Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

TS. PHẠM ĐÌNH THÀNH

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta được quy định tại Luật BHXH và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009. Để giúp bạn đọc thấy rõ hơn về hiện trạng thị trường lao động Việt Nam cũng như các chính sách tác động đến thị trường lao động đã và sẽ thực hiện, chúng tôi giới thiệu những lý luận cơ bản về chính sách việc làm, chính sách thị trường lao động ở các nước công nghiệp đã phát triển để từ đó so sánh và đưa ra những giải pháp thích hợp cho việc tổ chức thực hiện và hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.

Vị trí của thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường người ta phân chia ra nhiều thị trường khác nhau theo phạm vi, nội dung và tính chất hoạt động riêng biệt của từng loại “hàng hoá”. Nhưng tựu chung lại, có thể thấy được 3 loại thị trường khái quát, mang tính đại diện, đó là thị trường hàng hóa, thị trường tư bản (thị trường tiền tệ) và thị trường lao động. Một nền kinh tế thị trường đầy đủ sẽ thể hiện sự phát triển đồng bộ của cả 3 thị trường này và đặc biệt sẽ thấy rõ được mối quan hệ tác động tương hỗ chặt chẽ giữa các thị trường theo mô hình sau (Bảng biểu trang 19).

Khởi điểm của mọi quá trình xem xét được bắt đầu từ thị trường hàng hoá. Mỗi quá trình sản xuất sẽ ứng với một nhu cầu nhất định về sức lao động, hay nói cách khác nhu cầu về sức lao động phụ thuộc vào việc sản xuất hàng hoá – gọi là “cầu về lao động”. Thị trường hàng hoá thay đổi theo nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, nhưng nó lại phụ thuộc lớn vào vấn đề đầu tư và sự hoạt động tích cực của thị trường tiền tệ cũng như thị trường vốn. Sự thay đổi của tỷ lệ lãi suất có tác động mạnh mẽ đến thị trường hàng hoá: lãi suất cao thì không khuyến khích được sản xuất, thậm chí còn kìm hãm phát triển sản xuất và đi cùng với nó là sự giảm về nhu cầu lao động, có thể giảm cả chỗ làm việc.

Ngược lại nếu đầu tư với tỷ lệ lãi suất tương đối thấp sẽ khuyến khích phát triển sản xuất, nhất là trong thời vận kinh tế đi xuống (điều này đã và đang được minh chứng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay) người ta phải giảm tỷ lệ lãi suất – đây được coi là các biện pháp tích cực nhằm cứu vãn hoặc duy trì sản xuất. Đồng thời tỷ lệ lãi suất thấp sẽ khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Đi cùng với đầu tư phát triển sản xuất là nhu cầu tăng thêm về lao động và có thể tạo ra nhiều chỗ làm việc mới. Ngược lại nguồn sức lao động lại là cơ sở cần thiết đối với quá trình sản xuất, phát triển kinh tế. Đương nhiên, người lao động không có khả năng lao động và không tự nguyện làm việc thì không duy trì được sản xuất hàng hoá. Tương tự như vậy, nếu thu nhập của người lao động không đảm bảo (tiền lương hoặc tiền công thấp) sẽ không kích thích được nhu cầu tiêu dùng, mua sắm hàng hoá, dịch vụ. Điều này có thể được coi là động cơ thiết thực hoặc được coi là mục đích trực tiếp nhằm thúc đẩy sản xuất và phát triển dịch vụ. Như vậy thị trường lao động giữ vai trò đồng bộ trong sự phát triển hay suy thoái và chịu sự tác động tương hỗ trong nền kinh tế thị trường. Trung tâm của các hoạt động trên thị trường lao động là các quá trình cung và cầu về lao động mà trong đó sức lao động được điều chỉnh trước hết theo sự phát triển kinh tế, nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ. Sức lao động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường tương tự như một hàng hoá – hàng hoá đặc biệt – hàng hoá sức lao động mà tiền lương (tiền công) là giá cả của loại hàng hoá đặc biệt đó và cơ sở giá trị của nó được xác định thông qua quan hệ cung – cầu. Quá trình này được diễn ra một cách tự nhiên khác với quá trình sản xuất sản phẩm vật chất thông thường; nó là sự thoả thuận (hợp đồng trên cơ sở các quy định luật pháp về lao động) giữa người sử dụng lao động và người lao động với sự ổn định tương đối cao nhằm bảo vệ người lao động. Như vậy, mọi quyết định về lao động không chỉ do yếu tố kinh tế mà còn các quan hệ về chính trị, xã hội và tâm lý cùng tác động. Khi đó thị trường lao động không chỉ là biểu hiện về mặt kinh tế mà là sự biểu hiện đồng bộ về kinh tế – xã hội. Do vậy, khi bàn đến thị trường lao động người ta không chỉ đề cập đến vấn đề kinh tế đơn thuần mà phải quan tâm đầy đủ đến mọi yếu tố tâm, sinh lý cũng như sự phát triển toàn diện của con người.

Việc làm và định hướng chính sách việc làm của một số nước

Việc làm được hiểu là toàn bộ các hoạt động lao động của con người trong khuôn khổ pháp luật cho phép nhằm tạo ra thu nhập. Với quan điểm này, kể từ khi cải cách kinh tế ở nước ta đến nay nhiều việc làm đã được tạo ra trong các thành phần kinh khác nhau và vị trí của người lao động ở các thành phần kinh tế khác nhau đã được bình đẳng trên cơ sở Luật lao động và Luật BHXH và BHYT. Đến nay, điều mà người lao động cần quan tâm nhiều hơn đó là việc làm có phù hợp với khả năng và yêu cầu hay chưa, có ổn định lâu dài hay chỉ tạm thời và mức thu nhập đã được thoả mãn chưa.

Chính sách việc làm có thể được hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các biện pháp kinh tế tích cực của Nhà nước hoặc tư nhân tác động đến việc làm trong mối quan hệ với các yếu tố sản xuất. Tuy nhiên, ở đây chỉ xem xét đến việc làm của người lao động phụ thuộc (người lao động không có tư liệu sản xuất phải đi làm công hưởng lương).

Cũng có thể hiểu một cách khái quát hơn: chính sách việc làm là tổng hợp các biện pháp của các cơ quan Nhà nưc chịu trách nhiệm khác nhau về chính sách kinh tế và xã hội, nhằm đạt được trạng thái việc làm cao theo nghĩa mọi người lao động, có khả năng lao động và có nguyện vọng lao động đều được làm việc.

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách việc làm là một phần mục tiêu của chính sách kinh tế. Để đạt được mục tiêu đã nêu thì chính sách kinh tế tổng thể của Nhà nước gồm: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách ngoại tệ, chính sách ngoại thương cũng như chính sách cơ cấu kinh tế… tác động mạnh mẽ đến tình trạng việc làm trong xã hội. Tuy vậy, trong chính sách việc làm người ta đặc biệt quan tâm đến các yêu cầu của người lao động:

– Đảm bảo tự do lựa chọn nghề nghiệp và chỗ làm việc.

– Có nhiều việc làm có giá trị cao và xoá bỏ dần các việc làm có giá trị thấp, nghĩa là người lao động được làm việc phù hợp với trình độ chuyên môn của họ, mặt khác đòi hỏi trình độ chuyên môn của người lao động phải được nâng cao. Các điều kiện về chỗ làm việc, về tổ chức lao động và môi trường lao động phải phù hợp với đòi hỏi của con người.

Chính sách tài chính bao gồm: các khoản chi của Nhà nước cho các tổ chức quản lý sức lao động, các khoản phúc lợi xã hội và các khoản chi khác và các khoản thu từ thuế và các nguồn thu khác. Thông qua kết quả thu thuế và tăng các khoản chi thiết thực sẽ cải thiện được cung về chỗ làm việc. Chính sách thuế có ý nghĩa quyết định cho các doanh nghiệp và người lao động về khả năng cạnh tranh chỗ làm việc và tiền lương khi ký kết. Việc tăng lương cũng không thể tăng cao hơn khả năng đóng góp để cải thiện hiện trạng việc làm chung. Chính sách tiền tệ có thể đưa ra một lãi suất thấp, nhờ vậy mở rộng một lượng tiền cho vay và do vậy tăng chi cho đầu tư sản xuất. Đương nhiên, việc mở rộng đến đâu phải tính đến hiệu quả và hệ số an toàn. Chính sách ngoại thương góp phần tạo ra việc làm thông qua việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu những hàng hoá trong nước có thể sản xuất được. Chính sách cơ cấu của Nhà nước theo vùng, theo ngành gắn với nhiệm vụ đảm bảo tăng trưởng kinh tế với việc làm cao, khuyến khích chuyển đổi kỹ thuật của vùng, của ngành qua đó khuyến khích thay đổi cơ cấu sức lao động. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước có tỷ lệ phát triển dân số cao, chính sách việc làm còn đề cập đến cả các biện pháp điều chỉnh dân số, thậm chí cả những biện pháp mạnh mẽ của chương trình kế hoạch hoá gia đình. Ngược lại, đối với các nước kinh tế phát triển, dân số tăng trưởng thấp lại luôn khuyến khích tăng dân số nhằm đảm bảo nguồn lao động cho tương lai.

Một công cụ khác của chính sách việc làm là việc rút ngắn thời gian làm việc được Công đoàn ủng hộ một cách đặc biệt. Nguyên nhân khá đơn giản là với một tổng số nhu cầu lao động nhất định thì việc rút ngắn thời gian làm việc sẽ làm tăng số chỗ làm việc. Vấn đề đặt ra là mức rút ngắn thời gian lao động là bao nhiêu là phù hợp và khi rút ngắn thời gian làm việc thì tiền lương không bị giảm và như vậy mới ngăn cản việc giảm sức mua trong xã hội.

Việc vận dụng các công cụ của chính sách việc làm phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nước, trong từng giai đoạn nhất định như: hiện trạng kinh tế, mức độ việc làm chung và tình trạng thất nghiệp…

Dưới đây là một số hướng chiến lược việc làm của một số nước:

Hoa Kỳ luôn mở rộng tính lưu động trên thị trường lao động và sử dụng chế độ tiền lương mềm dẻo trên cơ sở thu hẹp tác động của tổ chức công đoàn nhằm dẫn đến sự thích ứng nhanh chóng giữa cung và cầu cũng như làm giảm một phần thất nghiệp dài hạn.

Nhật Bản – theo truyền thống – có ưu việt về phát triển chỗ làm việc. Kết quả này dựa trên một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và quá trình nổi bật của xuất siêu hàng hoá. Sự phát triển của thị trường lao động Nhật Bản trong tương lai thực sự phụ thuộc vào nhu cầu tăng cao nhu cầu lao động trong nước do không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu. Xuất siêu kéo dài là chiến lược cơ bản của chính sách khuyến khích việc làm. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng chiến lược này đồng nghĩa với việc xuất khẩu nạn thất nghiệp và sẽ là gánh nặng cho những nước nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản.

Ở CHLB Đức, dựa trên nền tảng của đạo luật về sự ổn định, người ta đã khẳng định con đường phát triển kinh tế phải gắn với sự đồng bộ của mức độ việc làm cao. Định hướng này đã đạt được kết quả cả trong sự phát triển kinh tế và tạo nhiều việc làm cũng như khắc phục được sự chênh lệch gia các vùng. Đối với các nước đang phát triển, tồn tại nhiều thành phần kinh tế thì chiến lược vẫn là khẳng định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế công cộng và đó là nơi trực tiếp tạo ra nhiều chỗ làm việc. Ở nhóm các nước này luôn đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế trong mối quan hệ với sự phát triển hợp lý về dân số và định hướng cơ bản của chính sách việc làm là sử dụng tối ưu khả năng của nguồn lao động và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội, thể hiện trong các dự án phát triển kinh tế thì mục tiêu lớn nhất phải là số chỗ làm việc cần được tạo ra. Ngay cả chính sách xoá đói giảm nghèo cũng phải dựa trên cơ sở tạo việc làm, khuyến khích sản xuất để giúp người nghèo tích cực lao động để thoát khỏi sự nghèo đói…

Hệ thống chính sách thị trường lao động

Về mặt khái niệm, thị trường lao động được hiểu là nơi diễn ra các quan hệ trao đổi mang tính cụ thể, lưu động về hoạt động lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong đó kết quả lao động được mang lại bằng tiền lương (tiền công) cho người lao động. Thị trường lao động cũng thể hiện sự điều chỉnh đặc biệt và hợp lý các điều kiện kinh tế, xã hội nhằm thực hiện đúng giá trị được tạo ra từ lao động của con người.

Trên thị trường lao động, các khả năng và điều kiện về việc làm cần được tác động đầy đủ nhằm đảm bảo không bị gián đoạn và luôn có lợi cho người lao động, đặc biệt là về tiền lương và thời gian lao động. Sự cần thiết của chính sách thị trường lao động được đặt ra xuất phát từ những điều kiện cần thiết khi đánh giá sức lao động dưới góc độ thị trường cũng như các khả năng lao động, thời gian lao động, thu nhập và các mối quan hệ về môi trường lao động có tác động mạnh mẽ đến những điều kiện tồn tại cũng như điều kiện về cung lao động.

Chính sách thị trường lao động là tổng hợp các biện pháp tác động trực tiếp đến các quan hệ cung và cầu trên thị trường lao động nhằm ổn định tình trạng việc làm với mức độ cao cùng với đầy đủ giá trị và theo cơ cấu cân đối cũng như khuyến khích sự hoà nhập nghề nghiệp của các nhóm lao động yếu thế trong xã hội.

Giữa chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động cũng có điểm chung và sự khác nhau về vị trí và tác dụng trong hệ thống chính sách. Cả hai chính sách này đều tạo mở và khuyến khích các khả năng tốt nhất cho việc làm cả về số lượng và chất lượng. Chính sách việc làm của Nhà nước sẽ tác động tổng thể đến mức độ việc làm. Nó tác động trước hết thông qua sự điều tiết tổng nhu cầu kinh tế và các điều kiện cung lao động, tạo ra sự tương thích giữa cung – cầu về lao động. Các chính sách phát triển, chính sách cơ cấu,chính sách tiền tệ, chính sách thuế, chính sách vùng và cả chính sách ngoại thương được sử dụng như là công cộng của chính sách việc làm. Bên cạnh đó chính sách thị trường lao động trước hết tác động trực tiếp đến cơ cấu cung và cầu trên thị trường lao động. Nó khuyến khích sự lưu động nghề nghiệp và không gian làm việc. Công cụ của chính sách thị trường lao động là Luật Khuyến khích việc làm, Luật Lao động, luật về đào tạo nghề, về điều kiện bảo hộ lao động và thời gian lao động. Như vậy chính sách thị trường lao động không chỉ hỗ trợ cho chính sách việc làm mà còn có khả năng phát triển độc lập, tạo ra cơ hội việc làm, ổn định việc làm và nâng cao chất lượng nghề nghiệp của người lao động.

Việc hiểu biết đầy đủ về vai trò của từng công cụ trong các chính sách sẽ giúp cho các nhà chính trị biết lựa chọn sử dụng công cụ nào, trong thời điểm nào là cần thiết cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng nước cũng như thích ứng với thời vận kinh tế chung của thế giới nhằm đạt được trạng thái việc làm cao.

Chính sách thị trường lao động sẽ bao gồm chính sách thể chế và chính sách quá trình. Các thị trường lao động luôn đòi hỏi về thể chế vì các điều kiện cụ thể của hợp đồng lao động luôn đặt ra một cách công bằng theo khuôn mẫu mang tính vật chất như: những ràng buộc trách nhiệm của người lao động, về tư liệu sản xuất và điều kiện làm việc, về tiền lương và các quyền lợi khác cũng như lợi ích sản xuất có thể mang lại cho người sử dụng lao động… Mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động chịu sự tác động cơ bản từ quyền sở hữu tư liệu sản xuất, từ luật doanh nghiệp, từ các quy định về chế độ làm việc cũng như các thẩm cấp và thẩm quyền của chính sách thị trường lao động. Nhằm ngăn chặn sự xuất hiện cũng như xoá bỏ sự mất cân đối cơ cấu trên thị trường lao động, người ta ưu tiên sử dụng công cụ định hướng cân bằng cung và cầu lao động. Công cụ này thuộc về chính sách quá trình với xu hướng là chỗ làm việc hiện có luôn được chiếm giữ bởi những người lao động phù hợp nhất và đạt hiệu quả nhất (phân bố tối ưu yếu tố lao động).

Chính sách thị trường lao động còn được chia ra theo tính chất hoạt động của nó gồm chính sách chủ động và chính sách bị động nhằm thích ứng một cách có hiệu quả giữa cung và cầu về lao động và đảm bảo đời sống của người lao động khi bị thất nghiệp, tạo điều kiện cho họ sớm tái hoà nhập vào thị trường lao động. Các công cụ tác động đến cầu về lao động và cung về sức lao động gồm:

– Chính sách giữ chỗ làm việc;

– Khuyến khích vai trò và tác động của các đối tác tham gia trong quá trình lao động (Giới chủ và Công đoàn) đến thị trường lao động;

Chính sách thị trường lao động đặc biệt quan tâm đến nhóm “ người lao động yếu thế” trong xã hội. Họ là những người bị tổn thương về sức khoẻ, về tinh thần hoặc có thương tật nên khó tìm được việc làm; là những người lớn tuổi, nhất là phụ nữ tuổi ngoài 45 trở lên; là thanh niên chưa được đào tạo nghề nghiệp… Các khả năng có thể cải thiện cơ hội nhận được việc làm cho họ là:

– Chi trả tiền trợ cấp đào tạo cho người sử dụng lao động để họ đào tạo tại doanh nghiệp những người khiếm khuyết về thể xác hoặc tinh thần;

– Chi trả khuyến khích nghề nghiệp cho doanh nghiệp khi họ nhận người tàn tật vào làm việc;

– Khuyến khích tạo việc làm thích hợp cho người thất nghiệp dài hạn;

– Trợ cấp của Nhà nước về chi phí tiền lương giúp cho các doanh nghiệp giữ lại làm việc đối với người lớn tuổi nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu…

Còn tiếp >>>

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 2B VÀ 3A NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: