QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG CHƯA ĐƯỢC BẢO ĐẢM

NGUYỄN THÁI QUÍ

Quy định về quyền của người làm chứng là một trong những điểm mới và tiến bộ của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS). Song, đã gần 5 năm triển khai thực hiện, quy định mới này vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống.

Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án mà Tòa án giải quyết. Do đó, lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây, khi tham gia tố tụng người làm chứng chỉ có nghĩa vụ khai báo trung thực mà không có bất kỳ quyền lợi gì. Khắc phục những hạn chế đó, tại Điều 66 BLTTDS không chỉ quy định cụ thể nghĩa vụ mà đã bổ sung thêm các quyền của người làm chứng, đó là: quyền được hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật; quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Đây là điểm tiến bộ của BLTTDS, tuy nhiên do mang tính nửa vời nên các quy định này khó thực thi.

Thứ nhất, về chi phí cho người làm chứng. Khác với tố tụng hình sự, trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, do đó Điều 143 BLTTDS quy định: “Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm chứng do đương sự chịu”. Cụ thể là: “Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng, nếu lời làm chứng phù hợp sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trong trường hợp lời làm chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng thì chi này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị chịu”.

Hiểu một cách đơn giản thì, người phải chịu chi phí làm chứng là người thua kiện. Như vậy, việc xác định ai là người phải chịu chi phí làm chứng chỉ thực hiện được sau khi Tòa án giải quyết vụ án, cụ thể là sau khi Hội đồng xét xử nghị án về các vấn đề phải giải quyết trong vụ án. Quy định về căn cứ xác định người chịu chi phí làm chứng rất hợp lý, nhưng đã nảy sinh vướng mắc khi áp dụng. Đối với chi phí cho người làm chứng, BLTTDS không quy định đương sự phải nộp tiền tạm ứng trước, nên việc buộc đương sự thực hiện nghĩa vụ nộp tiền chi phí làm chứng chỉ có thể thực hiện sau khi Tòa án đã giải quyết xong vụ án. Nhưng thực tế, việc yêu cầu một người thua kiện phải chịu thêm một khoản tiền chi trả cho người làm chứng là điều rất khó. Vấn đề đặt ra là, trong trường hợp họ không tự giác nộp tiền chi phí cho người làm chứng thì cơ quan nào có quyền cưỡng chế thi hành? Việc cưỡng chế theo thủ tục tư pháp hay hành chính? Việc cưỡng chế theo thủ tục tư pháp (do Cơ quan Thi hành án Dân sự thực hiện) chỉ được thực hiện khi khoản tiền đó được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án và chỉ có đương sự mới có quyền yêu cầu thi hành án (người làm chứng không phải là đương sự trong vụ án). Trong khi đó, Điều 238 của BLTTDS về bản án sơ thẩm và mẫu bản án ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31.3.2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ quy định về án phí mà không đề cập đến các chi phí tố tụng khác; tư cách người làm chứng cũng không được ghi vào bản án. Nếu cưỡng chế theo thủ tục hành chính lại càng không ổn, bởi không có căn cứ pháp luật và đây không phải là hoạt động liên quan đến quản lý hành chính nhà nước.

Thứ hai là việc bảo vệ cho người làm chứng. Nếu lời khai của người làm chứng có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, thì đồng nghĩa với việc sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của một trong các bên đương sự, nên không tránh khỏi nguy cơ bị trả thù khi đương sự là những người có bản tính côn đồ hung hãn. Tại khoản 6 Điều 66 của BLTTDS quy định người làm chứng có quyền “yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng”. Quy định này rất khó thực hiện. Bởi, với chức năng là cơ quan xét xử, số lượng công việc nhiều lúc quá tải, trong khi biên chế ít lại không được đào tạo nghiệp vụ bảo vệ, Tòa án khó có thể đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ người làm chứng. Còn “cơ quan nhà nước có thẩm quyền” là cơ quan nào thì còn bỏ ngỏ.

BLTTDS mới chỉ mới quy định các quyền cơ bản của người làm chứng mà chưa đưa ra được cách thức, biện pháp cụ thể để thực thi các quyền đó. Bộ Luật đã có hiệu lực gần 5 năm nay, nhưng các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa ban hành văn bản dưới luật để quy định và hướng dẫn cụ thể vấn đề này. “Quy định treo” như vậy nên người làm chứng vẫn “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” và chưa có “bùa hộ mệnh” để yên tâm khi tham gia tố tụng. Cũng vì vậy mà người làm chứng thường trốn tránh việc tham gia tố tụng, gây ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Toà án.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

Trích dẫn từ:

http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66

/CatID/7/ContentID/91174/Default.aspx

Advertisements

One Response

  1. Tôi muốn hỏi, Khi cho thuê nhà mà k biết nguoi ta thuê để làm chuyện phi pháp, Về sau nay moi biết khi Công an truy lun toi. Như vậy tôi có cho vào tôi bao che không? Có bị giam giữ k?

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: