tài viên không đồng tình thì vẫn phải ký tên?

Ông Ancel

Pháp luật Pháp quy định khá gần với quy định của dự thảo, rằng việc trọng tài viên từ chối ký tên phải được ghi rõ trong phán quyết trọng tài, tuy nhiên phán quyết vẫn có hiệu lực. Khi tôi đọc khoản 2 Điều 59 Dự Luật, tôi suy ra rằng trong trường hợp Hội đồng trọng tài gồm 3 trọng tài viên, nếu cả 3 ý kiến của đều khác nhau thì phán quyết trọng tài sẽ theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài, cơ chế như vậy giống với cơ chế trọng tài viên duy nhất. Tôi thấy quy định như vậy là hợp lý, nếu không thì Hội đồng trọng tài sẽ không thể ra được phán quyết.

Tôi xin hỏi là nguyên tắc đảm bảo bí mật thảo luận (hay bí mật nghị án) giữa các trọng tài viên có được thừa nhận trong pháp luật ViệtNam không? Liệu có nên bổ sung khoản 3 hoặc bổ sung vào khoản 1 quy định là việc thảo luận (nghị án) của Hội đồng trọng tài phải được giữ bí mật (tuy nhiên, nếu quy định rằng ý kiến thiểu số phải được công bố thì rõ ràng là nguyên tắc giữ bí mật nội dung thảo luận bị vi phạm).

Đại biểu

Theo tôi đây không có gì mâu thuẫn. Khi nói đảm bảo bí mật của phán quyết trọng tài cũng như bí mật của quá trình tố tụng trọng tài là đảm bảo bí mật đối với người thứ ba, còn với nguyên đơn, bị đơn và trọng tài viên thì không có gì bí mật – nguyên đơn và bị đơn đều phải trình bày ý kiến với trọng tài viên, và cho biết ý kiến của nhau, như vậy mới có tranh tụng, và khi đã ra phán quyết trọng tài thì người phải thi hành là bị đơn và nguyên đơn. Do vậy, nguyên tắc đảm bảo bí mật chỉ áp dụng đối với người thứ ba. Tuy nhiên, Dự thảo cũng quy định các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước trong chừng mực nhất định có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài cung cấp phán quyết, chẳng hạn Tòa án; hoặc trong trường hợp vụ việc cho dù là kinh tế – thương mại ẩn chứa yếu tố hình sự thì các cơ quan Tư pháp cũng có thể tìm hiểu. Bảo lưu này trong Dự Luật tôi cũng không thấy có gì mâu thuẫn.

Về ý kiến của bà Montineri liên quan đến Điều 63 – Sửa chữa và giải thích phán quyết trọng tài, ở đây chúng ta mới đề cập đến yêu cầu của một hoặc các bên, tuy nhiên khi phán quyết trọng tài đã được đưa ra có lỗi như lỗi kỹ thuật, lỗi đánh máy thì trọng tài viên có thể tự mình sửa chữa, điều đó là được. Nhưng câu hỏi đặt ra là trọng tài viên có sửa chữa được phán quyết về mặt nội dung hay không? Theo tôi, trọng tài viên phải tôn trọng phán quyết đã đưa ra, còn nếu xử lý sai thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Đại biểu

Liên quan đến căn cứ ra phán quyết trọng tài, do trình độ giải quyết tranh chấp gqqc của các trọng tài viên còn hạn chế nên trước khi đưa ra phán quyết, liệu trọng tài viên có nên hỏi ý kiến các chuyên gia trong các lĩnh vực mình không chuyên sâu không. Tôi không thấy nội dung như vậy tại Dự Luật nên cần được đưa vào.

Trong trường hợp 3 trọng tài viên của Hội đồng trọng tài có 3 ý kiến khác nhau, nguyên tắc Điều 59 đưa ra là theo đa số, sau đó theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài là đúng vì nguyên tắc này cũng áp dụng ngay cả đối với hoạt động của Chính phủ. Tuy nhiên, có những trường hợp ý kiến thiểu số lại là đúng. Do vậy nên cân nhắc sao cho quy định không quá cứng vì 3 người 3 ý kiến khác nhau thì ý kiến mỗi trọng tài viên, kể cả Chủ tịch Hội đồng trọng tài cũng chỉ khoảng 30%, tức là chưa quá bán. Pháp luật của Pháp quy định như thế nào về vấn đề này?

Ông Nguyễn Minh Chí

Việc phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài là hợp lý, bởi vì cuối cùng thì cũng phải có quyết định cuối cùng, hơn nữa Chủ tịch Hội đồng trọng tài lại do 2 trọng tài viên kia bầu ra. Không phải ngẫu nhiên là Luật mẫu UNCITRAL cũng như luật trọng tài các nước đều có quy định như vậy.

Bà Montineri

Về vấn đề này, chúng ta nghe thấy nói nhiều về tầm quan trọng của phán quyết trọng tài có nêu rõ căn cứ – khi có các ý kiến khác nhau và ý kiến của đa số được nêu rõ thì người ta hiểu được Trọng tài đã dựa vào đâu để đưa ra phán quyết.

Về vấn đề tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tôi thấy điều này đã được đề cập tới tại Điều 47.

Ông Ancel

Về việc đảm bảo bí mật, pháp luật Pháp quy định hết sức đơn giản. Một mặt, một quy định đơn giản là phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến đa số, Mặt khác, phán quyết được ký bởi tất cả trọng tài viên, tuy nhiên, nếu có trọng tài viên không ký thì điều này được ghi trong phán quyết trọng tài và phán quyết vẫn có hiệu lực như là được tất cả các trọng tài viên ký. Tuy nhiên, trong trường hợp 2/3 tổng số trọng tài viên không ký thì phán quyết trọng tài không đưa ra được vì không phải là theo ý kiến đa số. Trong trường hợp này, pháp luật Pháp không quy định rằng phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Như vậy, dự thảo Luật của các bạn quy định rằng phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài cho phép khắc phục được khó khăn là không đưa ra được phán quyết trọng tài.

Về việc nêu rõ lý do từ chối ký tên vào phán quyết trọng tài như quy định trong Dự Luật, điều này không được quy định trong pháp luật Pháp và tôi thấy không có tính thực tiễn. Ở Pháp, việc nêu ý kiến của thiểu số không được nhiều người ủng hộ, cũng giống như việc nêu lý do từ chối ký tên. Như vậy, pháp luật Pháp không quy định nhưng cũng không cấm làm việc đó. Theo như tôi được biết, tòa án chưa bao giờ từ chối thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài trong đó có nêu ý kiến thiểu số. Như vậy việc không nêu lý do từ chối ký tên vào phán quyết trọng tài không phải trái với trật tự công quốc tế.

Đại biểu

Việc 3 trọng tài viên có 3 ý kiến khác nhau là hiếm xảy ra thì chúng ta đã có van an toàn rồi – ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài là ý kiến cuối cùng, giống như chế độ trọng tài viên duy nhất như ông chuyên gia đã nói. Do vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta nên chấp nhận như vậy.

Về điều 62 – Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, có 2 phương án đề xuất, trong đó Phương án 1 là “không có Điều 62 về đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc”. Cần nêu rõ vì sao lại không đưa Điều này vào Dự Luật để có cơ sở để cân nhắc. Về phương án 2, quy định về việc đăng ký tại Tòa án chỉ nêu chung chung là để Tòa án hỗ trợ cho việc thi hành phán quyết trọng tài đó. Tôi thấy ở đây không có chuyện Tòa án hỗ trợ cho việc thi hành, vì cơ quan thi hành án thực hiện toàn bộ công việc này. Như vậy, đăng ký, hỗ trợ là như thế nào? Điểm thứ hai là Tòa án có phải có bộ phận riêng để thực hiện việc đăng ký, hỗ trợ này không, vì hiện tại chưa có bộ phận nào như vậy?

Về Điều 63 – Sửa chữa, giải thích phán quyết trọng tài, đây là điều quan trọng. Nếu như chúng ta chỉ sửa chữa lỗi tính toán, đánh máy sai. Tuy nhiên có những vấn đề phát sinh khác: “những lỗi kỹ thuật khác” là những lỗi kỹ thuật nào, lỗi kỹ thuật trong cách viết án hay trong đánh máy. 2 việc này khác nhau. Lỗi liên quan đến việc viết án – viết khó hiểu quá do trình độ viết không tốt – hoặc việc tuyên án – tuyên không rõ ràng nhưng không thi hành được, khác với lỗi kỹ thuật do đánh máy sai. Như vậy lỗi kỹ thuật ở đây cụ thể là gì? Trường hợp Tòa án tuyên hủy phán quyết do phán quyết được viết kém hoặc tuyên không rõ ràng, không thi hành được do trình độ của người lập phán quyết kém nên được xử lý như thế nào?

Về giải thích phán quyết trọng tài, việc giải thích ở đây dựa trên cơ sở nào và giá trị của nó ra sao? Cần làm rõ vì nếu không, có thể có các cách giải thích khác nhau, không biết đúng hay không, đặc biệt đây lại là giải thích để thi hành.

Đại biểu

Về Điều 62, tôi không hiểu tại sao lại đưa ra phương án 1 là không được đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc. Thực tế, trong Trọng tài vụ việc chỉ có 1 trọng tài viên duy nhất và người này ký phán quyết trọng tài thôi, do đó giá trị pháp lý của phán quyết này là không có, do vậy phải có sự đăng ký tại Tòa án. Theo tôi Phương án 2 của Điều 62 là hoàn toàn hợp lý, phải đăng ký, còn đăng ký như thế nào thì phải chờ Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành.

Về Điều 63, theo tôi có thể thực hiện sửa chữa – đây là sửa chữa từ ý này sang ý khác, sửa chữa nhận định mà không phải là sửa chữa câu chữ, nhưng Tòa án chỉ được phép đính chính – tức là chỉ sửa chữa những gì chưa chuẩn. Mặt khác, giải thích là giải thích trên cơ sở quyết định đã ra, có lập luận rõ ràng; khi cơ quan Thi hành án yêu cầu giải thích, nếu mà giải thích chưa rõ nữa thì cơ quan Thi hành án sẽ đề nghị Tòa án cấp trên xem xét lại theo trình tự Giám đốc thẩm.

Bà Montineri

Việc giải thích phải theo đúng ý đã được quyết định ban đầu. Điều này là hoàn toàn rõ ràng.

Trở lại vấn đề phán quyết trọng tài bổ sung, nếu như việc ra phán quyết bổ sung được một bên đề nghị, như trong Luật mẫu là phán quyết này được ra trong thời gian 60 ngày, do vậy việc ra phán quyết không làm chậm trễ tố tụng hay ảnh hưởng đến hành vi của những người liên quan. Lý do của việc nên có quy định về phán quyết trọng tài bổ sung là như sau: Trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài, nguyên đơn yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp với nhiều yêu cầu khác nhau nhưng Hội đồng trọng tài chỉ ra quyết định về một yêu cầu trong số đó. Những yêu cầu còn lại nguyên đơn không thể không thể kiện ra Tòa án vì đã có thỏa thuận trọng tài, và nguyên đơn cũng không được biết quyết định giải quyết đối với các yêu cầu này là như thế nào, các yêu cầu này đã được Hội đồng trọng tài thảo luận chưa hay hoàn toàn bị quên lãng khi chỉ có một trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp và do quá bận rộn trọng tài viên đã quên mất. Do vậy, quan trọng là phải đưa ra quy định về phán quyết trọng tài bổ sung để một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài quyết định về những yêu cầu chưa được giải quyết. Điều này cũng có thể liên quan đến bị đơn, bị đơn đã làm yêu cầu phản tố nhưng yêu cầu này không được giải quyết. Như vậy đây không hẳn là việc các bên muốn làm chậm chễ tố tụng trọng tài.

Ông Nguyễn Minh Chí

Về việc phán quyết của Trọng tài vụ việc có cần phải đăng ký hay không, cần xem đây là chế định bắt buộc hay là chế định tùy nghi. Luật mẫu của UNCITRAL nói rằng phán quyết của Trọng tài vụ việc có thể được đăng ký, như vậy là tùy nghi. Trong một vụ tranh chấp các bên đều nhất trí với phán quyết trọng tài và tự nguyện thi hành, vậy đăng ký với Tòa án để làm gì khi phán quyết trọng tài đã được thi hành. Do vậy chúng tôi cho rằng việc đăng ký không thể là một quy phạm bắt buộc. Hơn nữa, câu hỏi đặt ra là đăng ký để nhằm mục đích gì? Có quan điểm cho rằng đăng ký là để được bảo hộ về mặt pháp luật. Nhưng đó làm quan điểm sai. Trong mọi trường hợp, việc đăng ký đối với Trọng tài vụ việc là để được xác nhận sự việc là có một Hội đồng trọng tài đã được thành lập, tiến hành giải quyết vụ việc, để tránh việc về sau có bên phủ nhận việc này, tức là đăng ký để biết. Như vậy, quy định về việc Tòa án hỗ trợ phần nào có thể là đúng, nhưng về mặt tổng thể, tôi cho rằng dùng từ là chưa chuẩn, đúng hơn phải là đăng ký để biết.

Đại biểu

Pháp luật các nước về trọng tài không hề có quy định là phán quyết của Trọng tài vụ việc chỉ khi được đăng ký mới có giá trị và theo Công ước New York và BLTTDS, các phán quyết không được đăng ký vẫn được thi hành ở Việt Nam. Lý do của việc yêu cầu đăng ký là không ít cơ quan có quan điểm là Trọng tài vụ việc không phải là một tổ chức, không có tư cách pháp nhân, cho nên khi phán quyết trọng tài vụ việc sang cơ quan Thi hành án của Việt Nam, cơ quan Thi hành án sẽ không thi hành. Hơn nữa, việc này phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng quy định về việc bắt buộc đăng ký nhất thiết nên bỏ ra, mà nên đưa vào Dự Luật nội dung như được quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại.

Ông Nguyễn Minh Chí

Điều 62 của Dự Luật hơi mang tính khiên cưỡng vì theo pháp luật, việc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc không phải là bắt buộc. Hơn nữa, việc Tòa án hỗ trợ trong một số trường hợp là vô nghĩa (chẳng hạn, trường hợp phán quyết được ra tại Việt Nam và thi hành tại nước ngoài).

Đại biểu

Ở đây không phải là đăng ký tài sản, đăng ký tài sản là để công bố công khai và có giá trị đối kháng. Tuy nhiên, việc đăng ký ở đây xuất phát từ một tư duy quản trị công. Dù coi tài phán trọng tài là một thứ tài phán tư thì nó vẫn mang tính chất công vì phán quyết đó phải được công khai, nếu không được đăng ký vào một cơ quan quản trị của Nhà nước thì văn bản đó không được áp dụng trong toàn xã hội, tức là đó là tư duy đăng ký để đảm bảo trật tự công.

Ông Nguyễn Minh Chí

Tùy từng trường hợp mà đăng ký là bắt buộc hay không. Khi Trung tâm trọng tài thành lập phải có Quyết định cho phép thành lập của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, sau đó phải đăng ký với Sở Tư pháp trong vòng 30 ngày, nếu không sẽ bị thu hồi Giấy phép. Trường hợp này đăng ký là bắt buộc. Tuy nhiên, đăng ký phán quyết trọng tài thì pháp luật các nước và Luật mẫu đều không quy định là bắt buộc.

Đại biểu

Về điều 62, tôi cho rằng nên bỏ. Riêng về ý kiến coi là việc đăng ký chỉ là để xác nhận thì tại sao chúng ta lại không thiết kế giao cho công chứng làm? Tuy nhiên, tôi thấy việc này nên để cho các bên lựa chọn hơn là đưa vào trong Dự luật.

Ông Nguyễn Minh Chí

Ý kiến của bà Phương lại nảy sinh ra vấn đề thì vậy phán quyết trọng tài quy chế liệu có phải công chứng không trong khi hiện nay các phán quyết này không phải công chứng?

Ông Ancel

Luật pháp của chúng tôi không quy định về vấn đề này. Chỉ xin nêu rằng quy định như vậy có lẽ sẽ kéo lùi lại sự phát triển của Trọng tài, vì các bên, nhất là các bên nước ngoài, sẽ lo ngại là phán quyết trọng tài phải được đăng ký tại một cơ quan công quyền, đặc biệt khi một trong những lý do quan trọng của việc chọn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là tính bảo mật vì thường các bên không muốn cơ quan công quyền biết về việc tranh chấp của mình.

M. Chí

Như vậy các chuyên gia đều có ý kiến là không tán thành việc đăng ký bắt buộc.

Việc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc tại Tòa án sẽ có khó khăn như sau: Khác với việc đăng ký thành lập của Trung tâm trọng tài tại Sở Tư pháp – đây là công việc hành chính thuần túy và dễ thực hiện vì đã có cơ sở là Quyết định cho phép thành lập của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, còn Tòa án khi trước khi thực hiện đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc còn phải xem xét xem các bên có ký hợp đồng với nhau hay không, có thỏa thuận trọng tài hay không, những người ký kết có năng lực pháp luật và năng lực hành vi hay không, việc xử có thật hay không có thật, tại đâu…. như vậy là tăng gánh nặng cho Tòa án.

Bà Montineri

Về điều 66, theo khoản 3 việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài không phải là được thực hiện theo quy định của Công ước New York mà là của BLTTDS. Tại sao như vậy? Có phải là vì BLTTDS của Việt Nam lấy lại các quy định của Công ước New York, nhập quy định của Công ước New York vào luật Việt Nam hay không, hay có sự khác nhau gì giữa các quy định liên quan của Công ước New York và BLTTDS không? Theo tôi, quy định như vậy không tạo ra sự yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn thi hành phán quyết trọng tài ở Việt Nam hoặc muốn đến Việt Nam giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài bởi vì họ không hiểu rõ hệ thống pháp luật Việt Nam. Đó là lý do vì sao hầu hết các luật trọng tài hiện nay được đưa vào các nội dung về hủy phán quyết trọng tài, công nhận và thi hành phán quyết trọng tài…, trong nhiều trường hợp là đưa nguyên các quy định của Công ước New York.

Đại biểu

Đối với Việt Nam, phán quyết trọng tài nước ngoài được cưỡng chế thi hành theo Công ước New York được điều chỉnh theo BLTTDS của Việt Nam – tức là phải qua thủ tục công nhận và cho thi hành, còn đối với phán quyết trọng tài Việt Nam ban hành theo Luật Trọng tài này thì không phải qua thủ tục công nhận và cưỡng chế thi hành án mà được chuyển thẳng cho cơ quan Thi hành án như là một bản án của của Tòa án Việt Nam. Đấy là sự khác biệt rất cơ bản, và BLTTDS được thiết kế theo tinh thần của Công ước New York không có gì khác biệt lắm.

Bà Montineri

Theo Công ước New York, về việc đảm bảo thi hành án, Tòa án không có thẩm quyền xem xét lại phán quyết trọng tài về mặt nội dung và cơ sở của việc xem xét phán quyết lại rất hạn chế. Một lần nữa tôi không biết BLTTDS của Việt Nam quy định như thế nào, những người nước ngoài muốn thi hành phán quyết trọng tài ở Việt Nam cũng không biết. Tôi nghĩ rằng nếu các bạn quả thật muốn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài thì cần nêu rõ các nội dung này trong Luật trọng tài. Trở thành thành viên của Công ước New York là chưa đủ để đảm bảo yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài, cần phải tránh quy định dẫn chiếu đến các Luật trong nước khác. Nếu các bạn muốn phát triển tại Việt Nam các Trung tâm trọng tài như của Singapore hoặc Hồng Kông thì cần khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài ở Việt Nam hoặc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài ở Việt Nam bằng cách làm cho họ yên tâm là không phải phán quyết của Trọng tài nước ngoài trên cơ sở Công ước New York mà là phán quốc của Trọng tài quốc tế được thực hiện trong những điều kiện giống hệt hoặc gần như giống hệt với các điều kiện quy định tại Công ước New York. Do vậy mà hầu hết các Luật – các Luật này không phân biệt giữa trong nước và quốc tế – có một mục riêng về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài, quy định rằng phán quyết trọng tài trong nước của các bên trong nước được thực hiện theo quy định của BLTTDS, còn các phán quyết trọng tài quốc tế cũng như phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải được thực hiện theo quy định của Luật này, thường là chép lại Công ước New York.

Ông Nguyễn Minh Chí

Ý kiến của bà đúng nhưng cũng không mâu thuẫn với Dự Luật, chỉ khác nhau là ở chỗ một cách là quy định trực tiếp như bà nêu còn cách kia là quy định gián tiếp như trong Dự Luật. Bởi vì BLTTDS cũng như nhiều văn bản khác của Việt Nam đều có quy định việc công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tuân theo các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước New York. Sở dĩ không dẫn chiếu thẳng đến Công ước New York là vì trong BLTTDS đã có điều khác quy định về việc tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đại biểu

Điều 369 BLTTDS – Phiên họp xét đơn yêu cầu, khoản 4 quy định: “Hội đồng không xét xử lại vụ tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài giải quyết mà chỉ kiểm tra, đối chiếu quyết định của Trọng tài nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu kèm theo với các quy định của Bộ luật này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có liên quan để ra quyết định”. Như vậy Hội đồng sẽ không xét xử về mặt nội dung.

Ông Nguyễn Minh Chí

Thực ra ý của bà chuyên gia cũng có lý, vì người nước ngoài làm sao hiểu được BLTTDS của Việt Nam còn dẫn chiếu đến những văn bản nào nữa, do vậy cứ đưa vào Luật quy định là áp dụng công ước quốc tế nào thì sẽ rõ ràng hơn.

Đại biểu

Nhưng theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, vấn đề đã được quy định tại một luật sẽ không đưa vào luật khác nữa. Do việc áp dụng công ước quốc tế đã được quy định tai Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (quy định rằng trong trường hợp văn bản trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế), nên không được nhắc lại trong BLTTDS nữa.

Ông Ancel

Tôi xin bình luận thêm 2 ý về hủy phán quyết trọng tài (liên quan đến Điều 68).

Thứ nhất, trường hợp hủy thứ tư “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, theo tôi đây là quy định này có vấn đề là nó tạo ra cho Tòa án khả năng xét xử lại về mặt nội dung của vụ tranh chấp.

Thứ hai, trong các trường hợp hủy phán quyết trọng tài, còn thiếu trường hợp phán quyết trọng tài nước ngoài đã bị hủy tại nước gốc. Quy định trong dự thảo dẫn đến cách hiểu là phán quyết trọng tài đã bị hủy ở nước gốc vẫn thi hành được ở Việt Nam.

Bà Montineri

Tôi vẫn xin quay trở lại vấn đề dẫn chiếu đến BLTTDS của Việt Nam. Tôi thấy có lẽ sẽ là trái với luật quốc tế nếu một quốc gia ký kết công ước và quy định điều khác trong luật của mình. Các bạn nói là dẫn chiếu đến một luật khác cũng là áp dụng Công ước New York nhưng Dự Luật lại không nêu như vậy. Cho dù đây là vấn đề soạn thảo vì tôi hiểu rằng Công ước New York được áp dụng ở đây nhưng diễn đạt rằng BLTTDS Việt Nam áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các phán quyết của Trọng tài nước ngoài sẽ gây ngạc nhiên đối với cộng đồng quốc tế.

Điểm cuối cùng – vấn đề phán quyết trọng tài được ban hành ở Việt Nam trong đó một bên là nước ngoài, phán quyết này chắc hẳn được thi hành theo quy định của pháp luật Việt Nam. Quy định như vậy không thuận lợi đối với nhà đầu tư nước ngoài. Luật mẫu quy định rằng các phán quyết trọng tài đã được ban hành trong nước của mình – có yếu tố nước ngoài trong trường hợp của các bạn – được hưởng cùng chế độ như chế độ của Công ước New York hoặc một chế độ thuận lợi hơn trên phạm vi quốc tế nếu chế độ này tồn tại. Quy định này cần được nêu rõ để cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm. Điều đó thực sự tạo điều kiện cho các nước phát triển trọng tài quốc tế tại nước mình. Người nước ngoài đến giải quyết tranh chấp ở Việt Nam theo luật Việt Nam và phát triển Trung tâm trọng tài cần được đảm bảo là phán quyết trọng tài được đưa ra ở ViệtNam trong một khuôn khổ quốc tế.

Đại biểu

Về Điều 71 – trong luật về tố tụng trọng tài lại đặt ra một nguyên tắc hơi khác – dường như là tố tụng hình sự. Khoản 2 quy định Chánh án chỉ định Hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán, trong trường hợp này coi như là sơ thẩm. Thứ hai, trong đó một thẩm phán làm chủ tọa và mở phiên tòa để xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Trong trường hợp này, khi ra phiên tòa, các bên liên quan có quyền yêu cầu thay đổi Hội đồng đó không? Nếu có thì giải quyết thế nào? Nếu không thì cũng đề nghị ghi rõ. Điểm nữa là về việc bên yêu cầu vắng mặt – bên yêu cầu ở đây tức là người đại diện theo ủy quyền hoặc đại điện theo pháp luật, nếu luật sư vắng mặt, Hội đồng xét xử có tiếp tục phiên tòa hay không hay là phải hoãn? Mặt khác, có đình chỉ việc xét đơn yêu cầu không khi chưa xác định được lý do của việc vắng mặt là chính đáng hay không chính đáng. Cần quy định rõ những vấn đề này vì đây là những trường hợp sẽ xảy ra trên thực tế. Ngoài ra, liên quan đến việc thay đổi người tiến hành tố tụng, các bên có thể yêu cầu thay đổi được không khi mà Hội đồng xét xử đã do Chánh án chỉ định? Đây là những băn khoăn rất lớn của tôi.

Đại biểu

Tôi thấy rằng có 2 hướng. Một là theo BLTTDS Việt Nam. BLTTDS đã có quy định “phiên họp xét giải quyết tranh chấp trọng tài…” rồi. Theo hướng đó phải ghi rõ ràng là “Thủ tục xem xét và huỷ phán quyết trọng tài theo quy định của BLTTDS Việt Nam”. Ở đây không có quy định như vậy. Hướng thứ hai là nếu áp dụng theo thủ tục riêng thì cần phải quy định rõ thủ tục đó tại đây.

Khoản 2 Điều 71 cũng cần phải xem lại.

Ngoài ra, nếu quy định thủ tục riêng cho việc xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nên chăng là chỉ cần 1 cấp – cấp sơ thẩm thôi, vì đã 3 thẩm phán xử rồi, có cần thiết phải lên thủ tục phúc thẩm không trong khi giám đốc thẩm đã bỏ? Như vậy sẽ làm cho việc giải quyết bằng Trọng tài sinh động hơn, nhanh hơn.

Ông Nguyễn Minh Chí

Cần phân biệt là Tòa án khi giải quyết những vụ việc dân sự thì dứt khoát phải dựa vào BLTTDS còn Trọng tài khi xử lý các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Trọng tài thì phải theo Luật Trọng tài. Nhưng giữa 2 bên có thể có những điểm giao thoa, chẳng hạn khi Hội đồng trọng tài chưa được thành lập mà một bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải áp dụng nhưng tôi cho rằng trong trường hợp này, Tòa án thực hiện những nhiệm vụ mà Luật Trọng tài quy định phải làm, do vậy phải theo quy định của Luật Trọng tài.

Thứ hai, việc xem xét Hội đồng trọng tài có thẩm quyền hay không, thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không thì Chánh án chỉ giao cho một thẩm phán xem xét, quyết định và quyết định của thẩm phán là chung thẩm – điều này không nằm trong phạm trù của BLTTDS. Giờ đến vấn đề quan trọng hơn là thành lập Hội đồng xét xử để hủy hoặc công nhận phán quyết trọng tài thì ở đây, có hai hướng được đề xuất: Hướng thứ nhất là Hội đồng xét xử áp dụng theo đúng quy định Luật Trọng tài; hướng thứ hai là phải theo đúng quy định của BLTTDS. Theo tôi tốt nhất không theo quy định của BLTTDS vì sẽ kéo dài thời gian, nhiều cấp, có thể cả tái thẩm, phức tạp nên tôi ủng hộ hướng thứ nhất.

SOURCE: NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Trích dẫn từ: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2681

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: