TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: KHÓ ĐÒI TIỀN VÌ KHÔNG HẸN NGÀY TRẢ?

HOÀNG LAM

Bên cho mượn có quyền nộp đơn khởi kiện bất cứ lúc nào để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp.

Chị Nguyễn Thị Thu Liễu (quận Tân Phú, TP.HCM) đang thấp thỏm vì số tiền 25 ngàn đôla Mỹ chị cho mượn đã lâu nhưng chẳng biết khi nào mới đòi lại được. Năm 2007, chị Liễu cho người quen mượn số tiền trên, không lập hợp đồng, không tính lãi suất cũng không hẹn ngày trả nợ. Tuy nhiên, người mượn có ký vào giấy nhận tiền, ghi rõ đã nhận từ chị Liễu 25 ngàn đôla Mỹ vào hai đợt là tháng 8 và tháng 11-2007.

Chị Liễu kể, từ khi cho mượn tiền đến nay đã nhiều lần đòi nợ nhưng người mượn liên tục trì hoãn. Người này nói khi giao tiền, chị Liễu không hẹn ngày trả nợ nên bên mượn có quyền trả lúc nào cũng được. Chị Liễu bức xúc khi người mượn nói bao giờ bán được nhà mới trả nợ.

Theo Bộ luật Dân sự, chị Liễu và người mượn đã thiết lập hợp đồng mượn tài sản, trong đó đối tượng của hợp đồng là tiền. Bộ luật này có điều chỉnh cách giải quyết đối với hợp đồng mượn tài sản không thỏa thuận thời hạn trả. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 514, nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được. Khoản 1 Điều 517 cũng quy định bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn. Nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.

Theo Civillawinfor, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, chứ không phải là tranh chấp hợp đồng mượn tài sản như nội dung bài viết phân tích.

Luật sư Trần Công Ly Tao (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết luật không định rõ thời gian hợp lý để đòi lại tài sản là bao lâu nhưng cần căn cứ vào khả năng tài chính, huy động tiền để trả nợ của bên mượn để xác định khoảng thời gian hợp lý, có thể là ba tháng. Nếu bên mượn vẫn không trả nợ, bên cho mượn có quyền nộp đơn khởi kiện bất cứ lúc nào để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp giữa hai bên. Giấy nhận tiền do bên mượn viết và ký tên là bằng chứng quan trọng để chị Liễu dễ dàng thắng kiện.

Cần lưu ý thêm, Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối hạn chế sử dụng ngoại hối. Điều luật này quy định: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với các tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, ủy thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác được Thủ tướng cho phép.

Với quy định trên, giao dịch cho mượn 25 ngàn đôla Mỹ giữa hai bên đã vi phạm điều cấm của pháp luật. Trường hợp các bên không dàn xếp được và khởi kiện ra tòa, nhiều khả năng tòa án sẽ căn cứ vào Điều 128 Bộ luật Dân sự để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Để giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ:

http://www.phapluattp.vn/20091204112214681p0c1027/kho-doi-tien-vi-khong-hen-ngay-tra.htm

Advertisements

2 Responses

  1. Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và có thể áp dụng để giải quyết theo khoản 4 Điều 474, khoản 1 Điều 477 BLDS 2005. Theo tôi, việc người viết cho rằng đây là HĐ mượn tài sản là không đúng nếu xét ở đối tượng hợp đồng.

  2. Theo tôi thì bạn Đặng Văn Tâm phải nêu căn cứ để cm rằng tại sao bạn lại cho đây là HĐ vay TS ???
    Tuy nhiên tôi đồng ý với ý kiến bạn cho rằng đây là hợp đồng vay TS vì ở đây có sự chuyển giao quyền sở hữu : Chiếm hữu , sử dụng, định đoạt còn mượn thì đối tượng chỉ có quyền chiếm hữu, sử dunhj chứ ko có quyền định ddoaitj.

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: